Tải bản đầy đủ
2 Nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn mang thai

2 Nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn mang thai

Tải bản đầy đủ

9

1.2.1.1 Nhu cầu năng lượng
Nhu cầu năng lượng của người mẹ gia tăng trong thai kỳ, chủ yếu là do tăng khối
lượng cơ thể của mẹ và sự phát triển của thai nhi. Khoảng một phần ba nhu cầu calories
tăng trong thai kỳ liên quan đến tăng hoạt động của tim và một phần ba là do tăng nhu cầu
năng lượng để hô hấp và bồi tụ của các mô vú, cơ tử cung và nhau thai. Thai nhi chiếm
khoảng một phần ba tăng nhu cầu năng lượng của thai kỳ. Sự gia tăng nhu cầu về năng
lượng ở mức trung bình mang thai là 300 kcal một ngày, hoặc tổng cộng 80.000 kcal [2].
1.2.1.2 Nhu cầu Carbohydrates
Carbohydrate chiếm khoảng 50-60% tổng lượng calories trong khi mang thai. Phụ nữ
nên tiêu thụ tối thiểu 175 gam carbohydrate để đáp ứng nhu cầu phát triển cho não của
thai nhi. Tính trung bình, phụ nữ ở Mỹ tiêu thụ 53% lượng calories (269 g) [3]
carbohydrate trong khi mang thai. Thực phẩm cơ bản như các loại rau, trái cây, các sản
phẩm ngũ cốc nguyên hạt có chứa chất xơ và một loạt các chất dinh dưỡng khác là những
sản phẩm có chứa hàm lượng carbohydrate cao. Những loại thực phẩm cung cấp các
dưỡng chất có lợi cho sức khỏe chẳng hạn như chất chống oxy hóa có nguồn gốc thực vật.
Ngoài ra, nguồn carbohydrate không đường và chất béo tốt hơn, nó có thể giúp phụ nữ
quản lý câng nặng khi mang thai.
1.2.1.3 Nhu cầu Protein
Lượng protein được khuyến cáo trong thời kỳ mang thai là 71 gam mỗi ngày và
khoảng 1,1 gam / kg trọng lượng cơ thể. Tính trung bình phụ nữ mang thai ở Mỹ tiêu thụ
78 gam protein mỗi ngày [3]. Sự thích nghi sinh lý trong quá trình chuyển hóa protein giúp
đáp ứng nhu cầu của người mẹ và thai nhi. Do đó, hầu hết protein không được sử dụng để
cung cấp năng lượng mà chủ yếu sử dụng để tổng hợp protein [4]. Yêu cầu protein tăng
trong khi mang thai chủ yếu do sự bồi tụ mô protein. Trong số khoảng 925 gam protein (2
pounds) tích lũy trong các mô protein trong quá trình mang thai, thì 440 gam được sử
dụng trong sự phát triển của thai nhi, 216 gam được sử dụng để gia tăng trong máu người
mẹ và thể tích dịch ngoại bào, 166 gam được tiêu thụ bởi tử cung và 100 gam được tích
lũy bằng nhau thai. Protein bổ sung cũng cần thiết để duy trì các mô protein phát triển [3].

