Tải bản đầy đủ
Nhận xét bảng 3.16: Không có sự khác biệt về xét nghiệm cận lâm sàng giữa hai nhóm với p>0,05

Nhận xét bảng 3.16: Không có sự khác biệt về xét nghiệm cận lâm sàng giữa hai nhóm với p>0,05

Tải bản đầy đủ

50

chất
dịch
Trắng
xám
Trắng
vàng
Trắng
bẩn

Ngày 1

Ngày 7 Ngày14 Ngày 1

Ngày 7 Ngày14

34(85,0)

3(7,5)

1(2,5)

35(87,5) 10(25,0) 6(15,0)

<0,05

5(12,5)

1(2,5)

1(2,5)

4(10,0)

4(10,0)

1(2,5)

>0,05

1(2,5)

0(0,0)

0(0,0)

1(2,5)

1(2,5)

1(2,5)

>0,05

Nhận xét bảng 3.18: Sau điều trị 14 ngày tỉ lệ bệnh nhân còn dịch âm đạo
trắng xám ở nhóm 1 là 2,5%, ở nhóm 2 là 15,0%; sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở hai nhóm với p<0,05.
Bảng 3.19. Đánh giá kết quả điều trị về triệu chứng thực thể giữa 2 nhóm
Triệu

Nhóm 1(n=40)

Nhóm 2(n=40)

chứng

Ngày 1

Ngày7 Ngày14

Ngày 1

Viêm

21(52,5

4(10,0

23(57,5

AH/AD

)

)

7(17,5)

3(7,5)

Viêm
CTC

0(0,0)
0(0,0)

)
10(25,0
)

p

Ngày 7 Ngày14
9(22,5)

0(0,0)

>0,05

8(20,0)

3(7,5)

>0,05

Nhận xét bảng 3.19: Tỉ lệ viêm AH/AĐ và viêm CTC có xu hướng giảm theo
thời gian điều trị. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

51

3.2.2.2. Kết quả xét nghiệm sau điều trị
Bảng 3.20. Đánh giá kết quả xét nghiệm dịch âm đạo sau điều trị
giữa 2 nhóm
Nhóm 1(n=40)

Xét nghiệm
dịch AD

5

2

(95,0)

(2,5)

(2,5)

(92,5)

(12,5)

(5,0)

2

39

39

3

35

38

(5,0)

(97,5)

(97,5)

(7,5)

(87,5)

(95,0)

23

0

0

22

1

0

(57,5)

(0,0)

(0,0)

(55,0)

(2,5)

(0,0)

Âm

17

40

40

18

39

40

tính

(42,5)

(100)

(100)

(45,0)

(97,5)

(100)

Dươn

40

4

1

40

12

5

g tính

(100)

(10,0)

(2,5)

(100)

(30,0)

(12,5)

Âm

0

36

39

0

28

35

tính

(0,0)

(90,0)

(97,5)

(0,0)

(70,0)

(87,5)

g

clue

4

37

Dươn

bào

Ngày1 Ngày7

1

<4,5

Tế

4

Ngày1

1

pH

Sniff

Ngày1

p

38

≥4,5

Test

Ngày1 Ngày7

Nhóm 2(n=40)

tính

>0,05

>0,05

<0,05

Nhận xét bảng 3.20: Sau 14 ngày điều trị đa số bệnh nhân viêm âm đạo do vi
khuẩn ở cả hai nhóm có xét nghiệm dịch âm đạo đã trở về bình thường, tuy
nhiên chỉ có xét nghiệm tế bào clue có sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa
thống kê với p<0,05.

52

3.2.3. Đánh giá kết quả điều trị theo mức độ
Bảng 3.21. Đánh giá hiệu quả điều trị sau 7 ngày giữa 2 nhóm
Kết quả

Nhóm 1

Nhóm 2

n=40

Tỉ lệ %

n=40

Tỉ lệ %

Tốt

36

90,0

25

62,5

Khá

3

7,5

7

17,5

Kém

1

2,5

8

20,0

p

<0,05

Nhận xét bảng 3.21: Sau 7 ngày điều trị tỉ lệ bệnh nhân có kết quả điều trị tốt
ở nhóm 1 là 90,0% ở nhóm 2 là 62,5%; kết quả điều trị kém ở nhóm 1 là 2,5%
ở nhóm 2 là 20%. Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Bảng 3.22. Đánh giá hiệu quả điều trị sau 14 ngày giữa 2 nhóm
Kết quả

