Tải bản đầy đủ
Hệ thống học Chân khớp

Hệ thống học Chân khớp

Tải bản đầy đủ

191

tròn về phía bụng. Theo chiều dọc phần thân chia thành 3 thùy (một thùy
giữa - rachis và 2 thùy bên - glabella) Mỗi đốt có 1 đôi chân, có cấu tạo ít
sai khác với chân hàm: phần gốc có một mấu lồi nghiền có gai hướng vào
trong, phần ngoài có một nhánh hướng ra phía ngoài mang nhiều lông tơ
có chức năng hô hấp. Như vậy chân của Trùng ba thùy có các chức phận
khác nhau như hô hấp, chuyển vận và nghiền mồi.

Hình 9.6 Cấu tạo Trùng ba
thuỳ (theo Dogel)
A. Nhìn phía lưng; B. Nhìn
phía bụng; C. Cắt ngang thân;
1. Râu; Mắt kép;
3. Môi; 4. Telopodit;
5.Epipodit; 6. Thuỳ giữa;
7.Thuỳ bên; Hậu môn; 8. Hậu
môn; 9. Tơ mang; 10. Đốt gốc
chân; 11. Tấm nghiền

1.2 Phát triển
Qua nhiều giai đoạn biến thái khác nhau. giai đoạn đầu với ấu trùng
protaspis với hình dạng gần hình tròn, có kích thước khoảng 0,5 – 1mm,
chưa hình thành các đốt. giai đoạn tiếp theo là meraspis, trên cơ thể đã
xuất hiện chia rãnh thành 3 thùy, đã phân biệt phần đầu, phân thân và phần
đuôi. Sau đó các đốt được hình thành ở vùng sinh trưởng để tăng số lượng
các đốt. giai đoạn cuối thì ấu trùng có hình dạng và số đốt cố định, chỉ
tăng thêm về kích thước để hình thành trưởng thành (hình 9.7).

Hình 9.7 Phát triển của Trùng Ba thuỳ (theo Dogel)
Các giai đoạn ấu trùng kế tiếp nhau

Trùng ba thùy là nhóm động vật chỉ thị địa tầng tốt. Ở Việt Nam đã

192

tìm thấy hoá thạch trùng ba thùy trong các địa tầng từ Cambri tới Cacbon.
Các giống có giá trị chỉ thị địa tầng là Damesella, Chuangia, Encrinurus.

III. Phân ngành Có kìm (Chelicerata)
Nhóm động vật này có quan hệ gần gũi với Trùng ba thùy, phát triển
mạnh vào đầu nguyên đại Cổ sinh (kỷ Cambri và Silua). Hiện nay được
chia thành 4 lớp, trong đó lớp Giáp cổ và Nhện biển sống ở nước, còn các
lớp khác sống trên cạn nhưng vẫn có mối quan hệ với nước do đso chỉ
sống được ở môi trường ẩm và sinh hoạt về đêm.
Sơ đồ cấu tạo cơ thể của Có kìm được giới thiệu ở hình 9.8.

Hình 9.8 Cấu tạo Có kìm (theo Lange)
I. Prosoma; II. Mesosoma; III. Metasoma; 1-19. Số đốt; 20. Thuỳ đầu; 21. Epistoma; 22.
Mắt giữa; 23. Mắt bên; 24. telson; 25 Kìm; 26. Chân xúc giác; 27. Chân bò; 28. Tấm
nghiền; 29 Phần phụ sinh dục; 30. Chân mang