10

1.2.1.4 Nhu cầu chất béo
Người ta ước tính rằng phụ nữ mang thai tiêu thụ trung bình 33% trong tổng số
calories từ chất béo. Chất béo cung cấp như một nguồn năng lượng cho sự tăng trưởng và
phát triển của thai nhi. Chất béo cũng cung cấp các acid béo thiết yếu góp phần vào sự
tăng trưởng và phát triển của thai nhi. Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ mang thai nên
cung cấp khoảng 13 gam acid linoleic thiết yếu hàng ngày và 1,4 gam acid béo thiết yếu
khác như acid alphalinolenic. Chế độ ăn uống tại Hoa Kỳ có xu hướng cung cấp đủ lượng
acid linoleic nhưng quá ít acid alphalinolenic và các acid béo khác liên quan [5][6].Nguồn
thực phẩm giàu acid linoleic bao gồm ngô, hạt hướng dương, dầu đậu nành. Acid alpha
linolenic được tìm thấy trong hạt lanh, quả óc chó, đậu tương, dầu hạt cải và các loại rau
lá xanh.
Linoleic và acid alphalinolenic góp phần tạo nên các thành phần cấu trúc của màng tế
bào. Bộ não, võng mạc và các mô thần kinh khác của thai nhi đặc biệt rất giàu các acid
béo. Các dẫn xuất của acid linoleic và acid alphalinolenic là tiền thân cho eicosanoids
(Các phân tử tổng hợp từ các axit béo thiết yếu kiểm soát nhiều hệ thống của cơ thể chủ
yếu trong miễn dịch), điều hòa nhiều chức năng tế bào và nội tạng [7]. Acid alphalinolenic
bao gồm axit eicosapentaenoic (EPA) và acid docosahexaenoic (DHA) đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong thời kỳ mang thai. EPA và DHA là cao phân tử không no: EPA
chứa 5 nối đôi giữa cacbon và DHA có chứa 6 nối đôi. Các liên kết đôi có xu hướng phá
vỡ khi tiếp xúc với ánh sáng, nhiệt độ hoặc oxy trong không khí.
1.2.1.4.1 Acid béo omega 3 và DHA khi mang thai
EPA và DHA có thể cung cấp từ các nguồn thực phẩm acid alphalinolenic nhưng chỉ
với số lượng hạn chế. Ở phụ nữ mang thai, 9% acid alphalinolenic được chuyển thành
EPA và DHA [8]. Lượng vừa đủ của các acid béo omega-3 phụ thuộc vào việc tiêu thụ
nguồn thực phẩm của EPA và DHA hoặc sử dụng các chất bổ sung. Cá và hải sản là hai
nguồn thực phẩm giàu EPA và DHA. EPA và DHA được chọn lọc và vận chuyển qua
nhau thai vào thai nhi. Khi cơ thể mẹ có đầy đủ lượng acid béo thì hàm lượng EPA và
DHA trở nên cao hơn trong máu thai nhi trong ba tháng cuối của thai kỳ. EPA và DHA
của người mẹ có thể bị cạn kiệt trong khi mang thai do sử dụng bởi các thai nhi đang phát
triển.
Các dẫn xuất eicosanoids của EPA làm giảm viêm, giãn các mạch máu và làm giảm
đông máu. DHA là một thành phần cấu trúc chính của phospholipid trong màng tế bào