Nhóm 1

Nhóm 2

n=40

Tỉ lệ %

n=40

Tỉ lệ %

Tốt

38

95,0

31

77,5

Khá

1

2,5

4

10,0

Kém

1

2,5

5

12,5

p

<0,05

Nhận xét bảng 3.22: Sau 14 ngày, tỉ lệ bệnh nhân có kết quả điều trị tốt ở
nhóm 1 là 95,0% ở nhóm 2 là 77,5%; kết quả điều trị kém ở nhóm 1 là 2,5% ở
nhóm 2 là 12,5%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

53

3.2.4. Đánh giá kết quả điều trị theo tỉ lệ khỏi bệnh
Bảng 3.23. Đánh giá kết quả điều trị của 2 nhóm
Kết quả
Khỏi
Không khỏi

Nhóm 1
n=40
Tỉ lệ %
39
97,5
1
2,5

Nhóm 2
n=40
Tỉ lệ %
35
87,5
5
12,5

p
>0,05

Nhận xét bảng 3.23: Nhóm điều trị bằng povidone-iodine gel thụt âm đạo tỉ
lệ khỏi bệnh chiếm 97,5%; 2,5% trường hợp không khỏi. Nhóm điều trị
bệnh bằng metronidazole đường uống tỉ lệ khỏi bệnh chiếm 87,5% và
12,5% không khỏi. Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa
hai nhóm với p>0,05.
3.2.5. Tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị
Bảng 3.24. Đánh giá tác dụng phụ của 2 nhóm sau 14 ngày điều trị
Tác dụng phụ
Toàn thân
(đường tiêu hóa)
Đỏ AH/AĐ
Bỏng, rát AH/AĐ

Nhóm 1
n=40
Tỉ lệ %
0

Nhóm 2
n=40
Tỉ lệ %

0

0
0

0
0

4

p

10,0

0
0

0
0

>0,05

Nhận xét bảng 3.24: Điều trị viêm âm đạo do vi khuẩn bằng povidone-iodine
gel thụt âm đạo không có tác dụng phụ toàn thân và tại chỗ; điều trị bằng
metronidazole đường uống có 10% bệnh nhân có tác dụng phụ toàn thân mà
chủ yếu là các triệu chứng đường tiêu hóa như nôn, buồn nôn, đau bụng. Sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Bảng 3.25. Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân và mức độ tiện lợi
khi sử dụng thuốc
Đánh giá

Nhóm 1

Nhóm 2

p

54

Hài lòng
Không hài lòng
Thuận lợi
Không thuận lợi

n=40
38
2
39
1

Tỉ lệ %
95,0
5,0
97,5
2,5

n=40
30
10
40
0

Tỉ lệ %
75,0
25,0
100
0

< 0,05
> 0,05

Nhận xét bảng 3.25:
Mức độ hài lòng: Nhóm 1 mức độ hài lòng của bệnh nhân chiếm 95,0%
không hài lòng 5,0%, ở nhóm 2 mức độ hài lòng 75,0% không hài lòng
25,0%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p<0,05.
Mức độ thuận lợi khi sử dụng thuốc: Nhóm 1 mức độ thuận lợi chiếm
97,5% không thuận lợi 2,5%, nhóm 2 mức độ thuận lợi khi sử dụng 100%.
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p>0,05.

Chương 4
BÀN LUẬN

55

4.1. TỈ LỆ NHIỄM, YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN
4.1.1. Tỉ lệ nhiễm, yếu tố liên quan viêm âm đạo do vi khuẩn
Với phương pháp mô tả cắt ngang, nghiên cứu 80 bệnh nhân BV được
chọn/tổng số 205 bệnh nhân mắc BV/tổng số 2331 bệnh nhân có HCTDAĐ đến
khám tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương từ tháng 10/2015 -9/2016 cho thấy.
4.1.1.1. Tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn
Biểu đồ 3.1 cho thấy tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn trên tổng số bệnh
nhân có HCTDAĐ là 8,79%.
So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thời Loạn tại bệnh viện Da
Liễu Trung Ương (2003) [40] cho thấy tỉ lệ bệnh nhân BV/tổng số bệnh nhân
có HCTDAĐ là 32,95%. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Ái Liên (2012)
[43] cũng tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương thì tỉ lệ bệnh nhân BV/tổng số
bệnh nhân có HCTDAĐ là 17,25%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp
hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả trên; có thể do hiện nay các phòng
khám STDs và phòng khám sản khoa nhiều hơn, nên bệnh nhân BV đến bệnh
viện ít hơn. Mặt khác công tác tuyên truyền của ngành y và nhận thức của
người dân về cách phòng tránh các nhiễm trùng đường sinh sản ở thành phố
ngày càng được nâng cao.
Phạm Ngọc Cường [52], nghiên cứu trên 400 phụ nữ nhiễm trùng đường
sinh dục tại các xã của hai huyện đồng bằng tỉnh Thanh Hóa năm 2006 cho
thấy 104 phụ nữ BV chiếm 25,2%. Nghiên cứu của Trần Hùng Minh, Vũ
Song Hà, Hoàng Tú Anh (1998) về viêm nhiễm đường sinh dục tại một xã ở
Thái Bình thì BV chiếm 44,9% [13]. Các kết quả này cao hơn kết quả nghiên
cứu của chúng tôi, có thể do kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của
người dân ở địa phương còn thấp, thói quen vệ sinh không hợp lý, nguồn
nước vệ sinh không sạch (có thể dùng nước ao, hồ, sông, suối…) nên dễ

