Tải bản đầy đủ
QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERMS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERM VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI B

QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERMS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERM VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI B

Tải bản đầy đủ

được bên bán yêu cầu hoặc ủy quyền nhận hàng . Một điểm cần lưu ý là Điều 67 không đều
chỉnh trường hợp người vận chuyển là nhân viên của bên bán, điều này dẫn đến việc, nếu
thiệt hại xảy ra không do lỗi của bên nào nhưng vì người vận chuyển là nhân viên của bên
bán thì bên mua vẫn được viện dẫn Điều 66 của Công ước để quy trách nhiệm cho bên bán.
Khoản 1 Điều 67 đưa ra hai trường hợp phụ thuộc vào việc người bán có phải giao
hàng tại một địa điểm xác định không.
Trường hợp thứ nhất, nếu hợp đồng quy định hàng hóa được giao cho người chuyên
chở tại một địa điểm giao hàng xác định thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được
chuyển cho bên mua khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở tại địa điểm xác định.
Trường hợp này không có gì khó hiểu trên thực tế, nó được áp dụng trong trường hợp hai
bên thỏa thuận giao hàng tại một địa điểm nhất định, rủi ro không được chuyển cho người
vận chuyển đầu tiên mà khi giao hàng cho bên vận chuyển tại địa điểm nhất định. Lấy ví
dụ về trường hợp người bán Ý và người mua Tây Ban Nha ký hợp đồng mua bán thép. Hợp
đồng theo INCOTERMS 1990. Khi hàng hóa được giao đến đích ở Tây ban nha thì phát
hiện khiếm khuyết. Nhưng khi chúng được bốc lên tàu ở cảng xuất phát ở Ý, thuyền trưởng
xác nhận điều kiện của lô hàng vẫn nguyên vẹn khi đưa lên tàu. Dựa vào hợp đồng, tòa án
Tây Ban Nha đã xác định thời điểm chuyển rủi ro là cảng xuất ở Ý như hai bên thỏa thuận
địa điểm giao hàng trong hợp đồng, cho nên trong trường hợp này bên người bán Tây Ban
Nha không phải chịu rủi ro đối với lô thép trên. 8
Việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng là một quyền quan trọng, đây là điều kiện
quan trọng để xác định việc bên bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng nên bên mua có
quyền thực hiện việc kiểm tra hàng hóa và có quyền quyết định có nhận hàng hay không.
Ví dụ : công ty A thỏa thuận với công ty B sẽ giao hàng tại địa đểm là kho số 1 của
công ty B, nhưng vì một số lý do công ty A lại giao sang kho số 2 của công ty B, tuy nhiên
công ty B vân nhận hàng. Trong trường hợp này vì công ty B vẫn nhận hàng hóa nên được
xem như đã đồng ý với việc thay đồi địa điểm. Trường hợp này nếu có rủi ro thì công ty B
vẫn phải chịu rủi ro giống như trường hợp có địa điểm giao hàng xác định. Nếu như bên B
không nhận hàng thì bên A phải chịu rủi ro vì đã không giao hàng đúng địa điểm đã thỏa
thuận.
8

Zoi Valioti, tài liệu đã dẫn, đoạn iii, phần A, chương II

12

Trường hợp thứ hai, nếu hợp đồng mua bán quy định việc vận chuyển hàng hóa và
người bán không bị buộc phải giao hàng tại địa điểm xác định, rủi ro được chuyển sang
người mua kể từ lúc hàng hóa được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao
cho người mua theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp này kể cả người bán
được ủy quyền giữ lại chứng từ sở hữu hàng hóa thì rủi ro vẫn được chuyển cho người mua
ngay từ thời điểm giao hàng hóa cho người vận chuyển đầu tiên.
Người vận chuyển đầu tiên được hiểu trong trường hợp hàng hóa để giao từ người
bán đến người mua phải sử dụng hơn một phương thức vận tải, chẳng hạn như hàng hóa
được vận chuyển bằng xe tải trong đường bộ, sau đó chuyển sang vận tải bằng tàu ở đường
thủy mới đến được nơi người mua thì người vận chuyển đầu tiên sẽ là xe tải đường bộ.
Việc người bán được phép giữ lại các chứng từ nhận hàng không ảnh hưởng gì đến
sự dịch chuyển rủi ro, người bán có thể giữ lại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu như một
biện pháp đảm bảo thanh toán mà không ảnh hưởng gì đến việc rủi ro đã được chuyển cho
bên mua.

