Tải bản đầy đủ
KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA

KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA

Tải bản đầy đủ

Vấn đề dịch chuyển rủi ro luôn luôn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, học thuyết
về dịch chuyển rủi ro được hình thành kể từ rất lâu đời. Tùy thuộc vào mỗi hệ thống pháp
luật, nền tảng và điều kiện xã hội, các học thuyết lại được xây dựng khác nhau, có ba học
thuyết chính về dịch chuyển rủi ro từ người bán sang người mua. 3
Học thuyết thứ nhất gắn thời điểm chuyển giao rủi ro với thời điểm giao kết hợp
đồng4. Học thuyết này không phù hợp với thực tiễn, bởi đối với phần lớn các hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, vào thời điểm hợp đồng được ký kết, hàng hóa vẫn nằm trong
tay người bán, nằm trong tầm kiểm soát của họ. Nếu người mua phải chịu rủi ro từ thời
điểm giao kết hợp đồng thì điều này là khó chấp nhận, bởi vì người mua có thể lập luận
rằng người bán đã không thực hiện nghĩa vụ mẫn cán một cách cần thiết, điều này sẽ dẫn
đến những tranh chấp nghiêm trọng và tranh tụng.
Học thuyết thứ hai gắn thời điểm chuyển dịch rủi ro với thời điểm chuyển dịch
quyền sở hữu.5 Học thuyết này cũng không phù hợp với thực tiễn bởi lẽ quyền sở hữu
không phải lúc nào cũng gắn với hoặc liên quan đến khái niệm rủi ro. Hơn nữa, học
thuyết này không lý giải được những thông lệ mới nhất trong mua bán hàng hóa với việc
giữ lại quyền sở hữu, đó là những trường hợp mà người bán vẫn giữ quyền sở hữu trong
khi người mua nắm giữ hàng hóa trên thực tế. Điều này có nghĩa rằng, người bán sẽ phải
chịu rủi ro đối với hàng hóa mà đã nằm dưới sự quản lý của người mua (cho đến khi
quyền sở hữu được chuyển giao cho người mua). Hệ quả này cũng khó mà chấp nhận
được (đối với người bán), do vậy dễ dàng nảy sinh việc kiện tụng.
Học thuyết thứ ba gắn thời điểm chuyển giao rủi ro với thời điểm chuyển giao
hàng hóa.6 Điều này có nghĩa là bên nào quản lý hàng hóa trên thực tế sẽ phải chịu rủi ro.
Học thuyết này tỏ ra hợp lý và công bằng hơn cả bởi lẽ bên nào chiếm hữu thực tế hàng
3

Zoi Valioti, tài liệu đã dẫn, đoạn iii, phần C , chương I

4

The theory of connecting the passing of risk to the conclusion of the contract is followed in Switzerland (Art. 185 of

the Swiss OR), Spain (Art. 1452 of the Spanish CC) and the Netherlands (Art. 1496 of the Dutch BW).
5

The second theory is adopted in England (SGA 1893 s 20(1), s 18 rule 1 and SGA 1979 s 20, sec. 18 rule 1), France

(Art. 1624/1138(2) French CC) and Italy (Art. 1465 Italian CC).
6

Germany (s 446 German CC), Greece (Art.522 Greek CC), Sweden (Art. 17 of the Swedish Act 1905) and United

States of America (para 2-509(3) UCC) follow the third theory and link the passing of risk with the handing/taking
over of the goods.

