Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

CHƯƠNG 2: TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Tải bản đầy đủ

trong đồng ruộng. Và điều kì lạ ấy được tác giả lý giải: “Máy điện trạm bơm Đan Hoài lấy nước
sông Hồng vào nông giang đã đưa cả cá lên theo”. Nhờ hệ thống thủy lợi được xây dựng mà mỗi
khi tháng ba mưa mới xuống, những đàn cá ngoài sông, đàn cá trong đồng lại được gặp nhau
trong niềm hân hoan của ngày hội. Không khí vui tươi ấy chính là tiếng hát ngợi ca sự phát triển
của ngành nông nghiệp, cũng là sự phát triển của đất nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nông thôn đang “thay da đổi thịt” hàng ngày, khiến “Mỗi lần
được về quê, chúng tôi lại đem ra tỉnh vô khối cái mới lạ, vô khối chuyện kể” (Ò...ó...o). Việc
những chú gà trống bỗng dưng gáy vào buổi tối được tác giả giải thích: Ánh sáng đèn điện của
nhà máy đã làm gà tưởng trời sáng rồi nên thi nhau gáy báo sáng. Và điều tác giả muốn nhấn
mạnh ở đây là niềm vui của em nhỏ khi đứng ngắm nhìn ánh điện sáng rực cả ngôi làng. Rõ
ràng, nông thôn miền bắc đang có sự chuyển mình đến ngỡ ngàng.
Sự đổi thay ấy cũng diễn ra ở thành thị. Tô Hoài đã dẫn bạn đọc nhỏ tuổi tham gia vào
chuyến đi chơi của chú mèo trong Cậu Miu để thấy thành phố đang từng ngày, từng giờ phát
triển. Theo tầm quan sát của chú mèo con “ở tầng gác mười hai, nhìn xuống một mảnh vườn.
Trước đây không lâu, cả vùng này còn là vườn cỏ. Rồi cái vườn co dần lại, vì những tòa nhà
nhiều tầng cứ mọc dần lên, bây giờ còn mọc. Đứng đây trông sang, thấy trong dãy nhà đương
xây dựng loang loáng những tia chớp, nhằng nhằng, sang sáng, tim tím”. Tất cả những điều ấy
làm chú thấy tò mò, khó hiểu. Chuyến đi của “Cậu Miu” khiến cậu khám phá được bao điều mới
mẻ, kì thú: Chiếc ô che mưa cho trẻ con chơi trong vườn trông như cây nấm, một cái ô tô vàng
khè có thể “veo veo chạy”, những cái ống xi măng, chiếc cần cẩu, ánh sáng hàn xì xanh xanh tim
tím, những bác thợ xây, tòa nhà mười hai tầng,... Tất cả những hình ảnh, âm thanh ấy chính là sự
đổi thay của thành phố được khám phá đầy mới lạ qua cái nhìn trẻ thơ.
Không chỉ có sự phát triển ở nông thôn và thành thị, Tô Hoài còn cho người đọc thấy sự đổi
thay diễn ra trên những vùng rừng núi. “Dãy núi đằng xa xanh xanh” (Núi xanh xanh) vốn là
miền đất mà trẻ em trong làng vẫn mơ ước được đặt chân đến để khám phá. “Đứng xa, chỉ thấy
có một màu xanh thế thôi, nhưng khi đến nơi mới thấy bóng núi đổi nhiều màu khác nhau lắm”.
Tô Hoài đã cho các em được thỏa mãn trí tò mò vốn có của mình mà “khối thứ Bé chưa biết”:
Những cây dâu Việt Nam, Trung Quốc đã leo lên đồi, “lô xô những bụi cây cốt khí (...) mọc chen
chân ven đồi để giữ đất màu”, những “đệm cỏ dày bềnh bồng đến một thước” xanh mơn mởn,
những đồi dứa Tây Ban Nha “đỏ lựng như đồi hoa mào gà”, những chú gà trống Cuba, những
chú bò Hà Lan, bò Thụy Sĩ, bò Ấn Độ, các chú bò Việt Nam, những chú bồ nông, những đàn le,
đàn két,... Tất cả cùng chung sống trong một vùng núi thanh bình. Dưới sự dẫn dắt của tác giả,
dãy núi xanh xanh xa mờ kia hiện lên thật gần gũi, sinh động. “Bây giờ, Bé đã biết không phải
núi Ba Vì chỉ có một màu xanh xanh như ta ở xa thấy thế đâu” (Núi xanh xanh).
25

Nói đến sự thay đổi nhanh chóng của quê hương, Tô Hoài cũng ngầm bộc lộ lòng yêu mến
cuộc sống mới, tự hào về con người mới, về đất nước đang trên đà phát triển.
Nếu những câu chuyện trên bộc lộ cái nhìn ngỡ ngàng trước những sự đổi thay trên miền
bắc đang xây dựng cuộc sống mới thì Chú bồ nông ở Sa-mác-can chính là tiếng nói trực tiếp thể
hiện niềm tự hào, sự thiết tha gắn bó với đất nước Việt Nam anh hùng. Hãy nghe cuộc trò chuyện
giữa tác giả với chú Bồ nông:
“Tôi – Chú đã đến Việt Nam chưa?
Bồ nông – Rồi.
Tôi – Thật đấy ư?
Bồ nông – Ai trên trái đất bây giờ mà không muốn đến đất nước Việt Nam anh hùng!
Tôi – Bồ nông đã tới quê tôi?
Bồ nông – Mùa đông vừa rồi tôi kiếm ăn ở cánh đồng bờ biển Thụy Anh. Tôi đã thăm
trường Thụy Dân.
Tôi – Ôi chao!
Bồ nông – Tôi đã được thấy các cánh đồng, các triền núi, các thành phố Việt Nam đứng lên
bắn máy bay Mỹ trả thù cho các cháu ở Thụy Dân.
Tôi – Chú bồ nông!
Bồ nông – Tôi vừa mới trở về Sa-mác-can. Tôi bay dọc bờ biển Đông, sang Ấn Độ Dương,
tạt vào Trung Á lên đây. Qua bao nhiêu nước, tôi không biết. Phong cảnh thì chẳng có biên giới.
Nước nào cũng sông, cũng rừng núi, cũng cánh đồng, thành phố và làng mạc. Nhưng bay qua
đâu cũng nghe người ta nói một câu: “Mỹ thua Việt Nam đến nơi rồi” ”.
Niềm tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng được bộc lộ rõ ràng qua lời chú bồ nông. Chú
đã đến Việt Nam, đến nhiều nơi khác và nghe mọi người khẳng định “Mỹ thua Việt Nam đến nơi
rồi”.
Rất tự nhiên, Tô Hoài đã gieo vào trẻ em lòng tin yêu cuộc đời mới, chế độ mới, tin vào đất
nước đang đi lên Chủ nghĩa xã hội.
2.2.