Cơ thể được chia thành 2 phần: Phần đầu ngực (prosoma) có 7 đốt
với 6 đôi phần phụ là 1 đôi kìm, 1 đôi chân xúc giác và 4 đôi chân bò, còn
đốt thứ 7 có thể tiêu giảm ở trưởng thành và không có phần phụ. Phần thứ
2 là phần bụng (opisthosoma) gồm có 12 đốt chia thành 2 phần là bụng
trước (mesosoma) và bụng sau (metasoma). Bụng trước có 6 đốt và có đủ
6 đôi phần phụ biến đổi, còn bụng sau thì mất phần phụ. Đốt cuối là đuôi
(telson). Số đốt có thể tiêu giảm, mức độ tập trung đốt thay đổi tùy nhóm.
1. Lớp Giáp cổ (Palaeostraca) hay Miệng đốt (Merostomata)
Có 2 bộ là bộ Giáp lớn và bộ Đuôi kiếm ( ít loài thuộc Đuôi kiếm).
1.1 Bộ Giáp lớn (Gigantostraca)
Hiện biết có khoảng 200 loài hoá thạch. Đây là chân khớp có kích
thước lớn, cơ thể dài tới 2m, thoạt nhìn giống với bò cạp khổng lồ. Cơ thể
có sơ đồ chung của Có kìm: Phần đầu ngực có mắt đơn và mắt kép ở phía
lưng, có 6 đôi phần phụ ở phía bụng (1 đôi kìm và 5 đôi chân nghiền có
tấm gốc dùng để nghiền mồi). Sáu đốt bụng trước có phần phụ là nắp sinh

193

dục trên đốt thứ 8 và các đôi chân mang ở các đốt tiếp theo (thường thiếu
đôi chân trên đốt thứ 9). Có thể thấy được lối sống của Giáp lớn qua cấu
tạo của chân bụng là chúng sống ở vùng biển nông, bơi chậm hay bò dưới
đáy, một số sang nước ngọt hay chuyển lên trên cạn. Thức ăn của chúng là
các động vật không xương sống như giáp xác, thân mềm, trùng ba thùy
sống gần đó.
1.2 Bộ Đuôi kiếm (Xiphosura)
Xuất hiện ở đầu đại Cổ sinh, hiện nay chỉ còn 5 loài. Ở Việt Nam
thường gặp 2 loài sam và so, được coi là hoá thạch sống.
Đặc điểm cấu tạo: Cơ thể Đuôi kiếm có phần đầu ngực và bụng (ứng
với bụng trước) tập trung thành 2 khối khớp động với nhau và tận cùng là
gai đuôi (ứng với bụng sau) cũng khớp động với bụng. Trên giáp đầu ngực
có mắt đơn và mắt kép, trên giáp bụng còn dấu vết của cơ ở bên trong.
Đầu ngực mang 6 đôi phần phụ là đôi kìm ngắn và 5 đôi chân dài, tận
cùng của chân là kìm (trừ đốt cuối). Mỗi chân đều có tấm nghiền ở gốc.
Chân vừa là cơ quan chuyển vận vừa là cơ quan bắt mồi. Chân cuối là
điểm tựa khi Đuôi kiếm đào đất, hang hốc để đẻ trứng. Bụng có 6 đôi phần
phụ là nắp sinh dục hình tấm trên đốt thứ 8, che lỗ sinh dục ở gốc và 5 đôi
chân mang. Chân mang là phần phụ 2 nhánh, dẹp thành tấm, có mang sách
xếp dưới tấm ngoài. Chân mang vừa có chức năng bơi (đuôi kiếm bơi
ngửa) vừa có chức năng hô hấp. Gai đuôi khoẻ, đầu ngọn gai tựa vào cát
khi con vật di chuyển. Nội quan của đuôi kiếm còn giữ nhiều đặc điểm của
tổ tiên. Đó là cơ quan bài tiết có 4 đôi tuyến háng (một dạng biến đổi của
hậu đơn thận, hệ thần kinh bậc thang kép... (hình 9.9).

