Tải bản đầy đủ
Lịch sử ra đời của tiền tệ

Lịch sử ra đời của tiền tệ

Tải bản đầy đủ

Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn
nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa này có thể quan
hệ với nhiều hàng hóa khác. Tương ứng với giai đoạn này là hình thái giá trị đầy đủ hay mở
rộng.

Đây
sự


mở

rộng
hình thái
giá

trị

giản đơn hay ngẫu nhiên. Trong ví dụ trên, giá trị của 1m vải được biểu hiện ở 10kg thóc
hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng. Như vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở
nhiều hàng hóa khác nhau. Tuy nhiên, vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa cố định.
- Hình thái chung của giá trị:

3

Với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng
hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao đổi do đó trở
nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà
lại cần thứ khác. Vì thế, việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao
đổi. Trong tình hình đó, người ta phải đi con đường vòng, mang hàng hóa của mình đổi lấy
thứ hàng hóa mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem hàng hóa đó đổi lấy thứ hàng hóa

mà mình cần. Khi vật trung gian trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hóa được nhiều
người ưa chuộng, thì hình thái chung của giá trị xuất hiện.
Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai
trò là vật ngang giá chung. Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng
hóa nào. Các địa phương khác nhau thì hàng hóa dùng làm vật ngang giá chung cũng khác
nhau.
- Hình thái tiền tệ:

4

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa
và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao
đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình
thành vật ngang giá chung thống nhất. Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật
độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị.
Lúc đầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim loại

quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng. Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu
điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng và thể tích
nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn. Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài
của sản xuất và trao đổi hàng hóa . Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được phân thành
hai cực: một bên là các hàng hóa thông thường; còn một bên là hàng hóa (vàng) đóng vai trò
tiền tệ. Đến đây giá trị các hàng hóa đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất. Tỷ lệ trao
đổi được cố định lại.

2. Bản chất của tiền tệ:
Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Các nhà kinh tế trước C.Mác giải thích tiền tệ từ hình thái phát triển cao
nhất của nó, bởi vậy đã không làm rõ được bản chất của tiền tệ. Trái lại, C.Mác nghiên cứu
tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, từ sự phát triển của các hình
thái giá trị hàng hóa, do đó đã tìm thấy nguồn góc và bản chất của tiền tệ.
Vậy, tiền tệ là hàng hóa đặc biệc được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá
chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ
giữa những người sản xuất hàng hóa.
Về bản chất, tiền tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ là phương
tiện giúp cho việc trao đổi được diễn ra dễ dàng hơn.

 Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:

5

Gía trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thỏa mã nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng
làm vật trung gian trong trao đổi. Như vậy người ta sẽ chỉ nằm giữ tiền khi có nhu cầu trao
đổi. Gía trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui đinh: chừng nào xã hội còn thừa
nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì
chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại. Đây chính là lời giải thích
cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử.
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm "sức mua tiền tệ", đó là khả năng đổi được
nhiều hay ít hàng hóa khác trong trao đổi. Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được
xem xét trên phương diện toàn thể các hàng hóa trên thị trường.

3. Chức năng của tiền tệ
Theo C.Mác, tiền tệ có năm chức năng sau đây:
- Thước đo giá trị
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của
các hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của các
hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị.
Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị
phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hóa
không cần thiêt phải là tiền mặt mà chỉ cần so
sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng. Sở dĩ
có thế làm được như vậy vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có
một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản
xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay
nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
Giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:
+ Giá trị hàng hóa.
+ Giá trị của tiền.
+ Quan hệ cung – cầu về hàng hóa.
Nhưng vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả nên trong ba nhân tố nêu trên thì giá trị vẫn
là nhân tố quyết định giá cả.

6