Tải bản đầy đủ
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ

4

đào thải ra ngoài qua cổ nang lông. Trong trứng cá, các tế bào này kh ông
được đào thải sẽ gây bít tắc, làm cổ nang lông hẹp lại, ngăn chặn sự phát
triển của chất nhờn trong lòng ống, từ đó gây tích tụ chất nhờn và làm phình
tuyến bã [1], [2], [5]
1.1.1.3. Sự gia tăng hoạt động của vi khuẩn Propionibacterium acnes
Vi khẩn P.acnes là một dạng trực khuẩn đa dạng và kị khí, hiện diện rất
nhiều trên da của bệnh nhân trứng cá. Sự bít tắc cổ nang lông đã tạo điều kiện
thuận lợi cho vi khuẩn P.acnes sinh sôi, phát triển. Các vi khuẩn này sẽ
chuyển hóa các acid béo tự do có trong tế bào chết và chất nhờn bị tích tụ làm
viêm tấy nang lông và cổ nang lông tạo nên mụn trứng cá dạng sẩn, mụn mủ,
cục và nang [6].
1.1.1.4. Các yếu tố gây viêm khác
Vi khuẩn P.acnes có khả năng phân huỷ lipid, giải phóng acid béo tự do
gây viêm mạnh. Điều này đã được chứng minh trong thực nghiệm bằng cách
tiêm P.acnes sống vào trong các nang chứa đựng toàn acid béo đã este hoá.
Sau khi tiêm, các nang này bị vỡ, các tổ chức xung quanh bị viêm tấy nhiều.
Ngược lại, nếu tiêm các P.acnes chết vào các nang nói trên thì thấy hiện tượng
viêm không đáng kể, kể cả khi tiêm P.acnes vào trung bì cũng chỉ gây viêm
nhẹ hoặc trung bình mà thôi. Thí nghiệm đã chứng minh rằng men lipase của
P.acnes sống đã phân huỷ lipid, giải phóng acid béo tự do, gây viêm rõ rệt ở
tổ chức dưới da [7],[8]
Những vi khuẩn này tiết ra men: hyaluronidase, protease, lipase
lecitinase có khả năng gây viêm và các yếu tố hoá ứng động bạch cầu. Các
yếu tố hoá ứng động bạch cầu sẽ giải phóng hydrolase thấm vào thành và làm
yếu thành nang lông gây viêm và vỡ cùng nhân trứng cá vào lớp trung bì.
Phản ứng viêm hình thành trứng cá sẩn, mụn mủ, cục và nang [7],[8]

5

SINH BỆNH HỌC
Tăng tiết bã

Trứng cá

Dày sừng cổ nang
lông tuyến bã

Thâm nhiễm viêm

Nhiễm khuẩn
P.acnes
Yếu tố liên quan
Thức ăn, stress,
thời tiết
\
Sơ đồ 1.1: Cơ chế bệnh sinh trứng cá
1.1.2. Các thể lâm sàng của bệnh trứng cá
1.1.2.1. Trứng cá thông thường

Bệnh trứng cá thông thường phổ biến ở cả hai giới đặc biệt lứa tuổi
thanh thiếu niên. Các tổn thương khu trú ở vùng da mỡ như ở mặt, trán, cằm,
ngực, lưng, vai. Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, có thể là nhân trứng cá, sẩn
đỏ, sẩn mụn mủ, mụn mủ, cục, nang viêm tấy đỏ và ổ áp xe nông sâu tuỳ
thuộc vào tác động của các yếu tố như tăng tiết bã nhờn, dày sừng cổ tuyến
bã, phản ứng viêm, rối loạn thành phần chất bã và hoạt động của vi khuẩn.
Các loại tổn thương này không phải thường xuyên kết hợp với nhau và có đầy
đủ trên một bệnh nhân [1], [8], [9], [10], [11], [12], [13].

Hình 1.1: Trứng cá thể thông thường

6

1.1.2.2. Trứng cá mạch lươn
Bệnh thường bắt đầu sau tuổi dậy thì và kéo dài tiếp những năm sau đó,
bệnh gặp chủ yếu ở nam giới. Hay gặp tổn thương ở gáy, da đầu, quanh hậu
môn, mông, mặt, lưng, ngực. Khởi đầu các mụn mủ ở nang lông, to dần và
loét, các ổ mủ có thể nông, sâu tạo cục viêm từng cụm 2-3 cái, thành hang hốc
với nhiều lỗ dò, tổn thương có dịch vàng nhày lẫn máu. Bệnh thường tiến
triển dai dẳng, điều trị còn nhiều khó khăn [14].