Khoản 2 Điều 67 quy định rủi ro sẽ không được chuyển cho người mua nếu

hàng hóa không được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng cách ghi
ký hiệu trên hàng hóa, hoặc bằng các chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo gửi cho
người mua hoặc bằng các phương pháp khác.
2.1.2. Chuyển rủi ro trong từ người bán sang người mua trong trường hợp hàng hóa
đang trên đường vận chuyển
Căn cứ Điều 68 CISG , nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường
vận chuyển thì rủi ro về mất mát, hư hỏng của hàng hóa sẽ được chuyển cho người mua
ngay từ khi giao kết hợp đồng.
Rủi ro đối với hàng hóa được bán khi đang trên đường vận chuyển chuyển sang
người mua kể từ khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh chỉ ra rằng
rủi ro chuyển sang người mua kể từ khi hàng hóa được giao cho người chuyên
chở là người đã phát chứng từ xác nhận hợp đồng vận chuyển. Tuy nhiên, nếu
vào lúc giao kết hợp đồng mua bán, người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết sự
kiện hàng hóa đã bị mất mát hay hư hỏng và đã không thông báo cho người

13

mua về điều đó thì việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa đó do người bán phải
gánh chịu.
Hàng hóa đang trên đường vận chuyển thường là những loại hàng hóa được vận
chuyển với số lượng lớn, chưa xác định sẽ bán cho ai và hợp đồng mua bán hàng hóa được
giao kết trong khi hàng hóa đang trên đường vận chuyển . Trong trường hợp này rủi ro về
mất mát của hàng hóa sẽ được chuyển cho người mua từ thời điểm giao kết hợp đồng, trừ
trường hợp ngoại lệ là vào lúc giao kết hợp đồng người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết
sự kiện hàng hóa đã bị mất mát, hư hỏng nhưng không thông báo cho người mua về điều
đó thì rủi ro về mất mát hư hỏng của hàng hóa do người bán chịu.
Điều khoản này khá phức tạp và còn nhiều tranh cãi .Trên thực tế hầu hết trường
hợp mất mát hoặc thiệt hại, rất khó để xác định được chắc chắn thiệt hại xảy ra trước hay
sau thời điểm giao kết hợp đồng trừ khi sự kiện đó là rõ ràng như cháy nổ, đâm va. Điển
hình là container, khi mà các container được niêm phong sau khi được đưa lên tàu, vậy nên
rất khó xác định được thời điểm rủi ro xảy ra.9
2.1.3. Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác
Các trường hợp còn lại của dịch chuyển rủi ro được quy định trong Điều 69, CISG:
Trong các trường hợp không được nêu tại các điều 67 và 68, các rủi ro có thể
được chuyển sang người mua khi người này nhận hàng hoặc, nếu họ không làm
việc này đúng thời hạn quy định, thì kể từ lúc hàng hóa được đặt dưới quyền
định đoạt của người mua và người mua đã vi phạm hợp đồng vì không chịu
nhận hàng.
2. Tuy nhiên, nếu người mua bị ràng buộc phải nhận hàng tại một nơi khác với
nơi có xí nghiệp thương mại của người bán, rủi ro được chuyển giao khi thời
hạn giao hàng phải được thực hiện và người mua biết rằng hàng hóa đã được
đặt dưới quyền định đoạt của họ tại nơi đó.

9

Zoi Valioti, Passing of risk in international sale contracts: A comparative examination of the rules on risk under the

United Nation Convention on Contracts for the International Sales of Goods (Vienna 1980) and INCOTERMS 2000,
84 p, PACE, September 2003, , đoạn iv, phần A chương II.