11

của hệ thần kinh trung ương. Các giai đoạn quan trọng của sự tăng trưởng và phát triển là
khi các mô hệ thống thần kinh trung ương đang được hình thành, hoạt động của hệ thống
thần kinh trung ương trở nên tối ưu vì vậy cần cung cấp đầy đủ lượng DHA. Những phụ
nữ được cung cấp đủ lượng EPA và DHA trong quá trình mang thai và cho con bú sẽ có
xu hướng sinh ra đứa trẻ thông minh hơn, tầm nhìn tốt hơn và trung tâm hệ thần kinh
chức năng phát triển hơn so với những người mẹ cung cấp thiếu acid béo. Cung cấp đầy
đủ lượng EPA và DHA trong quá trình mang thai sẽ kéo dài thời gian mang thai trung
bình 4 ngày và làm giảm nguy cơ sinh non.
1.2.1.4.2 Khuyến nghị chế độ ăn uống chứa EPA và DHA
Một lượng vừa đủ EPA và DHA trong quá trình mang thai được ước tính là 250 mg
hoặc hơn mỗi ngày [9]. Hầu hết phụ nữ ở Hoa Kỳ tiêu thụ thấp hơn một phần ba trong số
này. Những phụ nữ ăn chay thường thiếu EPA và DHA trong cơ thể. Cơ quan quản lý
thuốc và thực phẩm khuyến cáo rằng lượng EPA và DHA không được vượt quá 3 gam
mỗi ngày. EPA và DHA được tìm thấy trong cá, dầu cá, hải. Dầu gan cá có thể chứa một
lượng tương đối cao vitamin A và D. Dầu cá thường chứa hàm lượng thấp các vitamin.
DHA có sẵn từ lòng đỏ trứng, nước cam, một số loại tảo và các sản phẩm khác. Sữa mẹ
cũng là một nguồn cung cấp chứa nhiều DHA.
Do sự hiện diện của thủy ngân và các chất gây ô nhiễm khác trong một số loại cá, nên
khuyên cáo rằng những phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú không nên tiêu thụ nhiều
hơn 12 ounces (khoảng 336 gam) cá mỗi tuần. Nhiều phụ nữ mang thai e ngại việc ăn cá
trong thai kỳ do lo lắng rằng thủy ngân và các chất ô nhiễm khác có thể gây hại cho em
bé. Việc không ăn cá do sự e ngại về những rủi ro và lợi ích có thể dẫn đến hệ thần kinh
của bé phát triển dưới mức tối ưu. Đối với những phụ nữ không thích ăn cá có thể bổ sung
dầu cá sẽ an toàn và có lợi hơn.
1.2.1.5 Nhu cầu nước
Trong thời kỳ mang thai phụ nữ thường cảm thấy khát nước nhiều hơn do sự tăng
nhu cầu nước của cơ thể [10]. Tính trung bình, phụ nữ uống khoảng 9 cốc nước hàng ngày
trong suốt thai kỳ. Những phụ nữ tham gia vào các hoạt động thể chất ở vùng khí hậu
nóng và ẩm nên uống đủ để giữ cho nước tiểu có màu sáng và bình thường. Nước, nước
trái cây pha loãng, trà đá và đồ uống không đường khác là sự lựa chọn tốt cho việc giữ
nước cho cơ thể.

12

1.2.1.6 Nhu cầu vitamin khi mang thai
Yêu cầu đối với hầu hết các vitamin và khoáng chất là phải cung cấp nhiều hơn trong
thời kỳ mang thai do nhu cầu trao đổi chất liên quan đến nhau thai và phát triển của thai.
Sự thích nghi sinh lý của bà mẹ liên quan đến những thay đổi về vitamin, hấp thu và sử
dụng khoáng chất để đáp ứng với nhu cầu thay đổi cho các chất dinh dưỡng trong thời kỳ
mang thai.
1.2.1.6.1 Folate
Acid folic (hay còn gọi là Folate) là một loại vitamin nhóm B đóng vai trò quan trọng
cho sự phát triển của thai nhi ngay từ những thời gian đầu mang thai. Đối với phụ nữ
trong độ tuổi sinh nở, chuẩn bị hoặc đang mang thai thì việc bổ sung acid Folid sẽ giúp
con tránh được các khiếm khuyết ống thần kinh như bệnh nứt đốt sống…
Từ lâu việc cung cấp Folate khi mang thai đã gắn liền với thiếu máu trong thai kỳ và
giảm tăng trưởng của thai nhi. Tuy nhiên, chỉ trong hai thập kỷ qua thì vai trò của Folate
mới được công nhận.
Chức năng của Folate: Folate là một nhóm methyl (CH 3) cùng với các enzyme đồng
yếu tố trong phản ứng chuyển hóa liên quan đến việc tổng hợp DNA, biểu hiện gen và
điều hòa gen. Thiếu acid folic sẽ làm suy yếu các quá trình dẫn đến phân chia tế bào bất
thường và hình thành các mô. Folate đóng vai trò như một chất chuyển đổi homocysteine
thành acid amin methionine. Việc chuyển đổi này chủ yếu phụ thuộc vào enzyme và
Folate, vitamin B12 và vitamin B6. Đặc biệt thiếu Folate và thường thiếu lượng nhỏ
vitamin B12 cũng như những bất thường trong các enzyme có thể dẫn đến sự tích tụ của
homocysteine. Điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu methionine ở một giai đoạn quan
trọng của sự phát triển thai nhi. Mức độ tế bào và huyết tương của homocysteine cao có
thể làm tăng nguy cơ vỡ nhau thai, sinh non, cấu trúc bất thường (dị tật bẩm sinh) ở trẻ sơ
sinh và giảm cân nặng khi sinh. Bổ sung acid folic (500-600 mcg mỗi ngày) sẽ giúp cải
thiện kết quả thai kì.
Nguồn thức ăn chứa Folate: Nhiều loại rau và trái cây là nguồn cung cấp Folate
nhưng chỉ có một vài loại thực phẩm chứa mẫu cao sinh học của Folate. Nước cam, nước
ép dứa, nước ép đu đủ, đậu khô, ngũ cốc, bánh mì, mì ống, cơm là một số loại thực phẩm
mà tự nhiên có chứa các cao sinh học và cung cấp acid folic. Việc cung cấp acid folic
trước và trong khi mang thai có thể được ước tính bằng cách cộng số lượng acid folic
trong thực phẩm thường được tiêu thụ trong chế độ ăn uống hàng ngày. Các sản phẩm