Hình 9.9 Hình dạng ngoài (A) và sự chia đốt của Sam (B,C), hoá thạch của
Đuôi kiếm (D) (theo Lange)
1. Giáp đầu ngực; 2. Miệng; 3. Mắt kép; 4. Chân; 5. Chelirium; 6. Nắp mang; 7.
Phần bụng; 8. Gai đuôi; 9. Chân mnag; 10. Kìm; 11. Mắt đơn; I-XIII. Sơ đồ các
đốt; a. Acron

194

Đuôi kiếm sống ở vùng nước biển nông, độ sâu phổ biến là 4 – 10m,
đôi khi chúng phân bố sâu vào vùng cửa sông. Thức ăn của chúng là trai,
ốc, giun đốt, động vật không xương sống khác sống ở đáy và tảo. Hiện nay
còn lại 5 loài là Xiphosura polyphemus phổ biến ở vùng biển bắc và Trung
Mỹ, Tachypleus gigas ở vịnh Thái lan, T. tridentatus phân bố khá rộng, T.
hoeveni ở quần đảo Molucca. Ở vùng biển nước ta thường gặp loài
Carcimoscorpius rodunticauda và Tachypleus tridentatus (họ
Xiphosuridae). Vào tháng 7 - 8 sam lên bãi cát để sinh sản. Sam đực bám
vào sam cái, sam cái đào hố đẻ trứng, sam đực tưới tinh dịch thụ tinh.
Trứng lớn 1,5 – 3,3mm, giàu noãn hoàng, được cát giữ độ ẩm và nhiệt đới.
Sau khoảng 6 tuần thì trứng nở thành ấu trùng giống trưởng thành nhưng
thiếu đuôi. Sau nhiều lần lột xác hình thành sam trưởng thành.
Đuôi kiếm được dùng làm phân bón ở một số vùng biển châu Mỹ,
còn ở Đông Nam Á thì được dùng làm thức ăn. Gần đây máu của loài sam
Tachypleus gigas được dùng để chế một loại thuốc thử có giá trị thương
mại cao được gọi là LAL (limulus amoebocyte lysate) dùng để kiểm tra
nội độc tố do vi khuẩn gram âm sống trong ruột tiết vào máu (thuốc này có
độ nhạy rất cao, có thể dùng thay thế vaxin thỏ vẫn được dùng trước đây.
2. Lớp Hình nhện (Arachnida)
Là nhóm động vật chuyển lên sống trên cạn, thích nghi với điều kiện
khô hạn, xuất hiện phổi sách và khí quản, ống manpighi, vuốt chân, thụ
tinh bằng bao tinh... Hiện nay được biết có khoảng 40.000 loài.
2.1 Cấu tạo và sinh lý
2.1.1. Đặc điểm phân đốt và cấu tạo phần phụ
Cơ thể có 2 phần là đầu ngực (prosoma) và bụng (opisthosoma), nối
với nhau một eo nhỏ. Đầu ngực có 6 đôi phần phụ (1 đôi kìm, 1 đôi chân
xúc giác, 4 đôi chân bò). Bụng (opisthosoma) là phần biến đổi nhiều nhất
có 1 hay 2 đôi lỗ thở của phổi sách và nhiều đôi nhú tơ. Sơ đồ cấu tạo có
phần đầu ngực có 6 đôi phần phụ là đặc điểm chung của Hình nhện. Sự
biến đổi về sự phân đốt thấy ở một số nhóm Hình nhện. Ở nhóm nhện
Chân sờ (Palpigrada) và Bò cạp giả (Pseudoscorpionidea) đốt bụng thứ
nhất lại rõ ràng, còn các nhóm khác lại tiêu giảm. Ở nhóm Pedipalpi và
nhóm Solifuga thì 2 đốt ngực cuối lại tự do. Nhìn chung phần bụng của
Hình nhện biến đổi nhiều so với sơ đồ khởi đầu theo hướng giảm số đốt từ
sau ra trước và tập trung thành một khối, mất dần dấu vết phân đốt. Phần
biểu mô của Hình nhện có một số loại tuyến khác nhau như ở Hình nhện
có các loại tuyến có nguồn gốc từ tuyến da như tuyến độc (của bọ cạp,
nhện, bét), tuyến tơ (nhện, bọ cạp giả, một số bét), tuyến mùi (chân dài),
tuyến trán, tuyến hậu môn (đuôi roi) (hình 9.10).