5

hóa sẽ ở một vị thế tốt hơn để bảo vệ chúng, thực hiện những biện pháp phòng ngừa cần
thiết để đảm bảo cho sự an toàn của hàng hóa, hoặc tiến hành những biện pháp thích hợp
để bảo vệ chúng sau khi sự kiện gây thiệt hại đã xảy ra, thu gom những hàng hóa còn
nguyên vẹn, đánh giá thiệt hại và yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm nếu hàng
hóa đã được mua bảo hiểm.
Hiện nay, cả CISG, INCOTERMS 2010, pháp luật Việt Nam đều căn cứ vào học
thuyết thời điểm chuyển rủi ro gắn liền với việc chuyển giao hàng hóa để quy định vấn đề
dịch chuyển rủi ro từ người bán sang người mua.
1.1.3. Thời điểm và hệ quả của dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang
người mua
Hàng hóa có thể chịu rủi ro trong nhiều thời điểm kể từ khi giao kết hợp đồng đến
lúc hàng hóa được chuyển giao. Trong thời gian đó, các thương nhân biết rõ luôn tồn tại
khả năng hàng hóa bị mất mát hoặc hư hỏng do các sự kiện bất ngờ và đột ngột và không
thể không có người chịu trách nhiệm. Hàng hóa có thể bị thiệt hại khi nó được đóng gói tại
kho của người bán, trên đường vận chuyển đến cảng để xuất khẩu hoặc trên suốt chặng
đường vận chuyển đến địa điểm giao hàng như thỏa thuận. Vì vậy, điều quan trọng là xác
định được: khi nào rủi ro về những mất mát đó được chuyển, tại thời điểm hàng hóa bị rủi
ro, bên bán hay bên mua phải chịu. Pháp luật về chuyển rủi ro về người bán sang người
mua do đó giải quyết vấn đề thời điểm dịch chuyển rủi ro mà trong một số trường hợp
người bán phải chi trả cho giá trị của hàng hóa cho dù họ không bao giờ được nhận lại số
hàng hóa đó hoặc nhận hàng hóa bị hư hỏng. Thời điểm chính là cột mốc xác định kể từ đó,
bên bán được giải phóng khỏi rủi ro, và hệ quả chính là bên mua sẽ bắt đầu chịu rủi ro về
hàng hóa, cho dù thực tế nhiều trường hợp bên mua vẫn chưa nhận được hàng hóa.
Khi rủi ro đã được chuyển cho người mua, cho dù hàng hóa bị hư hỏng hay mất mát
thì người mua vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận trong hợp đồng,
vẫn phải trả tiền và nhận hàng đúng thỏa thuận, trừ trường hợp rủi ro do mất mát và hư
hỏng hàng hóa là do lỗi của người bán.

6

1.2.

Khái quát qua về Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế 1980,
INCOTERMS 2010 và Pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề dịch chuyển rủi
ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua.

1.2.1. CISG
Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt
theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods)
được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế.
Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi Unidroit (Viện nghiên cứu
quốc tế về thống nhất luật tư). Unidroit đã cho ra đời của hai Công ước La Haye năm 1964:
một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động
sản hữu hình”, Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản
hữu hình. Công ước thứ nhất điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận
chào hàng). Công ước thứ hai đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và
các biện pháp được áp dụng khi một/các bên vi phạm hợp đồng. Tuy vậy, hai Công ước La
Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng. Lý do là vì hai Công ước này do một thiết
chế tư (Unidroit) soạn thảo nên không gây được ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới. Hơn nữa,
chỉ có những quốc gia Châu Âu (theo hệ thống luật Civil Law) tham gia vào việc soạn thảo
hai Công ước và vì vậy, chúng hầu như chỉ được biết đến và được áp dụng tại các quốc gia
này.
Năm 1968, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về
pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai
Công ước La Haye năm 1964. Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước
La Haye, song Công ước Viên có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản. Công ước này
được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban của

7

Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc
gia và 8 tổ chức quốc tế. CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988.7
Hiện nay CISG được thừa nhận và áp dụng rất rộng rãi, có 84 thành viên là các quốc
gia trên thế giới và Việt Nam là thành viên thứ 84 của Công ước. CISG có 4 phần, 101
Điều, trong đó có 5 điều quy định về chuyển rủi ro từ người bán sang người mua( Điều 66
– Điều 70).
1.2.2.