13

ngũ cốc nguyên hạt bao gồm bánh mì và mì ống, gạo nâu, bột yến mạch, vụn lúa mì và
các sản phẩm ngũ cốc hữu cơ có thể hoặc không thể được bổ sung acid folic.
1.2.1.6.2 Choline
Choline là một loại vitamin B phức tạp mà con người có thể sản xuất được, chế độ ăn
uống chứa choline rất hạn chế vì vậy cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể. Nhu cầu
choline tăng trong khi mang thai do nó đóng vai trò như là một thành phần của
phosopholipids trong màng tế bào. Choline có thể được chuyển đổi sang betaine phục vụ
như là một nguồn của methyl được sử dụng để điều chỉnh chức năng của gene, ống thần
kinh, phát triển não bộ và việc chuyển đổi của homocysteine methionine. Một lượng lớn
choline được vận chuyển qua máu của người mẹ đến phôi thai và thai nhi trong quá trình
mang thai. Choline cần cung cấp trong thời kỳ mang thai là 450 mg mỗi ngày. Một số
chuyên gia lo ngại rằng phụ nữ mang thai có thể không cung cấp đủ choline cho sự phát
triển não của thai nhi. Choline được cung cấp đầy đủ đối với những phụ nữ thường xuyên
sử dụng trứng và thịt, nó là hai nguồn chính của vitamin này.
1.2.1.6.3 Vitamin A
Vitamin A là một chất dinh dưỡng quan trọng trong thời kỳ mang thai vì nó đóng vai
trò quan trọng trong các phản ứng liên quan đến việc phân chia tế bào. Thiếu vitamin này
rất hiếm ở phụ nữ mang thai ở các nước công nghiệp phát triển nhưng là một vấn đề lớn ở
nhiều quốc gia đang phát triển. Hơn 50% trẻ em ở Việt Nam thiếu hụt vitamin A trong
chế độ ăn hằng ngày (Theo Khảo sát tình trạng Dinh dưỡng của Trẻ em Việt Nam và khu
vực Đông Nam Á). Vitamin A thiếu hụt xảy ra sớm trong thai kỳ có thể dẫn đến các dị tật
của phổi, đường tiết niệu và tim của thai nhi. Đáng lo ngại hơn thiếu vitamin A là những
vấn đề liên quan đến việc cung cấp quá nhiều vitamin A ở dạng retinol hoặc acid retinoic
(nhưng không phải beta carotene). Việc sử dụng các loại thuốc như Accutane và Retin-A
giảm mụn trứng cá và nếp nhăn khi điều trị làm tăng nguy cơ bất thường của thai nhi. Đặc
điểm của hội chứng này bao gồm tai nhỏ hoặc không có tai, ống tai bất thường, bị dị tật
não và khuyết tật tim. Do độc tính tiềm tàng của retinol, khuyến cáo rằng phụ nữ dùng
không quá 5.000 IU vitamin A khi mang thai.