195

2.1.2. Cấu tạo nội quan
Hệ tiêu hoá: Phần lớn ăn thịt, một số hút mô thực vật, động vật hay
ăn chất căn bã hữu cơ đang phân huỷ. Cơ quan tiêu hoá có cấu tạo thích
nghi với việc tiết men tiêu hoá ra ngoài phân hủy con mồi và hút chất dinh
dưỡng như có thành cơ hầu khoẻ, ruột giữa có nhiều nhánh làm tăng diện
tiếp xúc và sức chứa. Nhện bắt mồi bằng chăng tơ, còn các nhóm khác thì
đuổi con mồi rất tích cực (hình 9.11).
Hệ bài tiết có đặc điểm trung gian của nhóm vừa chuyển từ nước lên
cạn. Chúng vừa có tuyến háng vừa có ống manpighi (hình 9.11).

Hình 9.10 Sự phân đốt và phần phụ của Hình nhện (theo Lange)
A. Bọ cạp; b. Đuôi roi; C. Nhện; D. Nhện lông; E. Ve bét cổ; I. Đầu ngực; II. Bụng
trước; III. Bụng sau; 1-19 Thứ tự các đốt; k. Kìm; cxg. Chân xúc giác; cb. Chân bò

Hệ hô hấp khác nhau: Ở nhện cổ hô hấp bằng phổi sách (bọ cạp có 4
đôi, đuôi roi, nhện có 2 đôi). Số còn lại hô hấp bằng khí quản, một số lại
có cả phổi sách và cả khí quản. Khí quản được hình thành từ phần lõm
của lớp vỏ ngoài, có nguồn gốc độc lập với túi phổi, không có quan hệ về
nguồn gốc với phần phụ.
Hệ tuần hoàn có sơ đồ cấu tạo chung của ngành. Số đôi lỗ tim giảm
dần cùng với mức độ tập trung của các đốt.
Hệ thần kinh theo kiểu cấu tạo chung của ngành, mức độ tập trung
thần kinh tùy theo nhóm, phụ thuộc vào mức độ tập trung các đốt. Giác
quan của hình nhện khá phong phú gồm cơ quan cảm giác ánh sáng, cơ
học, hoá học. Mắt hình nhện kém phát triển (có 1 – 5 đôi mắt đơn), chỉ
phân bố được vật đứng yên hay chuyển động trong phạm vi gần. Riêng

196

nhóm nhện nhảy mắt khá phát triển có thể phân biệt được hình khối của
vật. Hình nhện có rất nhiều lông cảm giác bao gồm: Lông rung
(trichobotricum) có số lượng ổn định trên chân xúc giác và chân bò hay
trên thân. Gốc lông rung nằm trong hốc, có lớp vỏ mỏng làm tăng độ rung
của lông trước chấn động nhỏ. Cơ quan vị giác và khứu giác hình đàn nằm
ở chân và thân (hình 9.12).

Hình 9.11 Cấu tạo của nhện thập tự (theo Lange)
1. Mắt; 2. Kìm; 3. Chân xúc giác; 4. Đốt háng; 5. Chân; 6. phổi; 7. Lỗ thở; 8. ruột giữa;
9. Gan; 10. Tim; 11. Tuyến trứng; 12. Nhú tơ; 13.Các loại tuyến tơ; 14. Hậu môn

Hệ sinh dục: Hình nhện đơn tính, có hiện tượng dị hình chủng tính.
Tuyến sinh dục nằm ở phần bụng, vốn có cấu tạo kép nhưng có thể dính
với nhau từng phần hay tất cả thành một tuyến chung. Gồm có tuyến tinh
(trứng), ống dẫn và lỗ sinh dục. Ngoài ra ở con đực có tuyến phụ, cơ quan
thụ tinh như bầu tinh, con cái có thêm túi nhận tinh (hình 9.13).
2.2 Sinh sản và phát triển
Hoạt động thụ tinh của hình nhện rất đa dạng phản ánh quá trình
chuyển từ thụ tinh ngoài sang thụ tinh trong. Một số thụ tinh nhờ bao tinh
(spermatophora) được con đực gắn trên giá thể trong múa giao hoan trước
khi chuyển vào lỗ sinh dục cái (bọ cạp giả) hay chuyển trực tiếp nhờ vào
nhờ kìm con đực (một số bét), còn nhện thì truyền tinh trực tiếp qua bầu
tinh ở tận cùng của chân xúc giác. Một số Chân dài thụ tinh trong. Một số
nhóm con cái ăn thịt con đực sau khi đã giao phối xong (nhện, bọ cạp).
Phần lớn hình nhện đẻ trứng trong hốc, trong kén mang theo người
hay giữ trong hang, một số ít đẻ con. Trứng của hình nhện thường lớn,
giàu noãn hoàng, phân cắt bề mặt và xác định. Phôi nhện và phôi bọ cạp
còn có rõ 12 đốt: Có 8 – 9 đốt bụng, 5 – 6 đốt trước có nhú mầm phần phụ