14

3. Nếu hợp đồng mua bán liên quan đến hàng hóa chưa được cá biệt hóa, hàng
hóa chỉ được coi là đã đặt dưới quyền định đoạt của người mua khi nào nó
được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng này.
Điều 69 đưa ra các giải pháp cho những trường hợp không thuộc sự điều chỉnh của
Điều 67, Điều 68, cụ thể như sau:
- Hàng hóa được tiếp nhận tại trụ sở của người bán;
- Hàng hóa giao tại trụ sở thương mại của một người khác;
- Chuyển giao hàng hóa từ người bán sang người mua hoặc sang một người
chuyên chở mà được người mua chỉ định( không phải là bên thứ ba độc lập).
Trong cả ba trường hợp nêu trên, rủi ro được chuyển dịch sang cho người mua ngay
khi hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của họ.
Trong trường hợp thứ nhất, người mua tiến hành tiếp nhận hàng hóa tại cơ sở của
người bán, rủi ro sẽ được chuyển giao từ thời điểm người mua nhận chuyển giao hàng hóa
tại xưởng của người bán. Đối với trường hợp giao hàng xưởng của người bán, hàng hóa sẽ
được bảo quản tốt hơn cho đến lúc người mua nhận hàng. Tuy nhiên nếu người mua cố tình
không nhận hàng như đã thỏa thuận thì bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm vô thời hạn
đối với hàng hóa đó.
2.1.4. Rủi ro và các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng theo CISG ( Điều 70
CISG)
Điều 70 CISG điều chỉnh mối quan hệ giữa các biện pháp khắc phục của người mua
khi người bán vi phạm cơ bản hợp đồng và vấn đề chuyển rủi ro từ người bán sang người
mua. Theo điều khoản trên, các biện pháp khắc phục vẫn được duy trì và quy định của
Điều 67, Điều 68, Điều 69 về dịch chuyển rủi ro không ngăn cản bên mua thực hiện các
quyền của mình trong trường hợp người bán vi phạm cơ bản hợp đồng. Một điểm cần lưu
ý là rủi ro về mất mát và hư hỏng của hàng hóa không xuất phát từ vi phạm của người bán,
vì bản chất của rủi ro là tính ngẫu nhiên, không phụ thuộc và hành động của con người.
Theo điều 70, người mua có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục được quy định trong
CISG nếu người bán vi phạm hợp đồng , mặc dù rủi ro đã được chuyển cho người mua.
Người mua được áp dụng các biện pháp sau đây:

15

-

Tuyên bố hủy hợp đồng theo điều 49(1)(a), trong trường hợp này rủi ro sẽ được
chuyển lại cho người bán vì người mua sẽ không phải thanh toán cho hàng hóa
đó như trong hợp đồng. Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng toàn bộ, hoặc
chỉ hủy một phần. Nếu hủy toàn bộ thì không phải thanh toán cho tất cả khối
lượng hàng hóa. Nếu hủy một phần theo Điều 51(1) thì rủi ro đối với phần hàng

-

hóa không hủy hợp đồng vẫn do bên mua chịu.
Yêu cầu giao hàng hóa thay thế, theo Điều 46(2) CISG. Rủi ro cũng được
chuyển ngược lại cho người mua như trường hợp hủy hợp đồng. Tuy nhiên rủi
ro chỉ được chuyển ngược lại đối với khối lượng hàng hóa hư hỏng do vi phạm
của người bán. Còn số hàng hóa không cần thay thế thì rủi ro vẫn do người mua

-

chịu.
Yêu cầu người bán sữa chữa hàng hóa theo Điều 46(3), chỉ áp dụng đối trường