Hình 1.2: Trứng cá mạch lươn
1.1.2.3. Trứng cá kê hoại tử
Thể này còn gọi là trứng cá hoại tử của Boeck, do tụ cầu vàng gây nên.
Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới, vị trí ở trán, thái dương, rìa chân tóc. Khởi đầu
là sẩn nang lông màu đỏ, xung quanh có bờ viền viêm tấy màu hồng có thể có
ngứa, đau, tổn thương nhanh chóng hoá mủ màu ngà vàng, lõm ở giữa, mụn
mủ dần sẽ khô đét lại tạo thành vảy màu ngà nâu, bám rất chắc, dưới vảy là ổ

7

loét nhỏ, khi khỏi để lại sẹo lõm vĩnh viễn.[1], [8], [15], [16].
1.1.2.4. Trứng cá sẹo lồi
Chủ yếu gặp ở đàn ông, hay khu trú ở gáy, vùng rìa chân tóc. Khởi đầu
là tổn thương viêm nang lông, về sau liên kết với nhau thành dải hình vằn vèo
hay thẳng, sau đó tổn thương tiến triển thành củ xơ hoặc dải xơ phì đại gờ lên
khỏi mặt da như sẹo lồi, có thể có một vài mụn mủ riêng rẽ trên bề mặt, có
giãn mạch. Bệnh tiến triển lâu dài, cuối cùng sẽ xẹp, sẹo phẳng và vĩnh viễn
trụi lông tóc [11], [16]

.
Hình 1.3: Trúng cá sẹo lồi.
1.1.2.5. Trứng cá nghề nghiệp
Do bệnh nghề nghiệp gây nên, bệnh nhân tiếp xúc với dầu mỡ, hắc ín
liên tục nhiều năm như công nhân sửa chữa máy móc, hầm lò. Bệnh biểu hiện
là các nhân, sẩn, mụn mủ và nang như trứng cá thông thường.
1.1.2.6. Trứng cá do thuốc
Có rất nhiều loại thuốc gây phát sinh phát triển bệnh trứng cá, các
hocmon adrogen làm tăng hoạt động và phì đại tuyến bã, các steroid gây sừng
hoá nang lông và bít tắc cổ nang lông, các halogen (muối iod và brom) có
trong các muối điều trị bệnh tuyến giáp, thuốc long đờm, thuốc điều trị hen,
thuốc cản quang, phenobacbital, cyclosporin, cimetidin...đều có thể gây bệnh

8

trứng cá. Tuy nhiên khi ngừng thuốc một thời gian các tổn thương bệnh trứng
cá sẽ hết [1], [11], [16], [17].
1.1.2.7. Trứng cá trước tuổi thiếu niên
Thể này được phân thành 3 loại sau [8], [16]:
- Trứng cá sơ sinh: xuất hiện trong 4 tuần đầu sau đẻ, bé trai hay bị hơn
bé gái do nội tiết tố progesteron ở mẹ truyền sang. Tổn thương có thể tồn tại
trong vài tuần rồi tự khỏi không để lại dấu vết gì.
- Trứng cá tuổi ấu thơ: xuất hiện từ tháng thứ hai, cũng có thể là do
trứng cá sơ sinh tồn tại dai dẳng. Trứng cá loại này có thể kéo dài thành trứng
cá tuổi thiếu niên.
- Trứng cá tuổi thiếu niên: nguyên nhân từ trứng cá trẻ em tồn tại dai
dẳng. Trong đó yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng.
1.1.2.8. Các loại hình trứng cá khác
- Trứng cá do mỹ phẩm: thường gặp ở phụ nữ tuổi 25-30, do dùng
các mỹ phẩm không thích hợp hoặc có thói quen sử dụng quá nhiều kem
bôi mặt, dầu làm ẩm da, kem chống nắng [1], [11], [16]. Tổn thương đồng
đều, đứng sát nhau.
- Trứng cá do yếu tố cơ học: thường gặp ở những cô gái trẻ, do bệnh
nhân có yếu tố tâm lý lo lắng hay nặn bóp, cào xước tổn thương làm cho bệnh
trứng cá nặng hơn, kết quả để lại các vết sẹo thâm và sẹo teo da [16], [18], [19].
- Trứng cá nhân loạn sừng gia đình [8], [16]: là do rối loạn di truyền
trội, với đặc điểm có nhiều nhân ở mặt, thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ,
mụn nước, sau khi khỏi và thành sẹo sâu như hố băng, có khi xuất hiện đến
giữa tuổi 40. Mô bệnh học thấy tiêu gai và tế bào loạn sừng ở trong thành của
các lỗ chân lông.
- Trứng cá vùng nhiệt đới: loại trứng cá này có đặc điểm là tổn thương
nang lớn, đa dạng ở ngực, lưng và mông. Bệnh xuất hiện ở vùng nhiệt đới vào