14

1.2.1.6.4 Vitamin D
Vitamin D hỗ trợ tăng trưởng của thai nhi bổ sung canxi cho xương, răng và hình
thành men răng. Cung cấp không đủ vitamin D trong thời gian mang thai làm ảnh hưởng
đến thai nhi cũng như sự phát triển xương ở trẻ em [11]. Trẻ sinh ra với tình trạng thiếu
vitamin D có xu hướng nhỏ hơn trung bình, nhiều khả năng có mức canxi trong máu thấp
(hạ canxi trong máu) lúc mới sinh và nhiều khả năng có xương kém vôi hóa và men bất
thường. Vitamin D cũng hỗ trợ chức năng bình thường của hệ thống miễn dịch và có thể
ức chế viêm. Phụ nữ béo phì có nguy cơ thiếu vitamin D do mức độ lưu trữ vitamin D từ
các tế bào chất béo thấp. Có đến 61% số người phụ nữ béo phì đã được xác định là có
nồng độ vitamin D thấp hơn so với khoảng 36% ở phụ nữ không béo phì [12]. Phụ nữ ăn
chay có nguy cơ thiếu vitamin D vì vitamin D tự nhiên chỉ trong các sản phẩm từ động
vật.
Khuyến nghị đối với vitamin D trong mang thai: Phụ nữ mang thai được khuyến cáo
cần một lượng khoảng 5 mcg (200 IU) vitamin D hàng ngày. Lượng vitamin D có thể
được cung cấp đủ bằng cách uống 3 ly sữa tăng cường vitamin D một ngày hoặc tắm
nắng. Tắm nắng 2 buổi với mỗi lần khoảng 15 phút trong mỗi tuần sẽ giúp cung cấp
khoảng 1250 mcg (50.000 IU) vitamin D. Không có bằng chứng nào cho thấy vitamin D
quá liều xảy ra do tiếp xúc với ánh mặt trời. Một số chuyên gia khẳng định rằng nhiều
vitamin D hơn 5 mcg mỗi ngày trong thời kỳ mang thai là cần thiết.
1.2.1.7 Nhu cầu khoáng chất trong khi mang thai
Yêu cầu đối với khoáng chất trong khi mang thai thường cao hơn so với những phụ
nữ bình thường do tăng để tạo điều kiện cho quá trình trao đổi chất xảy ra trong thai kỳ.
1.2.1.7.1 Calcium
Bổ sung calcium trong thời kỳ mang thai rất cần thiết cho xương thai nhi và giúp duy
trì sức khỏe xương của mẹ. Khoảng 30 gam calcium (ít hơn một ounce) được chuyển từ
mẹ sang thai nhi trong thai kỳ. Hấp thụ canxi từ thực phẩm tăng lên, bài tiết canxi trong
nước tiểu giảm. Các yêu cầu bổ sung calcium, trong giai đoạn cuối của thai kỳ cần
khoảng 300 mg mỗi ngày và có thể thu được bằng cách gia tăng hấp thu của calcium từ
xương. Nhu cầu calcium trong khi mang thai có thể được đáp ứng bằng cách uống 3 ly
sữa hoặc sữa đậu nành hoặc 2 cốc nước cam với 1 ly sữa.