-

hợp hàng hóa hư hỏng chứ không mất mát.
Một biện pháp khắc phục khác là yêu cầu người bán giảm giá thành cho sản
phẩm. Dĩ nhiên, hàng hóa bị khiếm khuyết là do lỗi của bên bán chứ không phải

do rủi ro.
- Cuối cùng người mua có thể yêu cầu bồi thường theo Điều 74-77 của CISG.
Trong trường hợp vi phạm không phải vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG, rủi ro sẽ
được chuyển bình thường cho người mua và người mua chỉ được áp dụng các biện pháp
như yêu cầu sữa chữa, giảm giá và bồi thường thiệt hại cho hàng hóa bị hư hỏng trước thời
điểm chuyển rủi ro, đồng thời sẽ phải chịu bất cứ rủi ro về mất mát và hư hỏng của hàng
hóa do các sự kiện khách quan gây ra.
2.2. Quy định của INCOTERMS về dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán
sang người mua
Giống như CISG, INCOTERM chỉ quy định vấn đề rủi ro về giá cả, nghĩa là người
mua có phải thanh toán và người bán có được nhận thanh toán khi có rủi ro về mất mát hay
hư hỏng của hàng hóa hay không. INCOTERMS không điều chỉnh rủi ro xuất phát từ sự
thiếu sót hoặc vi phạm hợp đồng do các lý do khác.

16

Thời điểm chuyển rủi ro được quy định trong tất cả các phiên bản của
INCOTERMS, trong INCOTERMS 2010 được quy định trong mục A5, B5 của 11 điều
kiện.
2.2.1. Điều kiện nhóm E-EXW: Giao hàng tại xưởng
Cả phiên bản INCOTERMS 2010 lẫn 2000 đều quy định điều kiện EXW giống
nhau. Đây là điều kiện mà người bán hầu như không chịu bất cứ một trách nhiệm gì về
hàng hóa cũng như không cần thông quan xuất khẩu cũng như nhập khẩu cho hàng hóa.
Người bán phải giao hàng cho người chuyển chở hoặc người khác do người mua chỉ định
tại một địa điểm nhất định, rủi ro được chuyển từ lúc hàng hóa được giao cho người mua:
- Nếu địa điểm giao hàng là cơ sở của người bán, rủi ro được chuyển kể từ khi hàng
hóa được bốc lên phương tiện vận tải được người mua chỉ định.
- Nếu địa điểm giao hàng là một địa điểm khác thì thời điểm chuyển rủi ro là khi hàng
hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người chuyên chở do người mua chỉ định, hàng hóa
được đặt trên phương tiện vận tải của người bán và sẵn sàng để dỡ.
2.2.2. Điều kiện nhóm F: FCA, FAS, FOB
Trong nhóm F có 3 điều kiện là FOB, FCA, FAS, F là "free" - không có trách
nhiệm (việc vận chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác).
Sự khác nhau của ba điều kiện này là trách nhiệm vận chuyển của người bán tăng
dần dẫn đến thời điểm chuyển rủi ro cũng khác nhau.
2.2.2.1. FCA - Free Carrier - Giao cho người chuyên chở
FCA- giao cho người chuyên chở, người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc
một người khác do người mua chỉ định, tại cơ sở của người bán hoặc một địa điểm chỉ định
khác. Rủi ro sẽ được chuyển ngay khi giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm giao
hàng hai bên đã thỏa thuận:
- Nếu hàng hóa được giao tại cơ sở của người bán, rủi ro được chuyển ngay khi
hàng hóa đã được bốc lên phương tiện vận tải của người chuyên chở được người
mua chỉ định.

17

-

Trong trường hợp không phải cơ sở của người bán, rủi ro được chuyển khi hàng
hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của người chuyên chở hoặc một người
khác do người mua chỉ định trên phương tiện vận tải của người bán sẵn sàng để
dỡ.