9

mùa hè khi thời tiết nóng ẩm.
1.1.3. Phân loại mức độ bệnh trứng cá
Bệnh trứng cá là một bệnh khá phổ biến ở cộng đồng, cho đến nay có
khá nhiều cách phân loại mức độ bệnh trứng cá.
Hiện nay phân loại theo Karen Mc Coy 2008 được nhiều người sử
dụng. Dựa vào số lượng và đặc điểm tổn thương [12].
- Nhẹ:

+ < 20 mụn trứng cá, hoặc
+ < 15 tổn thương viêm, hoặc
+ Tổng số tổn thương < 30

- Trung bình:

+ 20 - 100 mụn trứng cá, hoặc
+ 15 - 50 tổn thương viêm, hoặc
+ 30 - 125 tổng số tổn thương

- Nặng:

+ 05 cục/bọc, hoặc
+ Tổng số tổn thương viêm > 50, hoặc
+ Tổng số tổn thương > 125

1.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá
1.2.1. Tuổi: bệnh trứng cá thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, 90% bệnh nhân
ở lứa tuổi 13-19, sau đó bệnh giảm dần, nhưng cũng có thể bắt đầu ở tuổi 20
-30 hoặc muộn hơn thậm chí tới tuổi 50-59 [20].
1.2.2. Giới: đa số các tác giả đều thấy nữ bị trứng cá nhiều hơn nam [13],[19],
[21],[22]. Theo báo cáo Nghiên cứu khoa học của Trung tâm y tế Huyện Long
Thành, 375 em học sinh lớp 10 trường Phổ thông trung học, thì tỉ lệ nữ mắc
bệnh trứng cá là 64,53 %, nam là 35,47%. Hình thái lâm sàng ở bệnh nhân
nam nặng hơn so với bệnh nhân nữ [21].
1.2.3. Yếu tố gia đình: yếu tố gia đình có ảnh hưởng rõ rệt đến bệnh trứng cá.
Theo Phạm Văn Hiển nếu bố hoặc mẹ hoặc cả hai bị trứng cá thì 45% con trai
của họ ở tuổi đi học bị trứng cá [1].

10

1.2.4. Yếu tố thời tiết: các yếu tố khí hậu nóng ẩm, hanh khô cũng liên quan
đến bệnh trứng cá. Khi nhiệt độ môi trường lạnh da sẽ phản ứng co lại để giữ
nhiệt độ cho cơ thể. Nhiệt độ lạnh làm giảm tiết dầu của tuyến dầu nên da có
xu hướng bị khô và nứt nẻ. Điển hình nhất là những vùng chịu tác động của
mùa đông như miền Bắc và miền Trung da có xu hướng rát và nứt nẻ. Khi
nhiệt độ môi trường nóng, tuyến bã và tuyến mồ hôi tiết nhiều dầu và mồ hôi
để làm ẩm da và làm mát da, vì vậy da có xu hướng bị mụn [8], [16],[23].