56

nhiễm khuẩn từ bên ngoài vào làm mất cân bằng hệ vi sinh âm đạo dẫn tới
viêm âm đạo do vi khuẩn. Các kết quả này cũng cho thấy viêm âm đạo do vi
khuẩn tiềm tàng trong cộng đồng chiếm tỉ lệ rất cao.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thọ và cộng sự (1997) tại Đà Nẵng cho
thấy trong tổng số 273 bệnh nhân mắc STDs tại phòng khám STDs có 148
bệnh nhân viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm 54,2%. Nếu tính toàn bộ số bệnh
nhân BV của bệnh viện Da Liễu Đà Nẵng, khoa Sản Trung tâm Y tế quận,
phòng sinh đẻ có kế hoạch và các phòng khám tư nhân thống kê năm 1997 thì
bệnh nhân BV là 472 trong tổng số 944 bệnh nhân STIs, chiếm tỉ lệ 50% [53]
[54]. Các tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ nghiên cứu của chúng tôi rất nhiều, vì đó là
các phòng khám chuyên khoa Sản và STDs, chúng tôi cho rằng quan niệm
của bệnh nhân khi mắc các nhiễm trùng đường sinh dục dưới là nghĩ đến các
phòng khám chuyên khoa Sản nên đối tượng bệnh nhân tập trung hơn.
Theo Lê Thị Oanh, Lê Hồng Hinh (2001), tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn
khác nhau theo từng địa phương: nội thành Hà Nội 25,57%, ngoại thành Hà
Nội 18,18%, ven biển Thái Bình 26,8%, vùng chiêm trũng Hà Nam 18,7%,
vùng núi Nghệ An 28,74%, Hải Dương 7,8% [38].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Nam, Lê Hoàng, Đặng Thị
Minh Nguyệt (2014) [14] tại bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 300 bệnh
nhân có HCTDAĐ, tỉ lệ bệnh nhân BV chiếm 1,7%. Kết quả nghiên cứu của
Trần Văn Cường (1998) tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh Hà Nội, nghiên
cứu trên 134 phụ nữ có nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới thì tỉ lệ BV chiếm
4,47% [36]. Cũng tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, theo Nguyễn Thị Lan
Hương (1996) [9] tỉ lệ BV chiếm 5,5% trong số nhiễm khuẩn sinh dục dưới.
Các nghiên cứu này tỉ lệ BV đều thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi.
So sánh với một số nghiên cứu trên thế giới, như nghiên cứu của Taylor
Robinson (2003) tại Anh thì BV chiếm 24,5% [55]. Nghiên cứu của Ham SG