Nội dung giáo dục về tình bạn

Bạn bè luôn là một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Với trẻ nhỏ cũng
vậy, những người bạn xung quanh trẻ ảnh hưởng rất lớn đến các em, nhiều tính cách trẻ được
hình thành bởi tình bạn mà trẻ có được trong suốt tuổi ấu thơ. Bởi vậy, giáo dục về tình bạn là
một nội dung quan trọng trong quá trình dạy trẻ.
Trong khá nhiều sáng tác của mình, Tô Hoài đã đề cập đến nội dung này, gửi gắm qua mỗi
trang viết là những bài học về tình bạn, về cách ứng xử trong mối quan hệ bạn bè; ngợi ca tình bạn
đẹp, biết giúp đỡ nhau khi gian khó.
26

Chú gà trống trong câu chuyện Ghi chép một ngày đã thấy rất nhiều chuyện thú vị chỉ sau
một ngày đường, “một đêm ngủ chuồng lạ”. Đặc biệt, cậu hiểu thêm hành động yêu quý, lo lắng,
biết giúp đỡ lẫn nhau giữa anh Tía, chị gà mái và vịt. Đó là lòng tốt của anh Tía khi anh biết đuổi
thằng Cáo, bảo vệ ổ trứng chị Mái Hoa đang ấp; là chị Mái Hoa với hành động giúp đỡ vịt ấp
trứng bởi “hồi này bên nhà Vịt nhiều trứng lắm”.
Trong Bướm Rồng Bướm Ma, bài học về tình bạn hiện lên thật cụ thể, sâu sắc. Bướm Ma coi
người như bạn của mình. Dù người hờ hững, không để ý bao giờ, chúng vẫn luôn ở bên người,
thương người mỏi mắt khi thấy người năm nào cũng đợi Bướm Rồng. Tình bạn sẽ đẹp hơn bao
giờ hết khi những người bạn ở bên nhau những lúc khó khăn, cô đơn nhất. Câu nói của Bướm
Ma đã thức tỉnh mọi người biết quý trọng những người xung quanh, đừng nên có tính “xa thơm
gần thối”, “bạn bè thì hờ hững mà lại đi đợi những ai ai”.
Những chuyện xa lạ là câu chuyện về tình bạn giữa Sơn Dương và Dê Bé. Sơn Dương đi
nhiều nên anh biết nhiều câu chuyện đường xa lý thú khiến ai ai cũng đều yêu mến. Dê Bé
ngưỡng mộ vẻ đẹp và tài của Sơn Dương đã xin được theo anh. Trong chuyến đi ấy, anh Sơn
Dương đã thay đổi suy nghĩ của Dê Bé, đặc biệt là bài học về việc cần yêu quý, quan tâm tới
cuộc sống xung quanh mình trước khi chạy theo những chuyện nơi xa. Những lời của Sơn
Dương khiến Dê Bé ngẫm làm phải, cậu nhận ra “những chuyện lý thú quanh mình mà bấy lâu
không để ý không biết, phí hoài quá”. Tình bạn là khi biết giúp nhau hiểu ra điều hay lẽ phải,
giúp nhau cùng trở lên tốt đẹp hơn.
Điều đó cũng được thể hiện rất cụ thể qua các truyện Suối Khỉ, Hươu về ở vườn, Anh cua-rơ
đeo số 15. Hươu về ở vườn là câu chuyện kể về tình bạn giữa vị khách du lịch và người bạn khỉ
anh gặp được trong hành trình của mình. Dù là lần gặp đầu tiên hay những lần gặp lại sau đó,
anh cũng đem đến cho chú khỉ kia những hiểu biết, suy nghĩ đúng đắn về hành động của mình.
Lần đầu gặp anh, chú khỉ ấy chỉ lêu lổng, ăn cắp vặt. Chú ta được người khuyên bảo: “Chú
thường ở trên cây, lúc nào trông xuống cũng thấy người ta ai cũng làm việc, lại các bạn trâu, bò
và cả bạn voi, trước kia các bạn ấy cũng ở rừng lang thang như chú, bây giờ đã biết về ở làng và
làm việc với người. Chú chỉ chơi mà không biết chán ư?”. Lần thứ hai vị khách gặp lại chú khỉ
ấy là lúc khỉ chầu chực thức ăn thừa trong quán ăn ven suối. Chú khỉ còn ngỡ mình đã biết đi
kiếm ăn vội khoe với người: “Anh hãy mừng cho tôi đi. Tôi biết kiếm ăn rồi. Không lêu lổng
trộm cắp như hồi đó nữa”. Nhưng người du khách đã giúp khỉ hiểu ra “thế chưa phải là anh đã đi
làm. Đấy là bạn bỏ ăn trộm ăn cắp rồi đi ăn xin, ăn mày. Chứ chưa phải là biết làm, chưa phải là
làm để có cái ăn” (Suối Khỉ). Để rồi sau lần gặp ấy, chú khỉ đã “quyết đi tìm cuộc sống tự lập”,
“thà chịu đói, nhất định không đi ăn trộm, không đi ăn mày nữa”. Lần thứ ba gặp lại, chú khỉ
hoàn toàn khác: “Chú khỉ đeo số 15 đạp xe thi, lần nào cũng về nhất và bao giờ đến gần vạch
đích thường buông hai tay rồi cầm sáo thổi rất khéo” (Anh cua-rơ đeo số 15).
27