2.2.2.2. FAS - Free alongside - Giao hàng dọc mạn tàu
Free alongside- miễn trách nhiệm khi hàng đã giao dọc mạn tàu. Đây là điều kiện
chỉ áp dụng cho phương thức vận tải đường thủy nội địa. Trách nhiệm của người bán trong
điều kiện này cao hơn ở FCA, người bán không giao hàng tại xưởng hoặc điểm trung
chuyển như hai điều kiện trên mà người bán phải thuê phương tiện vận chuyển để đưa hàng
xếp dọc mạn tàu cảng đi( cảng xuất khẩu) hoặc mua hàng hóa đã được giao như vậy . Rủi
ro cũng được chuyển từ thời điểm hàng hóa được xếp dọc mạn tàu.
2.2.2.3. FOB - Free on Board - Giao hàng lên tàu
Trong nhóm E, điều kiện FOB thể hiện trách nhiệm của người bán cao nhất. Hàng
hóa không được giao cho người chuyên chở hay giao dọc mạn tàu nữa mà người bán phải
giao hàng lên con tàu mà người mua chỉ định tại cảng xếp hàng chỉ định hoặc mua sẵn
hàng hóa đã được giao như vậy. Rủi ro được chuyển cho người mua kể từ thời điểm hoàn
tất việc giao hàng.
Trong hai điều kiện FAS và FOB, người mua phải có trách nhiệm thông báo về việc
chỉ định con tàu giao hàng và tàu nhận hàng do người mua chỉ định phải đến đúng hẹn để
người bán có thể giao hàng. Nếu tàu của người mua chỉ định không đến nhận hàng như đã
hẹn thì người bán phải thông báo cho người mua về sự chậm trễ này và người mua sẽ phải
chịu trách nhiệm rủi ro về mất mát và hư hỏng của hàng hóa kể từ ngày hai bên thỏa thuận,
hoặc bên bán thông báo về sự chậm trễ hoặc từ ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng.
Điều kiện FOB ở INCOTERMS 2010 có điểm khác so với INCOTERMS 2000, ở
phiên bản 2000, nghĩa vụ giao hàng của người bán hoàn thành khi hàng hóa đã qua lan can
tàu tại cảng bốc hàng quy định. Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro đối với hàng hóa cũng
được chuyển tại điểm ranh giới là lan can tàu. Sang đến INCOTERMS 2010, điểm tới hạn
này đã được cụ thể hơn là “ on board”- trên tàu.

18

2.2.3. Các điều kiện nhóm C: CPT, CIP, CFR, CIF
Trong nhóm này, có hai điều kiện dùng chung cho tất cả các phương thức vận tải đó
là: CPT và CIP, hai điều kiện chỉ dùng cho phương thức vận tải thủy nội địa là CFR và
CIF. Điểm chung của các điều kiện trong nhóm C là ở nhóm E, người bán chỉ giao hàng,
còn chịu mọi trách nhiệm về chi phí và rủi ro sẽ do người mua chịu đến nhóm F, trách
nhiệm của người bán có được tăng lên, bắt đầu đề cập đến trách nhiệm chuyên chở còn
nhóm C trách nhiệm của người bán lại tăng lên đó là đảm nhận luôn việc chuyên chở đến
cảng dỡ (cảng của nước nhập khẩu) cho người mua.
2.2.3.1. CFR - Cost and Freight - Tiền hàng và cước phí
Điều kiện này giống điều kiện FOB về trách nhiệm giao hàng của người bán và thời
điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua. Bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
cho bên mua khi hàng hóa đã được xếp lên tàu do người mua chỉ định tại cảng xếp hàng và
rủi ro cũng được chuyển từ người bán sang người mua kể từ thời điểm này. Điểm khác
nhau giữa điều kiện FOB và CFR là người bán phải chịu thêm chi phí chuyên chở hàng hóa
đến cảng nước nhập khẩu, còn chi phí dỡ hàng từ tàu xuống do người mua chịu. Giá CFR =
Giá FOB + F (Cước phí vận chuyển chặng vận tải chính).
Điều kiện này có hai điểm tới hạn là cảng xếp hàng và cảng đến ở nước nhập khẩu.
Cần phân biệt rõ hai địa điểm này vì cảng xếp hàng mới là địa điểm rủi ro được chuyển
sang cho người mua. Vì vậy các bên trong hợp đồng cần thỏa thuận rõ hai địa điểm này để
tránh tranh chấp.
Cũng giống như điều kiện FOB, ở điều kiện CFR của INCOTERMS 2000, rủi ro
cũng được chuyển khi người bán giao hàng qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
2.2.3.2. CIF – Cost, Insurance and Freight - Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
CIF giống CFR về việc bên bán thuê phương tiện vận tải và trả cước phí, chuyển rủi
ro. Nghĩa là cả ba điều kiện FOB, CFR, CIF thời điểm chuyển rủi ro giống nhau, rủi ro đều
được chuyển từ người bán sang người mua kể từ khi hàng hóa được giao lên tàu. Cả ba
điều kiện này ở trong INCOTERMS 2010 đều quy định khác INCOTERMS 2000 ở thời
điểm chuyển rủi ro là khi hàng hóa được giao trên tàu chứ không phải lan can tàu. Nhưng