57

và cộng sự cho thấy tỉ lệ BV tại các phòng khám STDs ở Madagasca (1994)
là 20-23%. Các kết quả trên cao hơn nhiều nghiên cứu của chúng tôi, có thể
do phụ nữ ở các nước phát triển luôn quan tâm tới sức khỏe sinh sản, họ mạnh
dạn đi khám khi có các bất thường liên quan tới đường sinh sản, không như
phụ nữ Á Đông thường ngần ngại khi đi khám và xét nghiệm phụ khoa nhất là
những người chưa lập gia đình.
Nghiên cứu của Demba và cộng sự (2001) tại phòng xét nghiệm MRC,
Fajara, Gambia thuộc miền Tây Châu Phi xét nghiệm cho 230 phụ nữ có
HCTDAĐ, đã phát hiện 111 phụ nữ nhiễm BV chiếm tỉ lệ 48% [56], kết quả
này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi rất nhiều có thể do ở vùng đó đời sống
kinh tế còn khó khăn, kiến thức, hành vi về vệ sinh sức khỏe sinh sản còn
thấp, do đó tỉ lệ BV ở đó cao.
Như vậy, tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn cao hay thấp là do các nghiên
cứu của các tác giả thực hiện ở các địa điểm khác nhau, trên các nhóm đối
tượng khác nhau, điều kiện sống, dân trí, kinh tế của từng khu vực, từng quốc
gia khác nhau đã ảnh hưởng tới mô hình bệnh tật, trong đó có viêm âm đạo do
vi khuẩn. Các số liệu trên cho thấy viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm tỉ lệ khá
cao trong các nhiễm trùng đường sinh sản, mặt khác viêm âm đạo do vi khuẩn
còn gây ra các biến chứng nghiêm trọng cho phụ nữ có thai như viêm tiểu
khung, sảy thai, đẻ non, trẻ đẻ thiếu cân….Do đó cần thiết khám và làm xét
nghiệm trên các bệnh nhân có HCTDAĐ để chẩn đoán và điều trị kịp thời
viêm âm đạo do vi khuẩn để phòng các biến chứng đáng tiếc xảy ra.

58

4.1.1.2. Tỉ lệ các tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục dưới
Trong 2331 bệnh nhân có HCTDAĐ đến khám và xét nghiệm tại bệnh
viện Da Liễu Trung Ương (bảng 3.1), có 567 bệnh nhân nhiễm nấm Candida
chiếm 24,32%, 54 bệnh nhân nhiễm lậu cầu chiếm 2,33%, 59 bệnh nhân
nhiễm Chlamydia chiếm 2,53%. Nghiên cứu của chúng tôi thấy 62,03% viêm
âm đạo không tìm ra nguyên nhân. Đây có lẽ là những trường hợp viêm âm
đạo do tạp khuẩn hoặc bệnh nhân đã tự điều trị kháng sinh làm cho kết quả
xét nghiệm không được rõ ràng, cần phải làm thêm nuôi cấy dịch âm đạo để
xác định nguyên nhân.
Như vậy, trong các căn nguyên gây nhiễm trùng đường sinh dục nữ thì
nhiễm nấm Candida chiếm tỉ lệ cao nhất (24,32%), đứng thứ 2 là BV.
Nguyễn Thị Thời Loạn (2003) [40] nghiên cứu trên 352 bệnh nhân có
181 bệnh nhân nhiễm Candida chiếm 51,42%, BV chiếm 32,95%, lậu cầu
4,55%, trùng roi 2,84% và không thấy có nhiễm Chlamydia. Nghiên cứu của
Hoàng Thị Ái Liên (2012) [43] trong 400 bệnh nhân có HCTDAĐ thì tỉ lệ
nhiễm Candida chiếm 34,0%, BV chiếm 17,25%, lậu cầu chiếm 3,75%,
Chlamydia chiếm 2,0%, không thấy bệnh nhân nhiễm trùng roi. Nghiên cứu
của Phạm Ngọc Cường (2006) [52] trên 400 phụ nữ thì Candida chiếm tỉ lệ
cao nhất 34,7%, BV đứng thứ hai 25,2%, Chlamydia 2,5%, lậu cầu 0,0%. Kết
quả nghiên cứu của Lê Thị Oanh (1997), nghiên cứu trên 194 phụ nữ đặt vòng
tránh thai thấy Candida chiếm 42,8%, đứng thứ 2 là BV 19,6%, trùng roi âm
đạo 1,55% và không có trường hợp nhiễm lậu cầu [35]. So sánh với các kết
quả nghiên cứu trên, tỉ lệ các tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục của
chúng tôi thấp hơn các tác giả, do nghiên cứu tại các thời điểm khác nhau và
địa điểm khác nhau. Tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy là tỉ lệ viêm âm
đạo do nấm Candida là cao nhất, sau đó là viêm âm đạo do vi khuẩn.

