Tải bản đầy đủ
CHƯƠNGII CẢM QUAN SÓNG VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TỒ HOÀI

CHƯƠNGII CẢM QUAN SÓNG VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TỒ HOÀI

Tải bản đầy đủ

nghĩ rằng: "mỗi khi cấm bút lên mà kể chuyện một dòng nước, một cánh hoa, một làn mây trắng,
thì gã thấy như mình đương làm một việc gì trào phúng quá. Gã ngượng với bút. Gã ngượng với
chính cái mặt gã soi thấy ở trong gương". Thế là, viết về cái 3của mình, quanh mình đã là định
hướng nghệ thuật của Tô Hoài. Từ đó, một cách tự nhiên, ông đã hướng ngòi bút của mình vào
"những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa
sút nghèo khó” [47, 66]. Hơn nữa, những năm này, Tô Hoài chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào
Mặt trận dân chủ Đông dương, chịu sự tác động của Hội văn hoá círu quốc, vậy nên, đi vào con
đường chủ nghĩa hiện thực, Tô Hoài không rơi vào sự bế tắc tuyệt vọng. Chính từ quan niệm văn
chương ấy, từ ỷ thức nghệ thuật ấy, nhà văn luôn gắn bó với con người và cuộc sống để tìm nguồn
cảm hứng và chất liệu cho ngòi bút.
2.1.1.

Cám quan quê hương đất nước và xã hội trong sinh hoạt đòi thường Truyện viết về quê

hương đất nước của Tô Hoài thế hiện qua nhiều chủ đề phong phú: viết về Giáo dục đạo đức, về
thiếu nhi làm giao liên, về xây dựng miền Bắc, về tết Trung thu, về mùa xuân... Tác giả bộc lộ sâu
sắc tình yêu quê hương đất nước sâu lắng của mình. Nội dung của những tác phẩm đều ngợi ca
thiên nhiên tươi đẹp và những con người qủa cảm trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tố quốc.
Bằng những hiểu biết tích lũy được qua thực tế, nhà văn Tô Hoài đã mang lại cho các em kiến thức
về lịch sử, về phong tục các dân tộc, về văn hóa ứng xử...
Những nhà văn bắt đầu sự nghiệp văn chương vào các thập niên đầu thế kỉ trước, là những người
sống và sáng tác qua hai cuộc kháng chiến chốngPháp,
chống Mỹ vĩ đại. số phận con người sống trong thời bom đạn lùi xa hàng chục năm, nhưng nỗi đau
từ mất mát đau thương sau hai cuộc chiến vẫn không thế nào hàn gắn. Chủ đề này được nhiều nhà
văn khai thác. Với Tô Hoài, ông hướng về vùng quê sơn cước xa xôi viết nên hình tượng người anh
hùng nhở tuổi, yêu nước gan dạ. Nhũng tác phẩm xuất sắc, nói về thiếu niên làm giao liên trong
cuộc kháng chiến chống Pháp của ông gồm có Vừ A Dính, Kim Đồng, Páo và Suciy Hoa Sơn, Đây
là những nhân vật thiếu nhi đã làm nên trang sử vàng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống
Pháp. Tô Hoài tìm về miền rẻo cao phía Bắc, gặp gõ' những người tòng sống thời bom đạn, khai
thác các câu chuyện kể, các sự kiện của người thật việc thật. Ồng xây dựng lại nhân vật bằng ngòi
bút sắc sảo của mình. Hình tượng Vừ A Dính, Kim Đồng, Hoa Sơn, Páo và Soa hiện lên, đẹp đẽ
sáng ngời trong lịch sử và trong tác phẩm. Các em đã tỏa sáng bởi lòng yêu nước nồng nàn, và tinh
thần chiến đấu dũng cảm của mình. Với chủ đề Xây dựng miền Bắc, Tô Hoài đã khắc họa những
thay đối trong thời kì đầu hoà bình qua nhiều chi tiết đời thường. Ông lấy đối tượng khai thác là các
em nhỏ. Cảm xúc, hành động nhân vật trong truyện của ông vì thế lúc nào cũng ngây thơ hiếu