Vẻ đẹp của tình bạn còn thể hiện rõ trong truyện Cây bằng lăng – tình bạn giữa chim vành
khuyên và cây băng lăng. Chim đã đến bên cây khi cây bị sâu bệnh tàn phá. Chim trò chuyện, hát
cho bằng lăng vui, bắt sâu giúp cây khỏi ghẻ để cây “chóng lớn, chóng có bóng lá, che cho
chúng em bay xa có chốn nghỉ chân, tránh nắng. Ta giúp đỡ nhau đấy thôi” .
Tình bạn còn là sự lo lắng của con suối, cây trám, của ánh trăng lấp lánh dành cho người bạn
nhỏ của mình là chú nai xinh đẹp vẫn hay về chơi vào mùa trám rụng quả khi biết có người đi
săn nai (Người đi săn và con nai).
Cũng với nội dung giáo dục về tình bạn, Tô Hoài còn viết: “ở quanh ta không phải chỉ có
các ấy hàng xóm hay các ấy bạn cùng lớp. Quả gấc trên giàn đỏ lựng khi áp Tết, hoa bằng lăng
tím khắp phố báo tin mùa hạ, con mèo ngồi trầm ngâm đầu tường... cũng là bạn chúng ta” ( Tặng
ai hay bắn chim, bẫy chim). Và đưa đến bạn đọc một nhận thức: “muông thú và cây cỏ trong
rừng trên trái đất này đều là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn” (Người đi săn và con nai).
Mở rộng ra, tác giả còn cho người đọc thấy tình bạn – tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam
và bạn bè năm châu. Tình cảm ấy được minh chứng qua lịch sử và được kể qua lời chú bồ nông:
“Mùa đông vừa rồi tôi kiếm ăn ở cánh đồng bờ biển Thụy Anh. Tôi đã thăm trường Thụy Dân
(...). Tôi đã được thấy các cánh đồng, các triền núi, các thành phố Việt Nam đứng lên bắn máy
bay Mỹ trả thù cho các cháu ở Thụy Dân” (Chú bồ nông ở Sa-mac-can). Các nước anh em cũng
dành cho Việt Nam nhiều tình cảm tốt đẹp, sẵn sàng giúp đỡ để Việt Nam phát triển. Tình cảm ấy
đã được ngợi ca trong Núi xanh xanh: Giống cỏ Braxin xanh tươi quanh năm từ bên Nam Mỹ
được đưa sang Việt Nam để giữ đất ven đồi, để là bạn quý của các chú bò. Những quả dứa Tây
Ban Nha được lai tạo về Việt Nam. Nhiều trung tâm giống vật nuôi được xây dựng có sự giúp đỡ
của nước bạn như trung tâm trứng gà giống Việt Nam – Cu Ba, trung tâm bò giống Môn-ca-đa
(Cuba). Những chú bò được du nhập từ nhiều đất nước khác nhau: Bò Thụy Sĩ, bò Hà Lan, Ấn
Độ,... Những loài chim từ nhiều nơi về tránh rét,... Tất cả đều cho thấy tình bạn bè gắn bó giữa
Việt Nam và bạn bè thế giới cả trong thời bình và thời chiến.
2.3.

Mở rộng nhận thức, giáo dục cho trẻ những bài học về tư tưởng, lối sống, đạo
đức

Có thể nói, đây là nội dung xuyên suốt các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài. Ông đã
tích cực tìm tòi, khám phá những khía cạnh khác nhau của đời sống con người, thể hiện những
vấn đề gần gũi với trẻ nhỏ bằng cách nhìn, cách cảm nhận của trẻ thơ. Qua đó, gửi gắm những
bài học nhỏ nhưng có giá trị giáo dục to lớn, sâu sắc với các em.
Trong truyện Cây bằng lăng, những hàng bằng lăng được trồng đã tô điểm thêm cho vẻ đẹp
của dãy phố. “Những cây bằng lăng cao dần. Rồi bằng lăng mọc cành ngang, từng cành sum suê,
thâm thấp. Đã ra dáng cây nhớn nhao rồi”. Nhưng những trò đùa quái ác của lũ trẻ đã khiến cây
28