197

Trong quá trình phát triển các đốt
có xu hướng tập trung thành khối
và mầm phần phụ tiêu giảm. Phôi
bọ cạp lúc đầu có 7 đôi mầm phần
phụ trên phần đầu ngực, Sau đó đôi
thứ nhất sẽ tiêu giảm, còn đôi thứ 2
sẽ biến đổi thành tấm sinh dục, đôi
3 thành lược và đôi sau thành túi
phổi. Phần lớn hình nhện phát triển
gián tiếp, con non giống trưởng
thành. Trừ nhóm Bét có biến thái,
hình thành ấu trùng có 6 chi. Nhìn
chung có thể phân biệt 2 kiểu vòng
đời của hình nhện:
Tuổi thọ cao, có thể 20 năm,
lột xác suốt đời, thành thục sinh dục
sau thời gian sinh trưởng kéo dài
(bọ cạp, nhện chân dài...). Tuổi thọ
thấp, phát triển nhanh, khi gặp điều
kiện thuận lợi thì sinh sản, khi gặp
điều kiện bất lợi thì sống tiềm sinh.
2.3 Phân loại và tầm quan trọng
Hình 9.12 Giác quan của Hình nhện
Vị trí phân loại còn chưa ổn
(theo Lange)
định. Có thể nêu một số bộ chính.
A. Cấu tạo mắt giữa; 2. B. Lông xúc
giác; 3. C. Lông rung; 4. D-E. Cơ quan
2.3.1 Bộ Bọ cạp (Scorpiones)
hình đàn; 1. Thể thuỷ tinh; 2. Màng lưới;
Cơ thể chia làm 3 phần rõ rệt
3. Dây thần kinh mắt; 4. Tế bào cảm giác
(đầu ngực, bụng trước và bụng sau).
Mặt lưng đầu ngực trước có giáp cứng, mặt bụng có 6 đôi phần phụ.
Phần bụng trước có 8 đốt, đốt thứ 3 có lược sinh dục, 4 đốt tiếp theo có lỗ
thở, hô hấp bằng túi phổi. Bụng sau nhỏ, kéo dài, có 5 đốt, không có phần
phụ, tận cùng là telson mang tuyến độc. Chất độc nằm trong tuyến độc
hình trứng ở telson, chủ yếu là nơtrôtôxin thường rất độc, gây thương tổn
hệ thần kinh và chất hêmôragin gây tím máu và làm chết từng phần của cơ
thể. Ví dụ như bọ cạp Androctonus ở Bắc Phi, Centrurus ở Mehicô vết đốt
có thể làm chết người. Đẻ con, con non đẻ ra có rau thai bao bọc. Sau khi
được sinh ra, bọ cạp con chui ra khỏi rau thai rồi treo lên lưng mẹ ẩn náu
một tuần lễ. Bọ cạp phổ biến ở vùng nhiệt đới. Ban ngày chúng ẩn náu
dưới lá, hốc cây, kẽ lá, đến đêm mới bắt mồi. Ăn giáp xác, côn trùng...

