Tải bản đầy đủ
Patrick X. Bout, Trade Usages: Article 9 of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Chương I, phần B

Patrick X. Bout, Trade Usages: Article 9 of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Chương I, phần B

Tải bản đầy đủ

2. Trừ phi có thỏa thuận khác thì có thể cho rằng các bên ký hợp đồng có ngụ ý áp
dụng những tập quán mà họ đã biết hoặc cần phải biết và đó là những tập quán có
tính chất phổ biến trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách
thường xuyên đối với hợp đồng cùng chủng loại trong lĩnh vực buôn bán hữu quan
để điều chỉnh hợp đồng của mình hoặc điều chỉnh việc ký kết hợp đồng đó.
Điều 9 CISG quy định rằng các bên bị ràng buộc bởi tập quán quốc tế nếu họ thỏa
thuận hoặc ngụ ý áp dụng những tập quán mà họ đã biết hoặc cần phải biết có tính chất phổ
biến trong thực tiễn trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách thường
xuyên đối với hợp đồng tương tự trong lĩnh vực buôn bán hàng hóa quốc tế. Điều đó có
nghĩa là việc đồng ý áp dụng tập quán có thể được biểu hiện ra bên ngoài như hai bên thỏa
thuận trong hợp đồng hoặc không thể hiện dưới bất cứ hình thức nào. Cho dù không thỏa
thuận nhưng các bên vẫn có thể áp dụng tập quán họ đã biết , kể cả tập quán đáng lẽ phải
biết. CISG đã chỉ ra cho các bên thấy được cách mà họ có thể áp dụng tập quán quốc tế
trong đó có INCOTERMS .
Quan hệ giữa CISG là điều ước quốc tế với INCOTERMS là tập quán quốc tế,
không thể khằng định hai loại nguồn này nguồn nào có vị trí quan trọng hơn. Về mặt lịch
sử tập quán quốc tế xuất hiện sớm hơn ĐUQT, nhiều quy phạm tập quán đã được chuyển
hóa thành quy phạm điều ước ví dụ như nhiều quy định về luật biển quốc tế trong Công
ước luật biển 1982 có nguồn gốc từ tập quán quốc tế. Trên thực tế CISG cũng có lịch sử ra
đời muộn hơn rất nhiều so với INCOTERMS. Như vậy có thể kết luận rằng tập quán quốc
tế tác động đến sự hình thành và phát triển của ĐUQT. Ngược lại, ĐUQT cũng có tác động
qua lại trong việc giúp hình thành tập quán. Một số nước không tham gia ĐUQT thường áp
dụng các quy định của ĐUQT dưới danh nghĩa là tập quán quốc tế.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hai loại nguồn này là nguồn chính điều
chỉnh quan hệ hợp đồng, đôi khi trong thực tiễn xuất hiện trường hợp cùng một hợp đồng
nhưng cả quy phạm Điều ước lẫn quy phạm tập quán cùng tham gia điều chỉnh. Chẳng hạn
như trong vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua , cả

33

CISG và INCOTERMS đều điều chỉnh thì áp dụng quy phạm nào. Thực chất chưa có một
quan điểm thống nhất về vấn đề sẽ áp dụng cái nào. Quan điểm một số nước và cả Việt
Nam có thiên hướng ưu tiên áp dụng ĐUQT. CISG không loại trừ khả năng để hai bên có
thể áp dụng tập quán, vì vậy cho dù cả hai bên trong hợp đồng có trụ sở thương mại tại các
nước thành viên CISG, khi hai bên thỏa thuận áp dụng CISG hay khi các quy tắc của tư
pháp quốc tế dẫn chiếu đến CISG thì các bên vẫn có thể thỏa thuận loại trừ một hoặc một
số điều của CISG. Chẳng hạn như hai bên thỏa thuận áp dụng CISG là luật điều chỉnh,
nhưng vẫn có thể chọn điều kiện giao hàng là FOB INCOTERMS 2000 và phải ghi rõ
trong hợp đồng.
Kết luận lại, không một ĐUQT, TQQT hay văn bản pháp luật quốc gia nào có sức
mạnh toàn năng, có thể điều chỉnh hết thảy những quan hệ phát sinh trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế nói chung cũng như vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ
người bán sang người mua. Kết luận lại, mối quan hệ giữa CISG, INCOTERMS, pháp luật
Việt Nam là mối quan hệ bổ sung hoàn thiện cho nhau. INCOTERMS không quy định vấn
đề giao kết hợp đồng, chuyển quyền sở hữu, và hậu quả của vi phạm hợp đồng như CISG
và pháp luật Việt Nam. Do đó, đối với những vấn đề một nguồn luật không quy định, các
thương nhân có thể thỏa thuận áp dụng hai nguồn luật còn lại.
Cụ thể hơn về vấn đề dịch chuyển rủi ro từ người bán sang người mua, trong ba loại
nguồn là CISG, INCOTERMS và pháp luật Việt Nam, có thể thấy quy định của
INCOTERMS là đầy đủ, cụ thể và rõ ràng nhất, trong từng điều kiện INCOTERMS xác
định rõ địa điểm, thời điểm giao hàng và thời điểm rủi ro đối với hàng hóa được chuyển từ
người bán sang người mua, vì vậy việc dùng INCOTERMS để bổ sung hoặc thay thế cho
vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua trong CISG hoặc
pháp luật Việt Nam là rất hữu ích. Hợp đồng có thể áp dụng CISG đối với các vấn đề mà
INCOTERMS không quy định, và áp dụng INCOTERMS đối với những vấn đề mà nó quy
định rõ ràng và cụ thể hơn CISG.