đau đớn. Chúng “xúm nhau vít cây xuống, vít thật mạnh, bắt chỏm ngọn cây uốn dẻo xuống tận
mặt đất, rồi buông cho cây vút lên, vù một cái, như cánh nỏ bật (...) chẳng mấy hôm mà những
cây bằng lăng đều phờ phạc, lử khử. Cây nào cũng lỏng gốc. Cây lắc lư, lảo đảo. Chóng mặt, héo
cả lá”. “Hàng cây trơ trụi như những chiếc que cắm xuống đất”.
Rồi mùa xuân đến, “mưa bụi cho cây nảy mầm, nhưng mưa bụi cũng dễ khiến cây sinh
bệnh”. Những cây bằng lăng vốn ốm yếu, nay lại bị lũ sâu phá hoại. Nhưng bằng lăng không
buồn vì những người bạn nhỏ đáng mến đã xuất hiện – những chú chim vành khuyên như người
thầy thuốc tận tình nhặt sâu chữa ghẻ lở cho cây. “Những con chim ríu rít chuyền lên chuyền
xuống”. “Tiếng chim lích rích, lích rích trên cành bằng lăng trơ trụi (...). Vành khuyên trò chuyện,
vành khuyên reo mừng, vành khuyên thủ thỉ. Vành khuyên hát cho cây bằng lăng nghe”. Chim đã
mang lại niềm vui, động viên an ủi, bắt sâu cứu chữa cây. Toát lên ở những người bạn ấy là tính
cách đáng yêu: “Chúng em đi nhé! Chúng em đi nhé! Các bạn bằng lăng chóng tươi lên, xanh tươi
lên!”
Hành động của chú chim nhỏ đã tác động mạnh đến lũ trẻ. Chúng biết bảo nhau “đóng cọc,
chăng dây thép quanh gốc cây” để bảo vệ cây. “Đầu mùa hạ năm ấy, cây bằng lăng trổ hoa. Hoa
bằng lăng tím ngan ngát, như từng lẵng hoa buông xuống”. Câu chuyện chứa đựng bài học nho
nhỏ: Hãy biết yêu quý, bảo vệ từng cành cây, ngọn cỏ quanh mình! Những chùm hoa bằng lăng
đầu mùa ấy cũng chính là món quà dành tặng những ai biết yêu quý, bảo vệ cây xanh ( Cây bằng
lăng).
Những chú hải âu ở thành phố biển Latvia, đàn vịt trời ở sông Pre ngoại ô phía tây thành
phố Béc-lin và cả những chú chim ở Việt Nam đều thích đất nước Việt Nam xinh đẹp. Những
người bạn ấy “Thích Việt Nam lắm nhưng còn những cái sợ (...). Các ấy hay bắn chim” (Tặng ai
hay bắn chim bẫy chim). Chim coi con người như những người bạn của mình nhưng hành động
bắn chim, bẫy chim của con người đã khiến đàn chim quá sợ, không dám bay về. Câu chuyện
như chính nhan đề – Tặng ai hay bắn chim bẫy chim đưa ra lời khuyên chân thành với người
đọc: Hãy dừng hành động bắn chim, bẫy chim! Hãy làm người bạn tốt của các loài chim!
“Đã ai thấy cây khóc bao giờ chưa?” Câu chuyện Cánh đồng yên vui mở ra bằng câu hỏi đầy
sức gợi. Cây biết khóc thật sao? Vì sao cây khóc? Tác giả đã lí giải cho bạn đọc: “Đương mùa
xuân người và cây đều hớn hở, mà sao những cây sanh, cây sung này trơ cành ra như những cái
xương cá.
Nhìn kỹ mới thấy sâu đã chén tiệt cả lá cây rồi. Thành ra cái cây ghẻ. Thường mỗi khi cây
trong vườn mắc bệnh ghẻ, chim chích, chim khuyên, chim bạc má đến làm hộ lý, y tá chữa chạy
giúp đỡ, nhặt sâu. Bây giờ mất hút các bạn ấy.
Ghẻ mà không gãi được tức đến phát khóc lên chứ. Thương cây quá, tự dưng trong tai tôi
nghe thấy tiếng cây thút thít” (Cánh đồng yên vui).
29

Phải là người dành sự quan tâm, tình yêu thực sự cho thiên nhiên mới có thể nghe được
tiếng cây khóc như vậy. Cây khóc không bởi cây và chim không giúp đỡ nhau như chim khuyên
đã từng giúp bằng lăng (Cây bằng lăng). Cây khóc bởi “người ta xấu tính với chim, với cây thì
có”. “Chỉ ngay trước sân đã thấy cái rổ úp bẫy chim sẻ. Trên cây, lồng bẫy chim khuyên, chim
gáy. Ở bờ ao, cái thòng lọng cò ke, bẫy chim chích chòe (...). Người ta lùng bắn chim trên cây
quanh nhà, quanh thành phố, quanh làng. Chủ nhật, kéo nhau đi bắn chim cả ngày. Chiều về, đeo
hai vai hai xâu chim, nào dẽ giun, nào cò, nào vạc, nào chèo bẻo, nào chìa vôi...” với vẻ mặt
“hớn hở, tưng bừng của người đi bắn được chim” (Cánh đồng yên vui).
Đối lập với hình ảnh đó là cánh đồng hết sức yên bình – nơi mà có vườn táo chín vàng, những
“ruộng khoai tây xanh mướt”, “luống khoai tây trồng hạt lá tốt xanh um”, có đàn chim chích, đàn
vành khuyên ríu rít bắt sâu, có “hàng trăm những con vịt bạch tuyết, vịt hoa mai đương bơi” trong
đầm nước, “tiếng chim gáy (...) khi xa khi gần”, những con liếu điếu, chim dẽ giun, những chàng
cò bạch trắng phau rình mồi, chàng cò lửa “lịch sự nghiêng đôi cánh đỏ rực duyên dáng cất tiếng
“chào chú đến chơi” rồi thong dong bay về phía bờ tre xa xanh”,... Tất cả các loài chim về đây tụ
hội”. “Chim biết giúp người”, “chim biết tìm đến nơi yên vui” (Cánh đồng yên vui).
Nhà văn đã khẳng định: “Trong xã hội, người tốt nhiều hơn người xấu chứ. Người yêu chim
nhiều hơn đứa bắn chim lung tung chứ”. Câu chuyện cũng như nhắn gửi đến bạn đọc về một lối
sống, thái độ sống: Hãy yêu thương, bảo vệ các loài chim như những người bạn! Hãy gìn giữ
những “cánh đồng yên vui” để những người bạn nhỏ kia được thỏa sức bay lượn trên khoảng trời
tự do.
Câu chuyện Bướm Rồng, Bướm Ma là bài học biết yêu quý, trân trọng những gì gần gũi
xung quanh mình. Con Bướm Rồng mang trên mình một vẻ đẹp thật rực rỡ. “Bướm Rồng to
bằng bông hồng nở. Thân mình và cánh đốm đỏ, nhung đen, trắng lụa, vàng hoa thiên, cả người
rực rỡ múa lên”. Nhưng vẻ đẹp làm say mê lòng người ấy mãi chỉ trong chờ đợi bởi Bướm Rồng
ở một nơi xa lắm – ở tận “những đại dương sóng biển xa xôi, những phố phường đô hội tráng lệ,
có đảo Sa-lô-mông, có thành phố Pa-ri”. Trái với vẻ rực rỡ ấy là hình ảnh Bướm Ma “to bằng
chiếc lá đa, nâu cánh mỡ,lẫn với màu đất ướt nước mưa óng ánh (...) vô khối trong vườn”.
Những chú bướm đen, bướm nâu, bướm xám vốn không được chú ý và bị coi là xấu xí ấy bỗng
trở nên xinh đẹp lạ thường bởi vẻ đẹp toát ra từ chính tâm hồn. Chúng đến bên người, thương
người mỏi mắt khi người đang chờ đợi buồn bã. Ngay cả khi người hờ hững, chúng vẫn luôn bên
cạnh bầu bạn với người. Hành động ấy, nét đẹp tính cách ấy của Bướm Ma giúp cho người nhận
ra: Ai cũng đều có vẻ đẹp riêng, đều có nét đáng yêu, đáng quý, đừng mải chạy theo những điều
vu vơ hão huyền mà đánh rơi mất những gì gần gũi xung quanh. “Hãy biết yêu ai yêu quý
mình” .
30