198

Hình 9.13 Hệ sinh của Hình nhện (theo Lange)
Bọ cạp (A ,E). (B, G), Nhện; (C). Nhện lông; (H) Chân dài; (D,I) Bét; 1. Tuyến
tinh; 2. Ống dẫn tinh; 3. Túi chứa tinh; 4. Tuyến phụ; 5. Tuyến trứng; 6. Ống dẫn
trứng; 7. Âm đạo; 8. Máng đẻ; 9. Trứng trong ống dẫn

Hiện biết khoảng 600 loài, loài lớn nhất là Pandinus dài tới 20cm. Ở
Việt Nam gặp nhiều loài ở khắp mọi nơi. Loài phổ biến là Palamnaeus
silenus dài tới 12cm, loài Archisometrus mucronatus dài khoảng 5 – 6cm.
2.3.2 Bộ Bọ cạp giả (Pseudoscorpiones)
Bao gồm các động vật có kích thước bé (7 – 8mm), trông giống bọ
cạp vì cũng có đôi chân xúc giác phát triển biến đổi thành đôi kìm lớn,
nhưng khác với bọ cạp là không có bụng sau và không có lược sinh dục.
Phần bụng (có thể tới 12 đốt) không có ranh giới với phần đầu ngực. Có
mắt hay không có, có tuyến tơ, có bộ phận chùi và dệt tơ (hình 9.14C).
Bọ cạp giả sống chui rúc nơi khe kẽ, dưới vỏ cây, rêu, đá, lá mục, có
thể dệt tơ và lưới nhỏ, ăn các động vật nhỏ. Chúng có thể làm tổ (tổ lột
xác, tổ trú đông, tổ đẻ và nuôi con nhỏ.
Hiện nay biết có khoảng 1.300 loài, Đông Dương là khu vực có
nhiều loài (hiện nay biết khoảng 52 loài với nhiều loài đặc hữu). Thường
gặp các giống Paratemnus, Anatemnus, Lophochernes, Chelifer,
Cheiridium, Garipus... Trong tủ sách thường gặp loài Chelifer cancroides.
2.3.3 Bộ Nhện lông (Solifugae)
Có kích thước tương đối lớn (có thể dài tới 10cm), cơ thể thường có
nhiều lông tơ hay gai bao phủ. Bụng chia đốt và dính thẳng vào đầu ngực,
không có cuống, không có bụng sau, kìm 2 đốt lớn và rất khoẻ. Chân xúc

199

giác biến thành chân bám có chức năng bám và nắm chắc con mồi, đôi
chân thứ 4 có cấu trúc cảm giác đặc biệt ở mặt trong đốt gốc được gọi là
vợt háng. Môi trên và môi dưới gắn với nhau làm thành vòi ngắn (hình
9.14B). Nhện lông dinh dưỡng bằng cách hút dịch lỏng đã được tiêu hoá
ngoài, ăn thịt và rất háu ăn (động vật nhỏ và cả chim, ếch nhái nhỏ,
chuột...). Phân bố ở vùng nhiệt đới nóng và khô, có rất nhiều ở Châu Phi.
Hiện nay biết có khoảng 600 loài. Ở Việt Nam đã gặp loài Dinorhax
rostrum dài 2 – 3cm, màu đỏ sẫm có nhiều lông, kìm to, khoẻ.

Hình 9.14 Đại diện của một số bộ Hình nhện (theo Dogel và Abrikokov)
A. Đuôi roi Telyphonus caudatus; B. Nhện lông Galeodes aranneoides; C. Bọ cạp giả
Chelifer caneroides; d. Chân dài Phalangium opilio