34

2.5.2. Mối quan hệ dưới góc độ là ba loại nguồn chính của thương mại quốc tế điều
chỉnh vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua
Xem xét CISG, INCOTERMS và pháp luật Việt Nam dưới góc độ ba loại nguồn
chính của thương mại quốc tế là điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, pháp luật quốc gia.Để
giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa ba loại nguồn chính của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế điều chỉnh vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang
người mua chúng ta cần trả lời được câu hỏi nếu trong trường hợp cả CISG,INCOTERMS
lẫn pháp luật Việt Nam đều có giá trị áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
thì sẽ áp dụng loại nguồn nào?
Phạm vi áp dụng của CISG được quy định như sau:
Thứ nhất nếu trong hợp đồng có điều khoản chọn luật áp dụng dẫn chiếu đến CISG
thì CISG sẽ được áp dụng. Vì hợp đồng luôn đề cao nguyên tắc tự thỏa thuận của các bên.
Thứ hai, nếu các bên tham gia hợp đồng không thỏa thuận nhưng CISG sẽ được tự
động áp dụng với điều kiện hai bên ký kết có trụ sở thương mại tại quốc gia là thành viên
CISG.
Thứ ba, các bên tham gia không phải cả hai là thành viên của Công ước nhưng khi
ký kết hợp đồng có thỏa thuận luật áp dụng. Khi vụ việc đưa đưa ra giải quyết tại nước
thành viên của Công ước thì cơ quan tài phán đưa ra phán quyết áp dụng CISG. Ví dụ như
trong phán quyết trọng tài ICC số 8502 tháng 11/1996 giải quyết tranh chấp giữa người bán
Việt Nam và người mua Pháp. Hai bên trong hợp đồng đã thỏa thuận áp dụng INCOTERM
1990 và UCP 500 của ICC. Nhưng trọng tài đã quyết định áp dụng CISG. 17
CISG không áp dụng trong trường hợp điều chỉnh mua bán hàng hóa tiêu dùng,
hàng bán đấu giá hoặc nhằm thực thi pháp luật hoặc quyền lực khác theo luật, mua bán
chứng khoán, không điều chỉnh các giao dịch liên quan đến những mặt hàng hóa theo quy
định tại Điều 2 CISG và Điều 3 CISG như tàu thủy, máy bay, bất động sản....; không áp
17