15

1.2.1.7.2 Iron
Iron là một chủ đề hàng đầu của cuộc thảo luận về dinh dưỡng trước khi sinh vì nhu
cầu iron tăng lên đáng kể. Phụ nữ cần khoảng 1000 mg (1g) iron bổ sung cho mang thai.
• 300 mg được sử dụng bởi các bào thai và nhau thai.
• 250 mg bị mất lúc sinh.
• 450 mg được sử dụng để tăng khối lượng tế bào máu đỏ.
Khoảng 12% phụ nữ mang thai thiếu iron và hàm lượng iron lưu trữ thấp do đó có
nguy cơ dẫn đến thiếu máu trong thai kỳ [13]. Trong thập kỷ gần đây, tỷ lệ thiếu máu, thiếu
iron trong thai kỳ vẫn cao ở phụ nữ những nước phát triển cũng như các nước đang phát
triển. Thiếu máu ở giai đoạn đầu của thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh non và trẻ nhẹ cân 2-3
lần. Thiếu iron trong thai kỳ có liên quan đến việc giảm trí thông minh, ngôn ngữ trẻ em.
Thiếu iron và thiếu máu còn liên quan đến giảm dự trữ iron ở trẻ sơ sinh. Trẻ sinh non có
nguy cơ thiếu iron trong giai đoạn trứng bởi vì họ có ít thời gian để dự trữ iron ở cuối thai
kỳ.
Các khuyến nghị liên quan đến bổ sung iron trong thai kỳ: Khuyến cáo rằng phụ nữ
mang thai cần bổ sung 30 mg hằng ngày sau tuần thứ 2 của thai kỳ với chỉ định khi nồng
độ hemoglobin là 11 g / dl hoặc nồng độ ferritin huyết thanh là 30 ng / ml. Phụ nữ bị thiếu
máu thiếu iron thường khuyến cáo cần 60-180 mg iron mỗi ngày.
1.2.1.7.3 Iodine
Iodine cần thiết trong thời kỳ mang thai của người mẹ trong chức năng tuyến giáp,
sản xuất năng lượng và sự phát triển não của thai nhi. Thiếu iodine sớm trong thai kỳ có
thể dẫn đến suy giáp ở thai nhi. Tỷ lệ suy giáp trẻ sơ sinh giảm hơn 70% nếu bổ sung
iodine trước hoặc trong nửa đầu của thai kỳ. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cũng được cải thiện
đáng kể. Bổ sung iodine trong nửa sau của thai kỳ không cải thiện kết quả sơ sinh.
Nguồn cung cấp iodine đáng tin cậy nhất là muối iodine. Một muỗng cà phê chứa
400 mcg iodine. Cá, sò, rong biển và một số loại trà cũng cung cấp iodine. Những phụ nữ
sử dụng muối iodine có thể không cần bổ sung thêm iodine. Tảo bẹ và rong biển không
nên sử dụng như một nguồn cung cấp iodine vì sự khác nhau quá nhiều trong hàm lượng
iodine. Hiệp hội tuyến giáp Mỹ khuyến cáo bổ sung trước khi sinh khoảng 150 mcg
iodine sẽ giúp thai nhi phát triển tốt. Lượng iodine thông thường không được vượt quá
1100 mg mỗi ngày trong suốt thai kỳ.

16

1.2.1.7.4 Sodium
Sodium đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng nước của cơ thể. Yêu cầu
đối với sodium tăng đáng kể trong thời kỳ mang thai do tăng thể tích huyết tương. Nhưng
sự cần thiết của sodium trong thai kỳ không được chú trọng nhiều. Trước đây, người ta
nghĩ rằng soldium giúp tăng khả năng giữ nước, huyết áp và ngăn chặn phù nề và cao
huyết áp. Điều này là không chính xác và không đầy đủ, lượng sodium có thể làm phức
tạp quá trình và kết quả của thai kỳ. Hạn chế sodium trong khi mang thai có thể làm cạn
kiệt các cơ chế bảo tồn sodium và dẫn đến mất sodium quá mức cho phép.

2. DINH DƯỠNG Ở TRẺ SƠ SINH
1.3 Nuôi trẻ sơ sinh
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất của môi trường bên ngoài có
ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Dinh dưỡng không hợp lý kể cả thiếu hoặc thừa cũng
có thể có hại đến sức khoẻ và sự phát triển của trẻ.
Sự phát triển nói chung phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, nội tiết, thần kinh thực
vật và dinh dưỡng, trong đó ba yếu tố đầu đảm bảo cơ thể phát triển nhất định. Khi thiếu
ăn tạm thời, cơ thể có thể phát triển chậm nhưng tình trạng đó có thể hồi phục khi lượng
thức ăn ăn vào đầy đủ. Trong trường hợp dinh dưỡng không hợp lý kéo dài có thể cản trở
sự hồi phục đó, do vậy cần quan tâm đặc biệt đến dinh dưỡng.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của một đứa
trẻ, song dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc
vào chế độ ǎn của người mẹ trong suốt thời kỳ mang thai, vào việc người mẹ có đủ sữa và
chế độ ǎn bổ sung có hợp lý với trẻ hay không (Hofvander và Margaret, 1983). Sữa mẹ là
thức ǎn hoàn chỉnh nhất cho trẻ trong tháng đầu. Sữa mẹ chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng
và an toàn cho trẻ sơ sinh (Motarjemi và cộng sự, 1983). Lượng sữa mẹ sẽ giảm đi vào
tháng thứ 6. Theo Hofvander và cộng sự (1983), trẻ sẽ được ǎn bổ sung vào tháng thứ 6,
khi sữa mẹ không còn đủ đáp ứng nhu cầu của trẻ. Lúc này một chế độ ǎn bổ sung hợp lý
cho trẻ là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển thì vấn đề đặt ra lại là
thức ǎn bổ sung cho trẻ thường không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cả về mặt
số lượng, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