2.3.4 Bộ Đuôi roi (Uropigi hay Pedipalpi)
Là những động vật hoạt động về đêm và thích sống ở những nơi ẩm
ướt. Cơ thể có màu nâu, kích thước lớn (dài tới 7cm). Phần đầu ngực dài,
bụng gồm 12 đốt, 3 đốt sau hẹp và kéo dài thành 1 roi. Đôi chân ngực 1
biến đổi thành cơ quan xúc giác (hình 9.14A). Chúng không có tuyến độc
nhưng có tuyến hậu môn tiết chất hăng (axit foocmic, axit axêtic), chất tiết
có thể phóng xa tới 30cm, gây rát bỏng cho kẻ thù. Chúng hoạt động về
đêm, ban ngày ẩn trong hang hốc. Thức ăn là côn trùng, ốc cạn, nhiều
chân.... Con cái bảo vệ trứng và mang con non trên cơ thể. Hiện biết
khoảng 180 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới.
2.3.5 Bộ Chân dài (Opiliones hoặc Phalangida)
Có thể nhận biết qua hình dạng ngoài nhờ cơ thể tập trung thành một
khối nhưng có phần bụng phân đốt và có 4 đôi chân dài (hình 9.14D). Hô
hấp bằng khí quản. Chân dài có những đặc điểm gần với côn trùng: Thụ

200

tinh trong, ăn thịt vừa bằng cách tiêu hoá ngoài, vừa nhai nghiền con mồi
trực tiếp. thường gặp trong rừng ẩm, di chuyển nhanh trên mọi địa hình lồi
lõm. Hiện nay biết khoảng 3.200 loài.
2.3.6 Bộ Nhện (Aranei)
Nhóm này dễ nhận biết nhờ cơ thể chia thành 2 khối đầu ngực và
bụng gắn với nhau bằng eo nối. Phần phụ đầu ngực có 6 đôi, đôi kìm biến
đổi thành móc 1 đốt, có tuyến độc ở gốc móc. Đôi chân xúc giác thường
ngắn (ở con đực biến thành cơ quan giao phối), 4 đôi chân đi (bò) thường
dài, có nhiều lông, tận cùng bằng bằng móc, mỗi chân có 7 đốt (đốt háng,
chuyển, đùi, đệm, ống, trước bàn, bàn). Ở nhện có tuyến tơ (cribellum) thì
đốt bàn thứ 4 có một lược lông (calamistrum) để lấy tơ từ các lỗ của tuyến
tơ. Phần phụ bụng gồm có lỗ sinh dục, lỗ thở và các nhú tơ. Nhện hô hấp
bằng phổi sách, khí quản hay cả 2 loại.
Nhện sử dụng nọc độc để làm tê liệt con mồi, một số có nọc rất độc.
Ví dụ như giống Latrodectus ở vùng Trung Á ven Địa Trung Hải có thể
đốt chết các thú lớn (lạc đà, ngựa...). Tơ có vai trò rất quan trọng đối với
đời sống của nhện, có độ dính khác nhau tuỳ mục đích sử dụng. Chúng có
thể dệt 2 loại lưới là dạng phễu (dạng thảm) dùng để chăng trên mặt đất
bắt mồi bò và dạng lưới hình tấm (hay bánh xe) dùng để chăng trên không,
bắt các động vật bay. Nhện còn dùng tơ để dệt chuông để trú và lặn xuống
nước, dệt bọc trứng, dùng để phát tán...
Bộ lớn, hiện nay biết khoảng 20.000 loài, chia thành 3 phân bộ:
+ Liphistimorpha còn giữ nhiều đặc điểm cổ như bụng phân đốt, có
2 đôi phổi sách, 2 đôi nhú tơ.... Phân bố ở vùng Viễn Đông.
+ Mygalomorrpha: Bụng không phân đốt nhưng vẫn có 2 đôi phổi.
Sống trong hang hay trên cây vùng nhiệt đới.
+ Araneomorpha: Bụng không phân đốt. Thở bằng phổi sách, khí
quản hay cả 2. Gồm phần lớn nhện hiện sống.
Ở Việt Nam nhện phân bố khắp nơi. Các loài phổ biến như Theridon
rufipes, Heteropoda pressula, Menemerus bivitatus thường gặp trong nhà.
Nhện tơ vàng (Nephila maculata), nhện gai (Gasteracantha propingua),
nhện sừng (Gasteracantha arculata) thường gặp trong rừng. Loài
Latouchia cunicularia, Avicularia sp (nhện hốc) thường gặp trong hang
hốc phía nam. Loài Salticus manducator có hình dạng giống kiến.
2.3.7 Bộ Ve bét (Acarina)
Hiện tượng phân đốt chỉ gặp ở một số ve bét cổ (Endostigmata,
Paleacarina) với 7 đốt phần đầu ngực và 6 – 8 đốt phần bụng. Phần lớn ve
bét hiện sống, cơ thể tập trung thành một khối, dấu vết phân đốt chỉ còn lại