http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=395&step=FullText

35

dụng đối vơi tính hiệu lực của hợp đồng, sự tác động có thể phát sinh từ hợp đồng đối với
quyền sở hữu hàng hóa là đối tương của hợp đồng mua bán.
Đối với phạm vi áp dụng của INCOTERMS, INCOTERMS sẽ được áp dụng nếu
như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định, nghĩa là hai bên trong hợp đồng có thỏa
thuận là sẽ áp dụng INCOTERMS; khi các ĐUQT có liên quan quy định, ví dụ như CISG
có quy định việc áp dụng INCOTERMS.; khi luật thực chất( luật quốc gia) do các bên lựa
chọn không có hoặc có nhưng không đầy đủ.
Cuối cùng đối với Luật quốc gia, trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật
quốc gia được sử dụng nếu hai bên trong hợp đồng có thỏa thuận áp dụng; khi quy tắc của
tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật quốc gia, khi hai bên không thỏa thuận thì cơ quan tài
phán sẽ lựa chọn áp dụng dựa trên các quy tắc của tư pháp quốc tế như quy tắc luật nơi đặt
tòa án, luật nơi thực hiện hợp đồng, luật quốc tịch....
Việc xác định thứ tự ưu tiên áp dụng của ĐUQT, TQQT, Pháp luật quốc gia nói
chung và CISG, INCOTERMS nói chung là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi.
Đặt mối quan hệ của ba loại nguồn này trong sự tương quan so sánh giữa pháp luật
quốc gia và luật quốc tế. Trong đó CISG và INCOTERMS là pháp luật quốc tế và LTM
2005, BLDS 2015 là Pháp luật quốc gia. Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, pháp luật
quốc gia, mối quan hệ giữa các loại nguồn này là một trong những vấn đề cơ bản của Luật
quốc tế. Mối quan hệ này thường được quy định trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Hiến
pháp một số nước trên thế giới có xu hướng công nhận tính áp dụng trực tiếp và ưu thế của
luật quốc tế so với pháp luật quốc gia.
Hiến pháp các nước quy định khác nhau về vấn đề này và chủ yếu xuất phát từ hai
trường phái chủ yếu là: nhất nguyên và nhị nguyên 18.Đại diện cho học thuyết nhất nguyên
18

Trường phái nhất nguyên cho rằng luật quốc tế và luật quốc gia là một hệ thống pháp luật thống

nhất, trong đó luật quốc tế có vị trí ưu thế so với pháp luật trong nước. Hệ thống pháp luật trong
nước phải phù hợp, không được trái với pháp luật quốc tế. Tính ưu thế này luôn được đảm bảo,
không phụ thuộc vào việc luật quốc tế có được chuyển đổi/nội luật hóa trong hệ thống pháp luật

36

là H. Kelsel, A.Verdross, A.zorn, A.Lasson, B.Kunz. Đại diện cho học thuyết nhị nguyên
luận là H.Triepel, D.A.Anzilotti, H.Lauterpacht, L.Ehrlich.
Hiến pháp các nước thường quy định vị thế hay nói cách khác là thứ tự ưu tiến áp
dụng giữ điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia. Về thuyết nhất nguyên, Hiến pháp Hà
Lan( 1983) xếp các ĐUQT có vị thế cao hơn hiến pháp, nghĩa là các đạo luật trái với luật
quốc tế đều không có giá trị. Nhưng hiến pháp Hà Lan lại không đặt vị thế của tập quán
quốc tế ngang hàng với điều ước quốc tế. Nghĩa là chỉ có Điều ước quốc tế là có thứ tự ưu
tiên áp dụng cao hơn pháp luật quốc gia. Hay như hiến pháp của Liên bang nga quy định:
“Các nguyên tắc và quy định pháp luật quốc tế được thừa nhận chung cũng như các thỏa
thuận quốc tế của Liên bang Nga là một phần của pháp luật của Liên bang. Nếu một thỏa
thuận quốc tế của Liên bang Nga đặt ra các quy tắc khác với các quy định trong nước, thì
các quy tắc của thỏa thuận quốc tế được áp dụng”.
Trong khi đó ở một số nước như Italy, Đức, Áo, tập quán quốc tế có giá trị cao hơn
so với các đạo luật trong nước nhưng Điều ước quốc tế lại có giá trị ngang hàng với pháp
luật quốc gia, được xác định trong từng điều kiệu hoàn cảnh cụ thể. Theo Điều 9, Hiến
pháp Áo, “Các nguyên tắc được chấp nhận chung của luật quốc tế” được coi là một bộ
phận của luật quốc gia”. Điều 25, Luật cơ bản của Đức quy định : “Các nguyên tắc cơ bản
của Luật quốc tế là một bộ phận không tách rời của pháp luật Liên bang. Chúng có giá trị
ưu tiên so với các đạo luật và trực tiếp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho những người
cư trú trên lãnh thổ Liên bang”.19
Hiến pháp Việt Nam không quy định mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp
luật Quốc gia mà chỉ quy định thẩm quyền của Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng
quốc gia hay không. Điều này cũng có nghĩa, pháp luật quốc tế có thể áp dụng trực tiếp mà không
cần phải nội luật hóa. Trái lại, trường phái nhị nguyên cho rằng luật quốc tế và pháp luật quốc gia
là hai hệ thống pháp luật riêng biệt. Điều ước quốc tế phải được chuyển hóa và nội luật hóa thành
những quy định pháp luật quốc gia cụ thể, bằng không sẽ không được viện dẫn áp dụng ở Tòa án
quốc gia. Khi không có sự nội luật hóa, có thể xảy ra trường hợp một hành vi được coi là phù hợp
với quy định của pháp luật trong nước, nhưng lại trái với pháp luật quốc tế, và trong trường hợp
này, trường phái nhị nguyên cho phép các tòa án áp dụng pháp luật quốc gia.
19