Câu chuyện của chú mèo Vaxia (Vaxia) hay câu chuyện về chuyến đi săn trong Người đi săn
và con nai lại là tiếng nói lên án những kẻ trộm chó, trộm mèo và săn thịt thú rừng. Đồng thời
cũng là lời ngợi ca những ai biết yêu quý động vật.
Chỉ vì nạn trộm chó mèo làm thịt mà chú mèo nhỏ Vaxia lưu lạc từ bờ sông Xen bên Pa-ri
nước Pháp sang tận Mát-xcơ-va. Thật may mắn cho chú khi đã gặp được những con người tốt
bụng. Mảnh đất chú đặt chân tới đây thực sự là nơi “hiếu khách” và những người bạn nhỏ như
chú được đối xử như bạn của con người. Nổi bật trong câu chuyện là suy nghĩ của chú mèo đáng
yêu ấy: “kể cứ được no đủ ấm áp mà ở chỗ mọi người yêu quý mình thì không còn gì phải lo”
(Vaxia).
Vì “thịt nai ngon lắm” nên mùa nai về tìm ăn quả trám, người đi săn đã chuẩn bị kỹ để săn
cho được con nai: “Lôi cái súng kíp trên gác bếp xuống, xem lại kíp, cái mỏ vịt (...). Mỗi viên
đạn chì được soi lên, xếp vào chiếc túi vải chàm. Người đi săn buộc chít hai ống quần, không
cho con vắt chui lên tận bẹn được. Sau cùng, đeo cái đèn ló giữa trán” (Người đi săn và con nai).
Bỏ ngoài tai mọi lời khuyên của con suối, của cây trám trên đồi và ánh trăng lấp lánh trên cao,
người đi săn vẫn đợi để săn được thịt nai rừng. Thế nhưng, khi con nai xuất hiện, ánh đèn ló
khiến con nai đứng sững lại, “đôi mắt bối rối trong làn sáng đèn”. Người đi săn chợt thấy “con
nai ngây ra đẹp quá”. “Người đi săn quên mất thịt nai ngon, không nhớ gì nữa. Người đi săn lại
nhớ ra lời suối, lời đồi, lời cây: muông thú và cây cỏ trong rừng trên trái đất này là bạn ta, sao ta
lại thèm ăn thịt bạn”. Một buổi đi săn dù không được thịt nai rừng nhưng “không một băn khoăn,
mà người đi săn lại như yên tâm. Không nhớ thịt nai, mà nhớ con nai ngây ra. Trong giấc ngủ dìu
dịu chiêm bao thấy con nai. Có bao giờ lại gặp con nai đáng yêu đến thế” (Người đi săn và con nai).
Hai câu chuyện nhỏ đều mang đến bài học về tình nhân ái của con người dành cho các loài
vật: Con người và động vật cũng là bạn, phải biết yêu quý, bảo vệ những người bạn của mình.
Vốn dành nhiều sự quan tâm cho mảnh đất và con người vùng cao, trong mảng truyện đồng
thoại, Tô Hoài cũng đưa bạn đọc nhỏ đến với nhận thức mới mẻ về cuộc sống ở miền đất này, về
những người bạn nhỏ nơi đây.
Cậu bé Bàn Quý trong Bàn Quý và Ngựa Con trong một lần xuống núi đi chợ đã phát hiện ra
nét tính cách đáng khâm phục ở người bạn nhỏ của mình – Ngựa Con.
“Không biết có phải lần đầu tiên, Ngựa Con theo mẹ đi chợ, nhưng đây là lần đầu tiên Bàn
Quý cưỡi ngựa một mình đi xa”. “Đi đầu, Bàn Quý rất khoái. Ngựa con và Bàn Quý được dẫn
đầu đoàn ngựa trở về”.
Nhưng khi “Trời chạng vạng rồi trời tối dần”, niềm vui ấy nhanh chóng bị thay thế bởi
những băn khoăn, lo lắng. “Bóng tối hay sinh ra nhiều cái lo sợ”. Bàn Quý sợ bóng tối, sợ Ngựa
Con đi lạc đường. Cậu nghĩ “Chắc nó còn hốt hoảng hơn mình”. Nhưng không, Ngựa Con vẫn
bước đi không hề sợ sệt. Đến khi về tới nhà, “ánh mắt Ngựa Con vẫn sáng lóe, chăm chú, nghe
31