INCOTERMS
Phòng Thương mại Quốc tế( ICC) trong nỗ lực hài hòa hóa các điều khoản thương

mại quốc tế đã cho xuất bản phiên bản đầu tiên của INCOTERMS năm 1936. Kể từ đó,
ICC đã xuất bản thêm nhiều phiên bản của INCOTERMS nữa, tổng cộng có 8 phiên bản.
Lần sửa đổi đầu tiên được thực hiện vào năm 1953, INCOTERMS 1953 được sửa
đổi thay thế INCOTERMS 1936. Incoterms 1953 có 09 điều kiện thương mại được giới
thiệu chuyên sâu hơn bản Incoterms 1936 có 07 điều kiện nhưng về cơ bản vẫn theo trình
tự nghĩa vụ tối thiểu của người bán và người mua.
Lần sửa đổi thứ hai được thực hiện vào năm 1967. Bản INCOTERMS 1967 có 11
điều khoản bổ sung thêm 2 điều kiện DAF và DDP so với phiên bản năm 1953.
Lần sửa đổi thứ ba vào năm 1976, 11 điều kiện giao hàng tương tự như phiên bản
1967 nhưng bổ sung thêm điều kiện FOA( FOB Airport) - giao lên máy bay, để giải quyết
các vấn đề giao hàng tại sân bay.
Lần sửa đổi thứ tư, INCOTERMS 1980 ban hành với 14 điều kiện giao hàng trong
đó 12 điều kiện giao hàng tương tự như INCOTERMS 1976, bổ sung thêm hai điều kiện
CIP- cước phí và bảo hiểm trả tới địa điểm đích quy định và CPT, cước phí trả tới địa
điểm đích quy định.

7

Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, ủy ban tư vấn về chính sách và thương mại quốc tế, Nghiên cứu đê xuất

Việt Nam gia nhập công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr 5-6.

8

Lần sửa đổi thứ năm là phiên bản INCOTERMS 1990, bỏ đi hai điều kiện FOA và
FOT vì bản chất nó giống FCA và bổ sung thêm điều kiện DDU, giao hàng tại đích chưa
nộp thuế.
Lần sửa đổi thứ sáu là phiên bản INCOTERMS 2000, giữ nguyên 13 điều kiện như
INCOTERMS 1990 nhưng sửa đổi 3 điều kiện FCA, FAS và DEQ.
Lần sửa đổi cuối cùng và cũng là phiên bản INCOTERMS mới nhất là 2010, gồm
11 điều kiện trong đó thay thế 04 điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU trong INCOTERMS
2000 bằng hai phương thức vận tải là DAT-giao hàng tại bến và DAP- giao tại nơi đến.
Hầu như người ta không sử dụng các phiên bản cũ nữa mà tập trung dùng hai phiên
bản 2000 và phiên bản mới nhất là INCOTERMS 2010 bao gồm 11 Điều khoản và chia
làm hai nhóm dành riêng cho tất cả các loại hình vận tải và nhóm dành cho vận tải thủy
nội địa. INCOTERMS quy định các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của
các bên như trách nhiệm vận tải, thông quan hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách
nhiệm về những tổn thấtvà rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển.... Trong đó
thời điểm chuyển giao rủi ro được quy định cụ thể trong từng điều kiện. Mỗi điều kiện
khác nhau thì trách nhiệm của người bán và người mua sẽ khác nhau dẫn tới thời điểm rủi
ro được chuyển từ người bán sang người mua cũng khác nhau.
1.2.3.
Pháp luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam hiện hành về dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán
sang người mua đề cập chủ yếu trong hai văn bản pháp luật quan trọng là BLDS 2015 và
Luật Thương mại 2005. BLDS 2015 là luật gốc điều chỉnh nhiều các mối quan hệ dân sự
trong đó có quan hệ hợp đồng, là nền tảng để xây dựng và áp dụng các quy định của pháp
luật chuyên ngành như Luật Thương Mại, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Lao động... Vấn
đề dịch chuyển rủi ro được quy định ở Phần thứ ba: Nghĩa vụ và hợp đồng của BLDS 2015
và được cụ thể hóa trong Luật Thương mại 2005( từ điều 57- Điều 61). Trên thực tế các
quy định của pháp luật chuyên ngành là Luật Thương mại 2005 sẽ được áp dụng trước nếu
có tranh chấp về vấn đề dịch chuyển rủi ro và nếu có vấn đề gì chưa quy định mới dẫn
chiếu đến BLDS 2015. Luật Thương mại 2005 thay thế Luật Thương mại 1997 đã có