59

Kết quả của Nguyễn Thị Phương Nam, Lê Hoàng, Đặng Thị Minh
Nguyệt (2014) tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương [14], nghiên cứu trên 300
bệnh nhân cho thấy tỉ lệ nhiễm Candida âm đạo chiếm 26,3%, nhiễm BV là
1,7%, trùng roi là 0,0%.
Theo Demba và cộng sự [56] nghiên cứu vai trò của BV trong HCTDAĐ
ở phụ nữ Gambia, miền Tây Châu Phi, trên 230 phụ nữ có HCTDAĐ thấy BV
chiếm 48%, Candida âm đạo 22%, trùng roi 22%, lậu cầu 6%. So với nghiên
cứu trên thì tỉ lệ các tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục của chúng tôi
khác nhiều, có thể sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu và mô hình bệnh
nhiễm trùng đường sinh sản ở Việt Nam khác với nước ngoài.
4.1.1.3. Tỉ lệ phối hợp của một số tác nhân gây bệnh khác với viêm âm đạo
do vi khuẩn
Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy có 12 bệnh nhân BV phối hợp với Candida
chiếm 5,85%; 4 bệnh nhân BV nhiễm phối hợp với lậu cầu chiếm 1,95%; 2
bệnh nhân nhiễm phối hợp với Chlamydia chiếm 0,98%.
So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thời Loạn (2003) [40], thì tỉ lệ BV
nhiễm phối hợp với nấm là 8,62%, BV phối hợp với trùng roi là 1,72%,
không thấy có đồng nhiễm với lậu cầu và Chlamydia. Kết quả nghiên cứu của
Hoàng Thị Ái Liên (2012) [43], thì tỉ lệ BV nhiễm phối hợp với Candida
chiếm 8,69%, BV phối hợp với lậu cầu chiếm 2,89%, BV phối hợp với
Chlamydia chiếm 1,45%, không có trường hợp nhiễm phối hợp với trùng roi.
Nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai và Phan Kim Anh (2001) [41] tại
bệnh viện phụ sản Hà Nội, nhà hộ sinh Hai Bà Trưng, khoa Sản bệnh viện
Thanh Nhàn Hà Nội đã tìm thấy BV nhiễm phối hợp Candida pss rất cao
23,7%, Candida và Chlamydia là 27,3%, trùng roi và Chlamydia là 6,3%,
Candida và trùng roi là 2,7%. Như vậy tỉ lệ nhiễm phối hợp các nguyên nhân
của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu trên, có lẽ do nghiên cứu của
tác giả trên ở các bệnh viện chuyên sản phụ khoa, trên các đối tượng có nguy

60

cơ cao và quan niệm của người dân khi thấy bất thường về đường sinh dục nữ
là đến ngay các phòng khám sản phụ khoa, do đó tỉ lệ nhiễm phối hợp các
nguyên nhân gây viêm đường sinh dục nữ của tác giả cao hơn nghiên cứu của
chúng tôi.
4.1.1.4. Một số yếu tố liên quan viêm âm đạo do vi khuẩn
* Phân bố theo nhóm tuổi:
Bảng 3.2 cho thấy phụ nữ ở nhóm tuổi 20-29 chiếm tỉ lệ cao nhất
(51,2%), sau đó đến nhóm tuổi 30-39 chiếm (30,0%). Độ tuổi từ 20-40 cũng
là độ tuổi hoạt động tình dục nhiều nhất, đối với phụ nữ thì hầu hết đều sinh
đẻ ở độ tuổi này.
Trong tất cả các nghiên cứu về các nhiễm trùng đường sinh sản và các
bệnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục, nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất
vẫn là 20-40. Nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng (2006) tuổi mắc các bệnh
STD cao nhất là 20-39 tuổi [57]. Dương Văn Tuấn, Đặng Kim An và cộng sự
(2002) khảo sát thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục và mô hình sử
dụng dịch vụ y tế của nữ nhân viên nhà hàng tại khu vực thành phố Thái
Nguyên cho thấy nhóm tuổi dưới 30 có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua
đường tình dục và nấm Candida sinh dục cao hơn [58], nhóm tác giả không
nghiên cứu về BV.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn
Thị Thời Loạn (2003) tại viện Da Liễu Quốc Gia, phụ nữ ở hai nhóm tuổi 2029, 30-39 mắc BV chiếm tỉ lệ cao nhất (84,25%) [40] và nghiên cứu của
Hoàng Thị Ái Liên (2012) tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương, phụ nữ ở hai
nhóm tuổi 21-30, 31-40 mắc BV chiếm tỉ lệ cao nhất (76,82%) [43]. Đây là
độ tuổi lao động chính của xã hội, đóng góp được nhiều nhất về sức lực và trí
tuệ cho đất nước, do đó cần thiết có mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản từ
Trung Ương đến tận cơ sở một cách hoàn thiện và nâng cao nhận thức của của