11

1.2.5. Yếu tố chủng tộc: người da trắng và da vàng bị bệnh trứng cá nhiều
hơn người da đen [9], [15],[23].
1.2.6. Yếu tố nghề nghiệp: khi tiếp xúc với dầu mỡ, tiếp xúc ánh nắng
nhiều...làm tăng khả năng bị bệnh, da có tính axít tự nhiên nhẹ với độ PH
khoảng bằng 5, các chất tẩy rửa có trong dầu gội, xà phòng, nước rửa
chén… và kể cả các mỹ phẩm dưỡng ẩm chứa kiềm cũng có thể gây hại
đến cấu trúc tế bào của da, làm suy yếu hàng rào chức năng bảo vệ của lớp
da ngoài cùng, dẫn đến da bị khô, dễ nhiễm trùng và bùng phát các bệnh
ngoài da. Tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, thuốc tẩy, thuốc nhuộm, dung
môi… rất gây hại đến làn da [11].
1.2.7. Yếu tố stress: cuộc sống hàng ngày mỗi một người đều có nhiều stress
công việc, học tập, lo lắng sẽ gây nên bệnh hoặc làm tăng nặng bệnh trứng cá.
Khi chúng ta gặp stress, tuyến thượng thận sẽ tăng tiết hocmon Androgen.
Nồng độ androgen cao hơn có thể dẫn đến mụn trứng cá nhiều hơn [16]. Điều
này có thể giải thích lý do tại sao căng thẳng dường như ảnh hưởng đến phụ
nữ nhiều hơn nam giới khi nói đến mụn trứng cá. Stress có thể do nhiều
nguyên nhân như áp lực công việc, chuyện gia đình, tình cảm, cường độ lao
động cao không được nghỉ ngơi, mất ngủ... [1], [8], [16], [23].
1.2.8. Các bệnh nội tiết: khi mắc một số bệnh nội tiết có thể bị trứng cá như
bệnh Cushing, bệnh cường giáp trạng, bệnh buồng trứng đa nang... Do tăng
sản xuất Androgen, làm cho tuyến bã tăng trưởng lớn hơn bình thường, sản
xuất quá mức lên tuyến bã gây bít lỗ nang lông và gây mụn. [8], [16].

12

1.2.9. Thuốc: một số loại thuốc có thể làm tăng bệnh trứng cá, đó là corticoid,
isoniazid, thuốc có nhóm halogen (iod, brom), androgen (testosteron),
lithium, hydantoni… Bên cạnh đó, các thuốc bôi điều trị mụn trứng cá như
benzoyl peroxide, retinoid, sulfur, acid salicylic, kháng sinh tại chỗ,
isotretinoin và các chất tẩy tế bào chết, kem trộn… đều làm ảnh hưởng đến
bệnh trứng cá. [1], [11], [13], [16], [23].
1.2.10. Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà sát, nặn không đúng
phương pháp và lạm dụng mỹ phẩm làm ảnh hưởng đến bệnh trứng cá.
1.3. Chế độ ăn: Một số thức ăn có thể làm gia tăng bệnh trứng cá như sữa,
đường, cafe...
1.3.1. Sữa: là nguyên nhân hàng đầu gây nên mụn trứng cá và làm trầm trọng
mụn. Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mụn trứng cá cao hơn ở những người
uống nhiều sữa [23],[24],[25],[26]. Có ít nhất ba nghiên cứu quy mô lớn
báo cáo trên Tạp chí Da liễu Mỹ tìm thấy một liên kết giữa sữa uống và
mụn trứng cá[ 24],[25],[26].
Hai nghiên cứu trên 10.000 bé trai và bé gái 9-15 tuổi, đã cho thấy có
một liên quan trực tiếp giữa số lượng sữa tiêu thụ và mức độ nặng của mụn
trứng cá [24], [25].
Một nghiên cứu ở Đại học Harvard khảo sát 47.335 phụ nữ phát hiện ra
rằng những người uống nhiều sữa hơn như thanh thiếu niên có tỷ lệ bị mụn
trứng cá cao hơn [26]. Các y tá trưởng thành trong nghiên cứu này đã được
yêu cầu nhớ lại bao nhiêu sữa họ uống khi còn niên thiếu. Nghiên cứu cho
thấy rằng những người uống nhiều hơn 2 lần sữa mỗi ngày có 20% khả
năng bị mụn hơn so với những người uống ít hơn 1 bữa mỗi tuần , những
người uống nhiều hơn ba lần của bất kỳ loại sữa nào mỗi ngày là 22 % có
mụn trứng cá nặng hơn so với những người chỉ uống một hoặc một vài lần