201

trên tấm giáp, tơ... Tuy nhiên có thể nhận biết phần đầu ngực qua 6 đôi
phần phụ đặc trưng. Kìm và chân xúc giác biến đổi thành cơ quan miệng
(có thể phân biệt 2 kiểu là kiểu nghiền hút thấy ở nhóm động vật sử dụng
thức ăn rắn, kiểu đốt hút ở nhóm ký sinh hút máu. Là nhóm động vật rất
da dạng về môi trường sống, về hoạt động thụ tinh, về quá trình phát triển:
Về môi trường sống: Chúng có thể sống trong đất, thảm mục, trong nước,
ký sinh ngoài hay ký sinh trong ở động vật và thực vật. Có vai trò gây và
truyền bệnh rất nguy hiểm; Về hoạt động thụ tinh: Phần lớn qua bao tinh
được gắn trên giá thể, hoặc dùng chân xúc giác chuyển trực tiếp. Một số
thụ tinh trong (bét tơ, nhậy bột...); Về phát triển có thể phân biệt thành 2
nhóm: Ve bét cổ trứng ít noãn hoàng, phân cắt hoàn toàn đều, phát triển
qua giai đoạn 4 đốt giống protaspis. Còn phần lớn ve bét có trứng giàu
nhiều noãn hoàng, phân cắt bề mặt, phát triển thành ấu trùng có 3 đôi chân
và trải qua nhiều lần lột xác để hình thành trưởng thành. Ve bét cổ sống tự
do trong đất phát triển qua nhiều giai đoạn (trứng, tiền ấu trùng, ấu trùng,
thiếu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và trưởng thành).
Hiện nay biết khoảng 10.000 loài, tuy nhiên số loài trong thực tế lớn
hơn nhiều. Sự phân loại còn phân tán, sau đây là một số nhóm và đại diện
chính. Ve bét cổ, ve bét hoá thạch gặp từ kỷ Đevon.
Bét giáp (Oribatei): Sống tự do trong đất ẩm, bơi trong nước ăn vụn
bã hữu cơ và nấm, nhiều loài là vật chủ trung gian của nhiều giun sán ký
sinh ở thú có móng guốc. Ở Việt Nam đã biết có khoảng 167 loài thuộc 57
họ. Đại diện có các giống: Oppia, Galumna.
Nhậy bột (Tyroglyphoidea): Sống tiềm sinh (hypopus) trong vòng
đời, phát tán nhờ côn trùng hay động vật có xương sống. Nhiều loài sống
trong kho lương thực, rượu, bia. Đại diện có loài Tyroglyphus farinae gây
vón cục lương thực. Trong tổ kiến có các loài sống cộng sinh, ví dụ như
loài Tyroglyphus wasmanni sống trong tổ kiến đỏ Formica sanguinea và
kiến đen Camponotus ligniperdus ăn các chất thải của kiến.
Acaridiae: Ký sinh trên cơ thể động vật và người, ăn da, lông và các
chất tiết. Đại diện có loài Cái ghẻ (Acarrus siro) ký sinh đào hang ngoài
da người, đẻ trứng và lây lan khi tiếp xúc.
Bét tơ (Tetranychoidea): Có tuyến tơ, thụ tinh trong, ký sinh gây
bệnh cho cây trồng. Đại diện Tetranychus telarius gây hại lớn ở bông.
Bét gây sần (Tetrapodili): Ký sinh trong mô thực vật. Đại diện có
loài Eriophyes vitris hại nho.
Mò (Trombea): Trưởng thành sống tự do, ấu trùng hút máu côn
trùng và động vật có xương sống. Đại diện có loài Trombicula deliensis