ngóng. Một bên vó ngựa cất lên đập xuống. Vẫn khỏe, không mỏi chân, vẫn như thường. Không
vẻ lo lắng. Ngựa Con không sợ bằng Bàn Quý, Ngựa Con không lạc đường như Bàn Quý
tưởng”. Từ chỗ sợ Ngựa Con đi lạc, Bàn Quý đã nhận thức được điều mới mẻ: “Họ nhà ngựa có
trí nhớ tốt lắm. Kể cả Ngựa Con cũng đã biết nhớ dai. Những con ngựa thông minh, dù đi xa tới
đâu, đêm cũng như ngày, chỉ một lần đi qua là ngựa thuộc đường mãi”.
Vẫn câu chuyện về chú Ngựa Con nhưng ở Mùa xuân đã về đấy nói về chú ngựa là bạn của
cậu bé A Kềnh. “A Kềnh rất coi thường Ngựa Con”. Cậu bé nghĩ Ngựa Con “không dám theo mẹ
xuống ruộng”, là “đồ bị thịt, lại nhát, lại lười chỉ biết ăn sẵn”. Cả ngày cậu cứ bực mình nhìn
Ngựa Con đứng ung dung nhai cỏ. Rồi một làn xuống núi chơi, A Kềnh mới hiểu hết, mới phục
cái tài của ngựa. Cậu biết tai ngựa “ve vẩy được”, “lại biết nghe xa”, “tiếng chim hót cách mấy
núi, Ngựa cũng nghe được”, biết ngựa có tài ngủ đứng, ngựa có cái mũi đánh hơi rất tài.
Hai câu chuyện không chỉ mang lại những nhận thức mới mẻ mà còn nhắn gửi người đọc
biết nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, khách quan về sự vật và những người xung quanh.
Những chuyện xa lạ tiếp tục mang đến cho các em nhỏ một bài học ý nghĩa. Anh Sơn
Dương “về tránh rét ở mổm đồi thấp trên các xóm dưới thung” đã mang về bao câu chuyện lý
thú khiến ai ai cũng đều quý mến. Dê Bé rất ngưỡng mộ vẻ đẹp của Sơn Dương – đôi mắt “lừ lừ
biếc xanh như đôi sao hôm mọc cùng một lúc”, “bộ râu giang hồ rất đỗi hiên ngang”, “ những
cặp móng lúc nào cũng đen nhoáng” và đặc biệt là những câu chuyện xa lạ đầy thú vị anh vẫn kể.
Dê Bé “hì hụi tìm cách thành Sơn Dương”, xin đi cùng Sơn Dương để có được “những câu
chuyện đường xa ai cũng phải thích”. Nhưng điều bất ngờ nhất mà Dê Bé có được ngay trong
buổi sáng đầu tiên hai bạn lên đường lại xuất phát từ chính xóm của mình: “Những tiếng động
buổi sáng”, tiếng gà gáy, hình ảnh gà trống bước đi oai vệ, họ nhà gà nhặt sâu, những chú gà con
mới rời ổ ấp còn đang ngơ ngác,... Tất cả những âm thanh, hình ảnh ấy khiến Dê Bé lấy làm
thích thú lắm. “Những chuyện lý thú quanh mình mà bấy lâu không để ý không biết”. Lời
khuyên mà Tô Hoài mang đến cho bạn đọc qua câu chuyện cũng chính là lời Sơn Dương: “Hãy
biết yêu những cái mình trông thấy rồi hẵng thích chuyện đường xa mình chưa trông thấy”.
Không chỉ đưa các em nhỏ khám phá mọi miền Tổ quốc, Tô Hoài còn giới thiệu với trẻ
những người bạn với những nét tính cách khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới.
Bạn lạc đà cung cấp cho trẻ có những hiểu biết về lạc đà – người bạn hiền lành, “thoạt nhìn
đã có cảm tình” khiến ai ai cũng đều yêu mến. Tuy sống ở nhiều vùng đất khác nhau như vườn
thú Giô ở Matxcova, đất nước Irac, Ap-ga-ni-xtan, Mông Cổ,... nhưng lạc đà vẫn mang trên
mình dáng vẻ, nét tính cách đặc trưng được thể hiện qua loạt các hình ảnh: “Hiền từ mà lại vẻ
hiên ngang (...). Bộ lông màu cát, trắng nhạt nom oách như áo giáp của tay hiệp sĩ thời xưa. Hai
cái vấu trên lưng lạc đà như hai chiếc thúng úp”. “Lạc đà có tài nhịn nước suốt ngày mà chân vẫn
dẻo dai bước đều, lưng vác nặng, khoan thai như lúc mới ra đi”. “Lạc đà cõng ra chợ những bó
32