19

trách nhiệm của người bán thì tăng dần, ở điều kiện CIF người bán phải chịu thêm chi phí
mua bảo hiểm cho lô hàng. Giá CIF = Giá FOB + F (cước vận chuyển) + I (phí bảo hiểm)
hoặc giá CIF = giá CFR+ I( phí bảo hiểm).
2.2.3.3. CPT - Carriage padi to - Cước phí trả tới
Đặc điểm nổi bật của CPT là giống hệt FCA về thời điểm chuyển rủi ro. Người bán
giao hàng cho người chuyển chở hoặc một người khác do người bán chỉ định tại một nơi
thỏa thuận. Rủi ro được chuyển cho người bán kế từ thời điểm hàng hóa được giao cho
người chuyên chở hoặc một người khác do người bán chỉ định. Điểm khác nhau giữa CPT
và FCA là người chuyên chở trong FCA là do người mua chỉ định còn CPT là người bán
chỉ định và ở điều kiện CPT ngời bán phải ký hợp đồng và trả chi phí vận tải cần thiết để
đưa hàng hóa đến địa điểm đích ở trong nội địa nước nhập khẩu.
CPT= giá FCA + f (Cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do
người mua chỉ định nằm trong nội địa nước nhập khẩu).
2.2.3.4. CIP - Carriage and insurance paid to - Cước phí và bảo hiểm trả tới:
Đặc điểm của CIP là giống hệt CPT, nghĩa là thời điểm chuyển rủi ro từ người bán
sang người mua là khi hàng hóa được giao cho người vận chuyển do hoặc một người khác
do người mua chỉ định và người bán sẽ phải chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải và
trả cước phí đến cảng dỡ hàng . Điểm khác là ở điều kiện CIP người mua sẽ phải chịu thêm
chi phí mua bảo hiểm cho hàng hóa đến điểm đến chỉ định.
Ở bốn điều kiện ở nhóm C, có một điều cần lưu ý là có hai địa điểm khác nhau, địa
điểm giao hàng và địa điểm là cảng đến hoặc địa điểm đến. Người bán chỉ chịu rủi ro đến
địa điểm giao hàng chứ không phải cho đến thời điểm đến cảng đến và địa điểm đến ở sâu
trong nước nhập khẩu.
2.2.4. Các điều kiện nhóm D
Đối với nhóm E, F, C thì việc bàn giao hàng hóa diễn ra ở nước xuất khẩu. Còn đặc
trưng của nhóm D là việc bàn giao hàng hóa diễn ra ở nước nhập khẩu. Vì vậy thời điểm
chuyển rủi ro của hàng hóa cũng khác biệt so với ba nhóm trên.