động, chứa đầy khát vọng. Hơn ai hết, chính ông là người sống trong thời kì khó khăn, ông hiểu
niềm vui chiến thắng, hiểu ý chí vươn lên từ cảnh hoang tàn sau cuộc chiến. Người dân miền Bắc
Việt Nam từng bước xây dựng những viên gạch đầu tiên, và họ đã
3 có những thành tựu đáng tự hào.
Truyện Ò..Ó..O, không đon giản chỉ nói về tiếng gáy cao vang của chú gà trống nơi thôn xóm,
điều tác giả muốn nhấn mạnh là niềm vui của cậu bé nhở đứng ngắm nhìn ánh điện sáng rực cả
ngôi làng. Truyện Lo tường hổng, xúc động bởi chi tiết gợi nhớ quá khứ. Cậu bé Trung thắc mắc về
cánh cửa, nơi theo cậu nhìn giống một lỗ hống lớn trên tường hơn. Lời giải thích đưa cậu về với
thời chống Pháp. Hình ảnh các anh bộ đội xung phong thời đó đã bí mật hành quân qua lỗ hổng này
đi đánh giặc. Câu chuyện thu hút các bạn nhỏ trong xóm, khiến các cô bé cậu bé cảm thấy trưởng
thành hơn khi chơi trò trốn tìm xung quanh lỗ tường hổng. Câu chuyện là một thông điệp gợi nhớ
quá khứ dành cho thế hệ măng non đất nước.
Trong Cánh đồng làng, tình yêu dành cho quê hương thể hiện qua bài văn của một bé trai. Bé
đạt điếm cao vì Bé siêng năng dậy sớm, thích thú quan sát cánh đồng làng khởi sắc vào mỗi sáng
tinh mơ. Sự thay đổi hàng ngày trên mảnh đất bé sinh ra đã làm nên cảm xúc trong tâm hồn bé.
Ông thường kể, nơi này đồng chiêm hóa đồng mùa, nên niềm vui ngày hôm nay của bé là niềm
hạnh phúc của ông được đúc kết qua nhiều tháng năm vất vả. Hình ảnh người ông trong truyện quê
hương đất nước xuất hiện nhiều, bởi lẽ ông là thế hệ sống cùng với những biến cố dân tộc, ông ghi
nhớ và làm sống lại lịch sử một cách thuyết phục qua lời kể của mình. Nhân vật người ông trong
Ông kế chuyện tháng Tám đã đưa các cháu trở về không khí ngày hội tháng Tám năm 1945. Ngày
ấy, ông lên tám, bằng tuối cháu bây giờ. Một câu chuyện buồn, mang tính nhân văn sâu sắc mà tác
giả viết trong tập truyện này, là về bé Quỳnh Thơ, người con duy nhất của nhà thơ Xuân Quỳnh và
nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Tình yêu quê hương của bé thể hiện qua sở thích chơi tem, bé sưu
tầm nhiều kiểu tem như muốn ôm cả thế giới vào lòng. Truyện Quỳnh Thơ chơi tem, Tô Hoài viết
với nhiều cảm xúc buồn thương, chua xót. Là nhà văn của trẻ em, yêu trẻ em, và hiểu tâm lý trẻ em.
Ồng đã viết về niềm vui của các bạn nhỏ trong những ngày lễ tết dân tộc, đó là những nét đẹp của
văn hoá cố truyền đã có tù' lâu. Chang hạn như tết Trung thu trong Bày co rằm, đón chào năm mới
trong A! Năm mới , Bé nhìn xung quanh. Bên cạnh đó, tác giả còn viết nhiều tác phẩm nói về sự
giàu đẹp của thế giới rộng lớn như: Đêm trắng, Đen Cuba, Nỗi bực mình của chàng Hổ độn cốt
rơm... Và ngợi ca tình hữu nghị tốt đẹp của các nước bạn dành cho Việt Nam: Núi xanh xanh...
2.1.2.