củi, cây củi chất cao gấp ba gấp bốn thân mình. Nặng thế mà lạc đà vẫn lừng lững đi, thong thả,
bình thường, không một chút mệt nhọc”. “Suốt đời lạc đà chỉ mặc có một bộ quần áo, thế mà
mùa hè thì áo mát, mùa rét thì áo lại ấm như lò sưởi, mà vẫn một bộ ấy”.
Đặc biệt, qua câu chuyện của chú lạc đà ở Mông Cổ, bạn đọc nhận ra nét tính cách mới của
người bạn hiền lành này. Lạc đà đến giúp đám hội bằng việc mời khách lên lưng ngồi, đưa khách
đi thăm thú cảnh “trời xanh tuyết trắng nước cuối mùa thu đẹp tuyệt trần” của Mông Cổ. Khi
được nhận xét lạc đà hiền hậu, đáng yêu, chú đã cho người bạn mới thấy vẻ đẹp khác của mình:
“Đúng là mình thật hiền, biết kính trọng cụ già và thích đánh bạn với trẻ con. Nhưng không phải
lúc nào mình cũng hiền lành đâu nhé. Đằng ấy hãy nhìn tảng đá kia.
Một tảng đá lớn nằm dưới chân núi cao to như cái nhà lầu. Lạc đà bước tới, gồng mình lên,
cong hai khoeo chân sau. Lập tức, hai bàn chân lạc đà như đôi ủng sắt phóng ra một phát đá hậu
ghê gớm. Cả tảng đá bay lơ lửng lên tận lưng núi (...) Lạc đà và ngựa Mông Cổ đã đặt chân trên
mặt đất nửa địa cầu. Và trong chiến tranh thế giới vừa qua, đã có bao nhiêu binh đoàn kỵ binh
Mông Cổ, đã có bao nhiêu lạc đà Mông Cổ đưa súng đạn, lương thực ra mặt trận đánh thắng
quân phát xít” (Bạn lạc đà).
Đó là vẻ đẹp của sự dẻo dai, đặc biệt là sự dũng mãnh rất đáng trân trọng khi tích cực tham
gia vào mặt trận chống quân phát xít xâm lược của lạc đà. Giờ đây, các em nhỏ đã thêm hiểu
biết, thêm yêu quý lạc đà. Lạc đà thật hiền nhưng cũng thật dũng mãnh.
Những người bạn trong Nỗi bực mình của chàng hổ độn cốt rơm lại mang nét đẹp tính cách
khác. Họ đều vui tính, ý tứ, tự trọng, đều rất thật thà, ưa sự chân thực và ghét giả dối. Chú rắn hổ
mang ở thành phố Can-cút-ta (Ấn Độ) đã nhắm mắt lại, không thèm nhìn những người khách du
lịch khi họ chụp ảnh. Chú tỏ thái độ như vậy bởi chú coi thường những con người giả dối chẳng
hiểu tiếng sáo “mà cũng đòi chụp ảnh như cùng nghe tiếng sáo với mình”. Chàng cá sấu vùng
biển Caribe thì ghét “những đứa nhát hơn thỏ mà lại tỏ vẻ! Đòi chụp ảnh chung với cá sấu”. Nên
dù “hai hàm răng cá sấu đã được nám khít lại bằng một vành nhựa và ni lông. Không thể cứ há
mõm ngoặp đứa nào một miếng cho hả cơn bực mình được”, chú vẫn có mẹo khác để chọc phá.
Chú “móp bụng thở phì một cái” khiến khách du lịch hoảng sợ. Còn anh chàng hổ độn cốt rơm ở
vườn hoa thành phố Sai-đa (Libăng) lại ghét “bọn nhà giàu nhát như cáy”, thấy bực dọc khi phải
nghe những khoe khoang giả dối nên chú đã nhờ bạn mời anh hổ thật đến thế chỗ của mình để
dọa những kẻ khoe khoang kia sợ cho hả giận. Tất cả những hành động ấy đều bởi chúng ghét sự
giả dối. Đây cũng là nét tính cách mà các em nhỏ cần có và đáng phải học tập.
Hành trình thay đổi bản thân của chú khỉ trong Hươu về ở vườn, Suối khỉ, Anh cua rơ đeo số
15 là lời cổ vũ các em nhỏ vững tin vào việc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm của mình. Chú
khỉ ở Tân-đê-li (Ấn Độ) có tật xấu là chỉ chơi và quen ăn cắp vặt. Khi được khuyên nhủ “chú
thường ở trên cây, lúc nào trông xuống cũng thấy người ta ai cũng làm việc, lại các bạn trâu, bò
33

và cả bạn voi, trước kia các bạn ấy cũng ở rừng lang thang như chú, bây giờ đã biết về làng và
làm việc với người. Chú chỉ chơi không mà chẳng biết chán ư?” (Hươu về ở vườn). Thế là, khỉ
đã thay đổi, “không lêu lổng trộm cắp như hồi đó nữa” (Suối khỉ). Khỉ biết bỏ thói ăn cắp, rồi cả
thói quen chầu chực xin thức ăn thừa để gia nhập đoàn xiếc, tự làm việc để kiếm cái ăn. “Thà
chịu đói, nhất định không đi ăn trộm, không đi ăn mày nữa” (Anh cua-rơ đeo số 15). Chú khỉ ấy
đã khẳng định được rằng “chữa được một thói quen không dễ” nhưng chỉ cần quyết tâm và cố
gắng thì nhất định sẽ sửa được khuyết điểm của bản thân.
Không chỉ có chú khỉ, nai và hươu sao trong Hươu về ở vườn cũng đã thay đổi được bản
thân để đi làm những việc có ích. Để giờ đây, khi đến Ấn Độ sẽ thấy “trong cánh đồng có hươu
và nai thong thả gặm cỏ – đàng hoàng như cừu và dê. Những con hươu đến mùa nhú sừng lại cho
người lấy nhung – nhung hươu non, làm thuốc quý, bổ lắm.
Còn trông thấy quanh vùng chân núi Chúa ngoại ô U-lan Ba-to ở Mông Cổ, những con
hươu, con nai đi guốc lộc cộc, tha thẩn cạnh mấy cậu bé.
Ai đi xe lửa buổi chiều từ thành phố dầu lửa Plo-ê-ti về thủ đô Bu-ca-rét nước Ru-ma-ni,
hẳn đã được ngắm từng đàn hươu chạy rỡn theo tàu như đàn ngựa, đàn trâu.
Ai về Hương Khê ở Hà Tĩnh có thể làm quen với những chú hươu dễ tính thơ thẩn chơi
trong vườn” (Hươu về ở vườn).
Tìm hiểu nội dung này cũng không thể không kể đến các truyện: Cái kiện của lão Trê, Gấu
ăn trăng, Cành cạch chơi trăng, Mải vui quên hết, Chú Cuội ngồi gốc cây đa, Núi Gấu. Đây là
những câu chuyện dựa theo tích dân gian có sẵn để giải thích sự vật, hiện tượng tự nhiên đồng
thời cũng lồng ghép bài học giáo dục tư tưởng cho trẻ.
Cái kiện của lão Trê đã đi từ câu chuyện cổ tích Trê và Cóc, dẫn bạn đọc đến với sự lí giải lí
do “vì sao bấy lâu lão Trê phải sống cô đơn đến nỗi nhận nhằng cả nòng nọc là con mình”. Lão
Trê vốn có “cái đầu, cái mặt bèn bẹt cứ lầm lầm lì lì” trông thật thô lỗ, đôi mắt ti hí đù đờ
“nhưng cái mũi Trê đặc biệt lắm. Mũi Trê thính cực kỳ”. lão huênh hoang khoe mình “tài nhất
các loài ở sông hồ”, “coi khinh mọi loại yếu đuối”, “lập ra một vùng riêng cho mình”. Thói quen
dọa nạt mọi loài yếu hơn đã khiến lão bị xa lánh. Mọi người “mặc lão đứng một mình mà múa
võ”. Không ai đến gần lão, lâu ngày, lão thấy trơ trọi. Bởi vậy, lão đã đồng ý cho thím Cóc đẻ
nhờ rồi nhận nhằng cả nòng nọc là con của mình dẫn đến chuyện kiện cáo giữa Trê và Cóc. Cái
xấu bị trừng phạt chính là bài học tác giả gửi gắm qua hình tượng lão Trê.
Gấu ăn trăng là cách lý giải đậm màu sắc tưởng tượng về hiện tượng nguyệt thực. Gấu vì
ghen tỵ với vẻ đẹp của trăng nên đã nuốt cả mặt trăng vào bụng. Ánh trăng sáng đã soi tỏ mọi ý
nghĩ của Gấu, muôn loài biết được đều tránh xa. Gấu sợ đói đành phải nhả trăng ra. Nhưng đến
bây giờ nó vẫn còn ghen tức với vẻ nõn nà của trăng, và mỗi lần nổi cơn bực bội nó lại đớp
trăng, nuốt một cái, sợ đói lại nhả ra. Không chỉ đem đến cho trẻ nhận thức mới mẻ, cách lí giải
34