20

2.2.4.1. DAT - Delireres at terminal - Giao hàng tại bến
Người bán giao hàng, khi hàng hóa đã dỡ khỏi phương tiện vận tải, được đặt dưới sự
định đoạt của người mua tại một bến chỉ định, tại cảng hoặc nơi đến chỉ định. Người bán
phải chịu rủi ro đến khi hàng hóa được dỡ xuống bến quy định an toàn. Người bán nên quy
định rõ ràng bến, cảng hoặc nơi đến là một địa điểm cụ thể để xác định chính xác thời điểm
chuyển rủi ro cho bên mua.
2.2.4.2. DAP - Delivered at place - Giao hàng tại nơi đến
Ở điều kiện này trách nhiệm của người bán tăng lên so với DAT, người bán giao
hàng ở một nơi đến nằm sâu trong nội địa hơn so với địa điểm giao hàng của DAT. Người
bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện
vận tải, sẵn sàng để dỡ tại nơi đến chỉ định. Rủi ro sẽ được chuyển kể từ thời điểm này.
2.2.4.3. DDP - Delivered duty paid - Giao hàng đã thông quan nhập khẩu
Đây là điều kiện mà trách nhiệm của người bán nhiều nhất trong 11 điều kiện của
Incoterm. Người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người , đã
thông quan nhập khẩu , trên phương tiện vận tải chở đến và đã sẵn sàng để dỡ hàng tại nơi
đến quy định. Người bán sẽ chịu mọi chi phí và rủi ro kiên quan đến khi hàng hóa tới nơi
đến và có nghĩa vụ thông quan cho hàng hóa, cả thông quan xuất khẩu và thông quan nhập
khẩu, trả các khoản thuế, phí và thực hiện các thủ tục cho thông quan xuất khẩu và thông
quan nhập khẩu.
INCOTERMS 2010 đã bỏ đi 4 điều kiện DAF, DDU, DES, DEQ và thêm hai điều
kiện mới là DAT, DAP.
Ở điều kiện DAF( giao tại biên giới), người bán giao hàng hóa được đặt dưới quyền
định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải chở đến, chưa dỡ ra, đã hoàn thành thủ
tục thông quan xuất khẩu, nhưng chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu ở địa điểm và nơi
quy định tại biên giới rủi ro cũng được chuyển kể từ thời điểm này.
Ở điều kiện DES( giao tại tàu), người bán phải giao hàng dưới quyền định đoạt của
người mua trên boong tàu tại địa điểm dỡ hàng ở cảng đến quy định để thuận tiện cho việc
di chuyển hàng hóa ra khỏi tàu bằng thiết bị dỡ hàng phù hợp với tính chất của hàng hóa,

21

rủi ro đối với hàng hóa được chuyển giao kể từ khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng.
Ở điều kiện DEQ( giao tại cầu cảng), người bán giao hàng hóa chưa làm thủ tục
thông quan nhập khẩu trên cầu tàu ở cảng đến quy định, rủi ro đối với hàng hóa được
chuyển từ người bán sang người mua kể từ thời điểm người bán hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng.
Ở điều kiện DDU( giao hàng tại nơi đích quy định) , người bán thực hiện mọi nghĩa
vụ, chịu mọi chi phí và rủi ro để đưa hàng hóa tới địa điểm quy định tại nước người mua,
trừ nghĩa vụ làm thủ tục và trả chi phí thông quan nhập khẩu, rủi ro đối với hàng hóa được
chuyển cho người mua kể từ thời điểm hàng hóa được giao cho người mua tại điểm đích
quy định ở nước người mua nhưng chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu.
2.3. Quy định của Pháp luật Việt Nam về chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người
bán sang người mua
2.3.1. Bộ Luật Dân sự 2015
Điều 441 BLDS 2015 quy định :
“ 1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho
bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản, nếu
không có thoả thuận khác.
2.
Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải
đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên
mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận
tài sản, nếu không có thoả thuận khác”
Thời điểm chuyển rủi ro trong BLDS phụ thuộc vào thời điểm giao nhận hàng hóa.
Hành vi nhận hàng ở đây không quy định rõ là hành vi pháp lý hay hành vi thực tế. Như
vậy sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Nếu là hành vi pháp lý thì rủi ro sẽ
được chuyển tại thời điểm giao nhận hàng được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Còn
nếu là hành vi thực tế thì rủi ro sẽ được chuyển kể từ thời điểm bên bán giao hàng, bên mua
nhận hàng trên thực tế. Bởi vì có nhiều trường hợp, hợp đồng thỏa thuận ngày giao hàng là
một ngày nhưng hành vi nhận hàng thực tế là một ngày khác thì ai sẽ là người chịu rủi ro.

22