17

Những trẻ sơ sinh ít nhất trong vài tuần đầu tiên chỉ nên ăn thức ăn lỏng, tốt nhất là
sữa để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bé. Nhu cầu này bao gồm tất cả các chất dinh
dưỡng thiết yếu để phát triển mô mới và năng lượng và cho phép các chức năng trao đổi
chất để bảo trì, tăng trưởng và phát triển. Điều này đòi hỏi các chất dinh dưỡng và năng
lượng có thể duy trì các rào cản vật lý, hóa học của nó và nâng cao khả năng miễn dịch.
Trong 4 tháng đầu tiên, các trẻ sơ sinh khỏe mạnh thường sẽ tăng gấp đôi trọng lượng.
Trong năm đầu tiên, tăng gấp ba lần trọng lượng và tăng gấp đôi diện tích bề mặt đồng
thời nhiều chức năng cũng trưởng thành và phát triển. Các trẻ sơ sinh thay đổi hình dạng
và cấu tạo của chúng. Ví dụ, các niêm mạc đường ruột biểu mô trưởng thành nhanh chóng
trong vài tuần đầu tiên, tăng hấp thu chất dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu. Tỷ lệ mỡ cơ
thể tăng lên từ khoảng 16% trong 3 tháng tới khoảng 30% lúc 8 tháng. WHO khuyến cáo
rằng bú sữa mẹ nên tiếp tục cho 6 tháng đầu đời của trẻ sơ sinh với thức ăn bổ sung và
tiếp tục cho con bú sau đó.
1.4 Cho trẻ sơ sinh bú sữa
Ở nhiều động vật có vú, sữa ban đầu được gọi là sữa non cần thiết đóng vai trò là sự
sống còn. Đây không phải là trường hợp ở người. Tuy nhiên, việc bú sữa non đóng vai trò
quan trọng trong phát triển của trẻ, cả về thể chất và tâm lý.
Sữa gây ra một loạt các phản ứng nội tiết tố ở trẻ sơ sinh và mẹ. Ở người mẹ,
prolactin kích thích sản xuất sữa trong thời gian cho con bú sớm trong khi oxytocin kích
thích phóng sữa. Oxytocin cũng gây giãn mạch cục bộ da và do đó sự ấm áp cho trẻ sơ
sinh cũng gây cảm giác buồn ngủ ở người mẹ. Ở trẻ sơ sinh, những thay đổi trong
somatostatin, gastrin và cholecystokinin giúp kích thích sự tăng trưởng và phát triển của
đường tiêu hóa, cải thiện sự hấp thụ chất dinh dưỡng. Khi cho con bú, các bé tiếp xúc gần
gũi với mẹ của mình trong vài giờ một ngày. Điều này giúp đảm bảo nhanh chóng "liên
kết" giữa mẹ và trẻ sơ sinh. Các bé học cách tin tưởng đầu tiên trong đó thúc đẩy sự phát
triển tâm lý bình thường.
1.5 Sữa mẹ
Sữa mẹ cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết, kích thích men, các yếu tố
tăng trưởng, liên kết các protein và nhiều chất có chức năng xác định.
Sữa mẹ có đủ năng lượng và các chất dự trữ cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em
dưới một tuổi. Sữa non tiết ra trong tuần đầu sau khi sinh thường có chứa nhiều kháng thể