Tải bản đầy đủ
Chức năng của tiền tệ

Chức năng của tiền tệ

Tải bản đầy đủ

Để tiền làm được chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định
một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đo lường giá cả của hàng hóa. Đơn vị đó là một
trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên
gọi khác nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, tiêu chuẩn giá cả của 1 đồng đôla có hàm lượng vàng là
0.736662gr, ở Pháp 1 đồng frăng hàm lượng vàng là 0,160000gr, ở Anh 1 đồng Fun
St’zelinh có hàm lượng vàng là 2,13281 gr.. .Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá
cả không giống với tác dụng của nó khi dùng; làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền
tệ đo lường giá trị của các hàng hóa khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim
loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hóa tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao
động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không
ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi
như thế nào. Ví dụ. 1 đôla vẫn bằng 10 xen.
- Phương tiện lưu thông

Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng
hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy
tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.
Công thức lưu thông hàng hóa là: H - T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa
đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian.
Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén. Dần dần nó
được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một
phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.
Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì
tiền làm phương lện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại
dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải
có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giám bớt hàm lượng

7

kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa
của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Nhà nước có thể in tiền giấy ném vào
lưu thông. Nhưng vì bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của nén vàng, nên
nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được, mà phải tuân theo quy luật lưu
thông tiền giấy. Quy luật đó là: "việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng
vàng (hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự". Khi khối lượng
tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông,
thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện.
- Phương tiện cất trữ
Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm
được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất
trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có
đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm
cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với
nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng,
lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu
thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại
ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.
- Phương tiện thanh toán
Làm phương tiện thanh toán, tiền được
dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua
chịu hàng... Khi sản xuất và trao đổi hàng
hóa phát triển đến trình độ nào đó tất yếu
nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình
thức giao dịch này, trước tiên tiền làm
chức năng thước đo giá trị để định giá cả
hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để
làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả
năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong
việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống
chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh

8

tóan được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh
tế tăng lên.
- Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới
quốc gia thì nên làm chức năng tiền tệ thế
giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ
giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó
là vàng. Trong chức năng này, vàng được
dùng làm phương tiện mua bán hàng hóa,
phương tiện thanh toán quốc tế và biểu
hiện của cải nói chung của xã hội.
Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát
triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

4. Liên hệ vai trò tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay
Điều hành lãi suất linh hoạt, bám sát mục tiêu bao trùm của CSTT, đảm bảo là công cụ để
neo kỳ vọng lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Một số thay đổi trong
điều hành lãi suất những năm qua luôn tuân thủ nguyên tắc không gây ra những cú sốc thị
trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng
kinh tế. NHNN đã có những đánh giá, nhận diện khá chính xác tình hình để có được hướng
điều hành hợp lý nhất. Khi mặt bằng lãi suất cho vay ở mức rất cao, có thời điểm đã vượt
20%/năm, NHNN đã quyết định phải ổn định lại mặt bằng lãi suất thông qua áp dụng cơ chế
kiểm soát lãi suất trực tiếp (quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay). Việc áp
dụng trần lãi suất huy động đã giúp giảm động cơ cạnh tranh không lành mạnh giữa các
TCTD, hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường. Trong khi đó, việc quy định trần lãi suất cho vay,
đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh
nghiệp. Bên cạnh những ứng biến linh hoạt trong việc sử dụng công cụ trần lãi suất, các
mức lãi suất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn
dắt thị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và
tiền tệ trong từng thời kỳ. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công
nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanh nghiệp,
nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ.

9

Điều hành tỷ giá ổn định, hỗ trợ tích cực cho công tác kiểm soát, kiềm chế lạm phát Hàng
năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá giao động trong khoảng 1%3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1% trong các tháng cuối năm 2011, không quá
2%-3% trong năm 2012 và 2013; không quá 1%-2% trong năm 2014, không quá 2% trong
năm 2015) nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường, đồng thời tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Tần suất điều
chỉnh tỷ giá cũng giảm dần so với giai đoạn trước. Sau lần điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân
liên ngân hàng 9,3%/năm vào giữa tháng 2/2011 (trong bối cảnh thị trường ngoại tệ căng
thẳng kéo dài do tác động của giá vàng thế giới và lạm phát tăng cao), mỗi năm tiếp theo tỷ
giá được điều chỉnh tăng nhẹ qua các năm (1%-2%/năm), ngoại trừ năm 2015 sau sự kiện
phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và kỳ vọng điều chỉnh tăng lãi suất điều hành của
Fed. Trong quá trình điều hành, bên cạnh các biện pháp trực tiếp như công bố tỷ giá giao
dịch bình quân liên ngân hàng, các kỹ thuật can thiệp thị trường, NHNN đã chủ động phối
hợp đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ để hạn chế tối đa các áp lực tác động đến ổn
định của tỷ giá. Theo đó, NHNN đã chú trọng điều hành công cụ lãi suất, gồm cả lãi suất
nội tệ và lãi suất ngoại tệ phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích nắm giữ
đồng nội tệ, khuyến khích công chúng chuyển từ nắm giữ USD sang VND. Ngoài ra,
NHNN cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong việc điều tiết
mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản hợp lý, nhằm hạn chế
sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biến động và thanh khoản hệ
thống dư thừa. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh và đầu tư

10