ngộ nghĩnh về một hiện tượng tự nhiên quen thuộc, câu chuyện còn là tiếng cười chê những ai có
thói xấu hay ghen tỵ với người khác.
Cành Cạch chơi trăng là tiếng cười nhẹ nhàng về chú Cành Cạch vẻ ngoài nghiêm nghị, oai
vệ nhưng lại rất tồ, hay tự ái và hay cãi chày cãi cối: “Trái núi khấp khểnh từng tảng đá chồng
chất. Có lúc trăng chợt khuất vào mép đá, trời tối lại. Đá nhấp nhô thắt cổ bồng, làm cho trăng
len quãng sáng quãng tối. Cành Cạch ta nghĩ có lẽ cái ông trăng này cũng hay đi ngủ từ chập tối
giống như mình nên mới mắt nhắm mắt mở thế. (...) Rồi Trăng bỗng khuất một lúc lâu vào quãng
núi. Trời đất tối sầm hẳn lại. Cành Cạch ngửa mặt lên lẩm bẩm bực mình: “Cái lão này ngủ say
mất rồi.Bất lịch sự quá, quên cả bè bạn đương đi chơi với. Vậy thì tội gì phải vất vả. Ta cũng đi
ngủ cho béo mắt” ”. “Các bạn bảo đấy là bóng núi lấp ông Trăng chứ không phải Trăng ngủ.
Nhưng đến bây giờ Cành Cạch vẫn cãi đã thấy ông Trăng ngủ, chắc có ai vừa mới đánh thức
dậy”. Câu chuyện còn khéo léo nhắc nhở các em nhỏ trước khi nói điều gì phải tìm hiểu kỹ vấn
đề đó, không nên kết luận vội vàng.
Mải vui quên hết kể sự tích về giống chim hải âu bay từ cảng ngoài A-lếch-xăng-đơ-ri vào
vùng ngoại ô thủ đô Lơ-ke (Ai Cập). Để thỏa mãn trí tò mò của mình, hai anh em hải âu đã rủ
nhau đi khám phá vùng ốc đảo rất đẹp – nơi mà “vua Chi-ốp đã xây nên một cái tháp cao nhất
thế giới”. Trong chuyến đi ấy, họ đã lạc nhau mỗi đứa một nơi. Biết tính em còn trẻ dại, ham
chơi, “mỗi quãng qua ốc đảo, anh lại xuống tìm” mà không thấy em đâu. Nhớ lời hẹn, anh vội
vàng bay rong ruổi. Những trận bão cát, những ốc đảo no ấm đầy quyến rũ níu chân anh. Nhưng
rồi nhớ lời hẹn với em, lại bay đi. Cho đến khi tới đỉnh Chi-ốp, không thấy bóng dáng em, hải âu
anh vẫn đợi, đợi không biết bao nhiêu ngày tháng, bao nhiêu đời và băn khoăn “hay là em đã mải
vui, mải vui quên hết...”. Câu chuyện về tình anh em cũng là bài học sâu sắc về việc nhớ và thực
hiện lời hứa hẹn.
Chắc hẳn trẻ thơ không còn xa lạ gì với hình ảnh ông trăng tròn vành vạnh, soi tỏ cả bóng
sân để rồi ít nhất một lần đã từng hỏi bà, hỏi mẹ về chú cuội, cây đa trên ấy. Chú Cuội ngồi gốc
cây đa là truyện đồng thoại dựa vào truyện cổ tích dân gian để sáng tạo nên câu chuyện giải thích
về tiếng đồn Cuội hay nói dối, về sự im lặng của trâu. Chỉ vì Trâu buột mõm nói vui mà Cuội bị
đòn, bị mang tiếng xấu là kẻ nói dối. “Cuội vừa giận trâu vừa tủi thân. Cuội bỏ nhà lỉnh ra ngồi gốc
cây đa từ đấy”. Nỗi oan của Cuội đã thành câu hát:
Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời....
“Từ ngày ấy, Trâu cũng cứ đi lang thang. Trâu im lặng như câm. Trâu đã thề, nếu Cuội
không tha cho trâu cái lỗi lỡ miệng, thì chẳng bao giờ trâu còn biết cất tiếng nói, Trâu không bao
giờ nói nữa”.
35