9

những bước tiến khi quy định các trường hợp chuyển rủi ro từ người bán sang người mua
cụ thể trong khi Luật Thương mại năm 1997 chỉ đề cập đến vấn đề dịch chuyển rủi ro đối
với hàng hóa từ người bán sang người mua khi hàng hóa đang trên đường vận chuyển trong
một điều khoản là Điều 76.
Ngoài hai văn bản pháp luật trên, vấn đề dịch chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ
người bán sang người mua còn được thể hiện gián tiếp thông qua Bộ Luật hàng hải 2005,
và sắp tới là Bộ luật hàng hải năm 2015. Bộ luật hàng hải không có quy định riêng điều
chình việc chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua, nhưng vẫn
chứa đựng những nguyên tắc có thể dẫn chiếu đến khi xác định trách nhiệm của các bên
trong trường hợp có rủi ro với hàng hóa xảy ra. Cụ thể, Bộ luật quy định thời điểm phát
sinh và chấm dứt trách nhiệm của người vận chuyển (điều 74), quyền và nghĩa vụ của
người vận chuyển (điều 75-80), trách nhiệm của người vận chuyển, người vận chuyển thực
tế và người làm công đại lý (điều 77) , quyền và nghĩa vụ của người gửi hàng, người giao
hàng (điều 81-84)…trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ vận chuyển.; quy
định các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải (xem điều 224 – 246).

KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Tóm lại, chương I đề cập đến những vấn đề sau đây:
- Khái niệm về chuyển rủi ro đối với hàng hoá từ người bán sang người mua đã
xuất hiện từ lâu đời trong thực tiễn mua bán hàng hoá quốc tế. Đa số cách tiếp cận khái niệm
này đều cho rằng rủi ro là những mất mát, hư hỏng hoàn toàn dựa vào yếu tố khách quan.
- Pháp luật Việt Nam về chuyển rủi ro đối với hàng hoá từ người bán sang người
mua nằm rải rác trong rất nhiều văn bản nhưng chủ yếu tập trung ở ba văn bản chính là
BLDS 2015, Luật Thương mại 2005, Bộ Luật hàng hải.

10

CHƯƠNG II:
QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERMS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ
CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI
MUA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA CISG, INCOTERM VÀ
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA
TỪ NGƯỜI BÁN SANG NGƯỜI MUA.
2.1. Quy định của CISG về vấn đề chuyển rủi ro từ người bán sang người mua
2.1.1. Chuyển rủi ro từ người bán sang người mua trong trường hợp giao cho người
chuyên chở
Điều 67 CISG quy định :
Khi hợp đồng mua bán hàng quy định việc vận chuyển hàng hóa và người bán
không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định, rủi ro được chuyển sang người
mua kể từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho
người mua chiếu theo hợp đồng mua bán. Nếu người bán bị buộc phải giao hàng
cho một người chuyên chở tại một nơi xác định, các rủi ro không được chuyển
sang người mua nếu hàng hóa chưa được giao cho người chuyên chở tại nơi đó.
Sự kiện người bán được phép giữ lại các chứng từ nhận hàng không ảnh hưởng
gì đến sự chuyển giao rủi ro.
Tuy nhiên, rủi ro không được chuyển sang người mua nếu hàng hóa không
được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng cách ghi ký mã
hiệu trên hàng hóa, bằng các chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo gửi cho
người mua hoặc bằng bất cứ phương pháp nào khác.
Trong điều luật trên “quy định việc vận chuyển” nghĩa là hàng hóa được chất lên
tàu, xe tải hoặc máy bay để vận chuyển đến tay người mua mà còn được hiểu là bao gồm
cả việc người bán có toàn quyền hoặc có nghĩa vụ sắp xếp người vận chuyển hàng hóa, tiến
hành những hành động cần thiết để vận chuyển hàng hóa đến chỗ người mua.
Người chuyên chở thứ nhất được hiểu là một bên thứ ba độc lập chịu trách nhiệm
vận chuyển hàng hóa chứ không phải là chính bên bán hoặc nhân viên của họ. Bên thứ ba

11