Hurst Hannum, The Status of the Universal Declaration of Human Rights in National and International Law,

Georgia Journal of International and Comparative Law, Vol.25, 1996, p. 293.

37

chính phủ trong quan hệ đối ngoại, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Vấn đề này được
quy định trong Điều 6, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐUQT 2005, cụ thể:
1. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và ĐUQT mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về
cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐUQT.
2. Việc ban hành VBQPPL phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện
ĐUQT mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về
cùng một vấn đề.
3. Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của ĐUQT, Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của ĐUQT đồng thời
quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần ĐUQT đó đối với cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của ĐUQT đã đủ rõ, chi tiết để
thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành
VBQPPL để thực hiện ĐUQT đó.
Từ đó có thể thấy, pháp luật Việt Nam quy định ĐUQT có giá trị cao hơn các văn
bản quy phạm pháp luật, nếu các văn bản quy phạm pháp luật trái với Điều ước quốc tế thì
áp dụng ĐUQT và việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với Điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết. Tuy nhiên ĐUQT lại không có giá trị áp dụng một cách
đương nhiên mà được quyết định trong từng trường hợp cụ thể. Có nghĩa là pháp luật Việt
Nam coi trọng việc nội luật hóa các ĐUQT. Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ sẽ
quyết định về việc áp dụng trực tiếp ĐUQT vào thời điểm chấp nhận sự ràng buộc của
từng ĐUQT cụ thể trong trường hợp các quy định của ĐUQT đã đủ rõ, chi tiết để thực
hiện. Như vậy, việc xác định áp dụng trực tiếp phải được quyết định vào thời điểm chấp
nhận sự ràng buộc của từng điều ước; trong trường hợp không chấp nhận áp dụng trực tiếp
hoặc không có quy định về việc áp dụng trực tiếp các ĐUQT, thì ĐUQT đó phải được
chuyển hóa trong pháp luật quốc gia.

38

Bên cạnh đó, Điều 759 BLDS 2015 quy định như sau:
1. Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ
luật này có quy định khác.
2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy
định của điều ước quốc tế đó.
3. Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì
pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả
thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật
này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật
này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp
đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra Điều 5 LTM 2005 cũng có quy định về việc áp dụng ĐUQT và TQQT
trong quan hệ thương mại quốc tế:
1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại

39

quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định
của điều ước quốc tế đó.
2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận
áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước
ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam.
Từ đó có thể thấy Pháp luật Việt Nam thừa nhận ĐUQT có giá trị áp dụng cao hơn
pháp luật quốc gia, trong trường hợp hai nguồn luật này có sự mâu thuẫn thì áp dụng
ĐUQT thay cho pháp luật quốc gia. BLDS 2015 quy định trong trường hợp ĐUQT, PLQG
không có quy định thì tập quán quốc tế sẽ được áp dụng, qua đó có thể thấy BLDS đã thừa
nhận việc áp dụng tập quán quốc tế trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có
thứ tự ưu tiên sau ĐUQT và PLQG. Vì vậy trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
pháp luật Việt Nam vẫn ưu tiên áp dụng ĐUQT trước PLQG và tập quán thương mại quốc
tế.
Ngày 18/12/2015, Việt Nam chính thức phê duyệt gia nhập CISG và trở thành thành
viên số 84 của Công ước. CISG có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ 1/1/2017. CISG là
ĐUQT nên sẽ có giá trị áp dụng cao hơn pháp luật quốc gia. Từ những phân tích ở trên cho
thấy trong trường hợp Pháp luật Việt Nam như LTM 2005, BLDS 2015...có quy định về
dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua khác so với quy định của
CISG thì sẽ tuân theo quy định của CISG. Và theo quy định của BLDS 2015, trong trường
hợp CISG và pháp luật Việt Nam không có quy định liên quan thì INCOTERMS sẽ được
áp dụng.
Việc xác định loại nguồn nào có thứ tự ưu tiên áp dụng trước sẽ phụ thuộc vào quy
định của mỗi quốc gia cùng với các quy tắc của tư pháp quốc tế. Ở mỗi hệ thống pháp luật,
thứ tự ưu tiên áp dụng lại có sự khác nhau.
Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia điển hình công nhận quy phạm pháp
luật quốc tế có vị trí ưu thế hơn pháp luật quốc gia . Điều 55 Hiến pháp ngày 4/10/1958 của