13

ăn mỗi tuần [26].
Các nghiên cứu trên bệnh nhân mụn trứng cá đã thể hiện tương quan
giữa IGF-1 và mụn trứng cá [25],[26]. Sữa có chứa yếu tố tăng trưởng giống
Insulin (IGF-1), IGF-1 là một hormone giúp cơ thể xây dựng các mô cần
thiết. Tăng mức độ IGF-1 kết quả là tăng sản lượng dầu của da. Vì quá sản
xuất dầu trên da là một nguyên nhân gây mụn trứng cá và một số nhà khoa
học đưa ra giả thuyết rằng sữa và thành phần IGF-1 của nó, có thể dẫn đến
tăng sản lượng dầu da và dẫn đến mụn [25],[26]. IGF-1 cũng kích thích cơ thể
sản xuất các tế bào. Mụn trứng cá đôi khi bắt đầu bằng quá sản của các tế bào
da bên trong các lỗ chân lông gây ra các lỗ chân lông để trở nên tắc nghẽn. Vì
vậy sữa có thể dẫn tới tình trạng sản xuất của các tế bào da bên trong lỗ chân
lông gây nên lỗ chân lông bị tắc và trở thành giai đoạn đầu của thương tổn
mụn trứng cá. Sữa cũng chứa hormone nam (androgen) tiền thân. Để sản xuất
ra sản lượng sữa tối đa, bò được phối giống gần như ngay lập tức sau khi sinh.
Mặc dù những con bê được sớm lấy đi, con bò tiếp tục sản xuất sữa, trong
khi đang mang thai một con bê mới. Kết quả là, những con bò được đồng thời
sản xuất kích thích tố có nghĩa là để giúp bê của mình phát triển và kích thích
tố được yêu cầu để hỗ trợ mang thai. Các hormone có trong sữa của một con
bò mang thai có thể có nội tiết tố androgen, nó góp phần vào mức độ nghiêm
trọng của mụn bùng phát. Những tiền chất cần enzyme để chuyển đổi chúng
thành các kích thích tố nam thực tế trong cơ thể, và những enzyme có sẵn
trong các lỗ chân lông của da. Tương tự như IGF-1, kích thích tố nam đã
được cho là có liên quan đến tăng sản lượng dầu da và tăng sản xuất tế bào
da [25], [26].
1.3.2. Đường và các thực phẩm chứa nhiều đường
Đường không tốt cho phản ứng viêm và các nghiên cứu gần đây cũng
cho thấy rằng đường và một chế độ ăn nhiều đường gây ra mụn trứng cá

14

[22], [27].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Qúy Thái, trường Đại học Y Dược Thái
Nguyên, cho thấy rằng trứng cá ở những bệnh nhân thường xuyên ăn đồ ngọt
chiếm 72 % [22].
Một nghiên cứu trên 29 người đàn ông khỏe mạnh được uống 1 hoặc 2
lon soda mỗi ngày trong 3 tuần, bình thuờng không uống nhiều soda. Sau 3
tuần kiểm tra protein phản ứng C của họ (CRP là một trong những chỉ số phản
ánh tốt nhất của viêm).
• 1 lon mỗi ngày, mức độ viêm nhiễm đã tăng 87%.
• 2 lon mỗi ngày, tăng 105%.
• Đây là những con số khá bất ngờ với những người không uống và cả
với những người uống 1-2 lon mỗi ngày .
- Những thức ăn được coi là có chỉ số glycemic (GI: chỉ số đường
huyết sau ăn) cao hay thấp?
+ Cao: 70-100
+ Trung bình: 56-69
+ Thấp < 55.
• Một số loại ngũ cốc: pumpernickel cốc nguyên hạt có chỉ số GI là 46
(thấp); ngũ cốc nguyên hạt Kaiser cuộn có chỉ số GI 73 (cao). Đậu và các
loại đậu: Đậu xanh: 33 (Thấp), Đậu lăng: 29 (Thấp)
• Các loại hạt, rau hầu hết là các chất phi tinh bột
• Khoai lang có chỉ số GI của 54 (thấp). Một củ khoai tây trắng nướng
có GI 85 (cao).
+ Hầu hết các loại trái cây: Táo hay lê: 36 (Thấp), Peaches: 28 (Thấp)
Do đó những loại thực phẩm cần tránh là ngũ cốc đóng hộp, bánh quy,
bánh mì trắng, gạo trắng, khoai tây trắng [28], [29].