40

Công hòa Pháp tại Mục 6 về Điều ước quốc tế đã quy định” Các điều ước quốc tế đã được
phê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy định, có hiệu lực cao hơn luật, kể từ ngày công
bố, với điều kiện điều ước quốc tế đó cũng được bên kia thực hiện”. Tuy nhiên, trong trật
tự các quy phạm pháp luật, Điều ước quốc tế có thứ tự ưu tiên áp dụng cao hơn các quy
phạm pháp luật quốc gia nhưng có giá trị áp dụng sau Hiến pháp.20
Hoa kỳ cũng có quy định tương tự như Pháp, Điều 6, Hiến pháp Hoa Kỳ quy định “
Hiến pháp này, các đạo Luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi Điều ước
đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là Luật tối cao của Quốc gia. Thẩm
phán ở các bang đều phải tuân theo quy định này...”
2.6.

Thực tiễn áp dụng quy định của CISG, INCOTERMS và pháp luật Việt Nam
về chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua tại Việt Nam

2.6.1. Thực tiễn áp dụng quy định của CISG về dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ
người bán sang người mua
CISG là Công ước được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Bởi lẽ,
đây là Công ước được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, một tổ
chức liên chính phủ lớn nhất hành tinh. Hơn thế nữa cách thức soạn thảo CISG cho thấy
những nỗ lực thật sự trong việc tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng
hóa quốc tế, mỗi quy định trong văn bản cuối cùng đều là kết quả của quá trình thảo luận
chi tiết, với việc xem xét đầy đủ và hợp lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các bên.
Nội dung của Công ước cũng được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn
mua bán hàng hóa quốc tế, được trọng tài quốc tế ủng hộ. 21Việt Nam bắt đầu áp dụng
CISG từ tháng 1/2017. Đây là mốc thời gian đánh dấu bước tiến của Việt Nam trong tiến
trình bước gần hơn đến việc sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn Công ước mang tầm vóc
quốc tế này. Cho dù trước đây khi chưa là thành viên của CISG thì trong quan hệ mua bán
hàng hóa quốc tế, hợp đồng giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài vẫn có
20
21

Article 55, France’s Constitution of 1958 with Amendments through 2008
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, ủy ban tư vấn về chính sách và thương mại quốc tế, Nghiên cứu đê
xuất Việt Nam gia nhập công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, phần thứ nhất, tr 13-14

41

khả năng chịu sự điều chỉnh của CISG theo Điều 1.1(b) của CISG( khi quy phạm xung đột
của nước tòa án dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của nước quốc gia thành viên) khi tòa án/
trọng tài quyết định áp dụng CISG như là luật áp dụng cho hợp đồng.
Tuy nhiên từ trước tới nay vẫn còn khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước
bởi vì tuy CISG được biết đến rộng rãi nhưng mức độ am hiểu về việc áp dụng và các lợi
ích xuất phát từ việc áp dụng CISG còn rất hạn chế. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật quốc
gia trong quá trình giải quyết tranh chấp. Hơn thế nữa, trong quan hệ hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế bên có lợi thế hơn trong hợp đồng thường thích sử dụng luật của nước
mình hơn áp dụng luật cho hợp đồng. Hiện nay ở Việt Nam, sự hiểu biết về CISG còn rất
hạn hẹp. Lấy ví dụ trên hệ thống dữ liệu chính thức của CISG( PACE), trong số hơn 1200
bài viết của học giả rất nhiều nước CISG, chỉ có 02 bài viết là của học giả Việt Nam viết về
CISG, nhưng chưa có bài nào viết về quan hệ của Việt Nam với CISG. 22
Từ đó cho thấy xu hướng sử dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng và giải quyết tranh
chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Chính vì thế, khả năng áp dụng các quy định về dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ
người bán sang người mua ở Việt Nam sẽ rất ít.
Hay trên trang dữ liệu chính thức của CISG( PACE) tính đến 25/1/2016 có tới 3152
vụ kiện liên quan đến CISG nhưng Việt Nam chỉ có một vụ kiện do người bán là Singapore
kiện Việt Nam.

23

Trong khi đó ở các quốc gia các phán quyết liên quan đến CISG là rất

lớn.
Ở Trung Quốc, CISG được áp dụng rất rộng rãi. Nhiều phán quyết của trọng tài
Trung Quốc được ban hành liên quan đến CISG, chủ yếu là của CIETAC( China
International Economic and Trade Arbitration Commission), con số này lên tới khoảng 300
phán quyết.24
Tiếp theo là Đức, đây là một trong những quốc gia tham gia CISG sớm nhất nên số
lượng các án lệ liên quan đến CISG của Đức cũng rất khổng lồ, các án lệ này chiếm 1/3

22

http://trungtamwto.vn/forum/topic/nhung-diem-bat-cap-cua-cong-uoc-vien-1980-ma-viet-nam-can-luu-y

23

http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/casecit.html#vietnam.

24

Claude Witz, L’essor de la Convention de Vienne en Asie (Sự bành trướng của Công ước Viên 1980 tại Châu Á),

Recueil Dalloz, 2009, tr.280

42

toàn bộ các án lệ được báo cáo tại CLOUT, UNILEX, PACE, 25thậm chí năm 2002, CISG
đã trở thành một phần của Bộ Luật Dân sự Đức. 26
Liên quan đến việc giải thích và áp dụng các quy định về dịch chuyển rủi ro đối với
hàng hóa từ người bán sang người mua, hiện nay không có một cơ quan tài phán chuyên
biệt để giải quyết các vụ kiện liên quan đến CISG. Các tranh chấp liên quan đến CISG
thường được giải quyết bởi tòa án quốc gia hoặc các cơ quan trọng tài. Quyền giải thích, áp
dụng công ước được trao hoàn toàn cho các cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết.
Trên trang dữ liệu chính thức của CISG( PACE) thống kê lại, các vụ tranh chấp liên
quan đến dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua khá là nhiều,
trong đó các vụ kiện liên quan đến Điều 66 CISG là 35 vụ, Điều 67 về dịch chuyển rủi ro
đối với hàng hóa trong trường hợp có địa điểm giao hàng và không có địa điểm giao hàng
nhất định là 61 vụ, Điều 68 về chuyển rủi ro đối với hàng hóa đang trên đường vận
chuyển là 10 vụ, Điều 69 có 27 vụ, Điều 70 có 3 vụ . Trong khi đó theo Thống kê của
UNCITRAL, có 23 vụ kiện liên quan đến điều 66 của CISG , 30 vụ kiện liên quan đến
điều 67 CISG, 6 vụ liên quan đến Điều 68 CISG, 19 vụ liên quan đến Điều 69 và Điều 70
là 1 vụ kiện. Quốc gia có lượng án lệ liên quan đến CISG nhiều nhất vẫn là Đức.
2.6.2. Thực tiễn áp dụng quy định của INCOTERMS về dịch chuyển rủi ro đối với
hàng hóa từ người bán sang người mua
Thứ hai, về xu hướng áp dụng quy định về vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng
hóa từ người bán sang người mua trong INCOTERMS. Việc sử dụng điều kiện nào của
INCOTERMS là do sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phụ thuộc vào hành
trình, phương thức vận tải, công cụ vận tải. Theo xu hướng chung của thị trường mua bán
hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp phần lớn đã cập nhập thường xuyên và áp dụng
INCOTERMS những phiên bản mới nhất là 2000 và 2010. Trên thực tế, đối với doanh
25

Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, ủy ban tư vấn về chính sách và thương mại quốc tế, tài liệu đã dẫn, tr
24.

26

Franco Ferarri (ed), The CISG and its Impact on National Legal Systems (Sellier. European Law Publishers GmbH,

Munich 2008) tr 144.

43