Cảm quan thiên nhiên Lòng yêu thiên nhiên, sự gắn bó với thiên nhiên ở Tô Hoài được hình

thành từ tuổi ấu thơ. Nhà văn sinh ra và lớn lên ở quê ngoại (Nghĩa Đô). Cha ông bỏ đi “nước” Sài
Gòn biền biệt. Ông ở với ông bà ngoại. Ồng bà luôn luôn cãi nhau,

thậm chí đuổi đánh nhau, rất sợ. Cu Bưởi biết chơi với ai, đành chỉ thui thủi một mình trong khu
vườn bên ngôi nhà cổ “cây coi um tùm như rừng (...) cây na, cây lựu, một cây cam sành, cây hồng
quả, cây ôi lớn chỉ chít cành. Giữa có câv ngọc lan. Đầu mùa 3hè, hoa ngọc lan chín trắng muốt,
hương ngát ra tận đầu ngỗ (...) Cạnh cây ngọc lan là một cây đào lớn băng cột đình, đen xù xì,
quanh năm phòi ra từng cục nhựa trong óng, dính như cồn. Nó lão quả, không đứng được thăng,
phải khom khom ngả dài nghen ra tận thành bê. Tôi cứ men men leo được đền lưng chừng thân rất
dễ dàng”.Trong vòm cây, chim chóc làm tổ hót líu lo suốt sớm chiêu. “Lả cây nhiều quả. Lả cây
này bíu lấy là cây khác, ôm lân nhau, mặt đất mát rời rợi. Ở tầng thấp hon la liệt những xương
rồng, mào gà, nào tía tô, kỉnh giỏi, những nhóm vạn niên thanh mọc lân với cỏ tóc tiên Trong thế
giới ấy, cu Bưởi cặm cụi xây dựng cho mình một “sở bách thú” riêng: “Trên cành dương rủ bên
bờ chuôm, tôi buộc vài con xiên tóc vàng, châu chấu voi và bọ ngựa thì thảnh thơi nhảy rởn trong
bụi xanh tảo. Dưới đất tôi láy những viên gạch chỉ chắn ngang, chắn dọc, phủ đất lên trên làm
thành những dinh cơ kín đáo nuôi nhái và ếch (...) Trại bách thủ của tôi thích lam. Có khi tôi mê
mải cả ngày trong bụi cây vườn ”( cỏ dại)
Yêu thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên là bản chất của tuổi thơ. Nhưng phải nói, điều này ở Tô
Hoài vẫn có nét đặc biệt do môi trường sống từ nhỏ tạo nên. Không phải ngẫu nhiên mà ông có biệt
tài tả thiên nhiên. Õng tả thiên nhiên không chỉ bằng mắt nhìn, bằng bút vẽ mà bằng cả tâm hồn.
Và ông huy động triệt để các giác quan vào bức tranh trời đất, cở cây, chim muông.
Hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái có nguy cơ bị tàn phá, huỷ diệt, đang đặt ra một
cách gay gắt cho toàn nhân loại. Đây là một mối lo lắng không nguôi của Tô Hoài. Ông cảm thấy
nhớ tiếc đến đau đớn trước cảnh thiến nhiên cây cở xanh tốt ngày xưa, nay bị phong trào đô thị hoá
lấn chiếm bằng những ngôi nhà cao tầng phát triển tràn lan với những bức tường xi măng xám
ngắt. Trại hàng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp bị thu hẹp dần, làng thuốc Nam Đại Yên nay chỉ còn thoi
thóp, chợ bán lá thuốc chỉ còn lèo tèo dăm ba mẹt lá và vài cụ già nhớ chợ ngồi bán cho vui {Làng
thuốc Nam). Ồng thương con khướu bạc má mua ở Kim Bôi, ngày xưa nó hót râm ran cả ngày, nay
chỉ kêu rú lên hai tiếng quẹc quẹc. Tiếng các loại xe cộ chạy rầm rập từ sáng đến chiều khiến nó
như nhức óc, đinh tai không hót được nữa. Và nó phờ phạc, đầu trụi dần, cánh sã xuống, lông rụng
lả tả, rồi chết còng queo trong lồng (Con khướu bạc mả). Ồng căm giận thật sự những kẻ phá rừng,
đốt rừng, săn bắt chim muông. Sợ nhất là nạn bẫy chim bằng kĩ thuật hiện đại: dùng cát-xét thu
băng tiếng chim có thế bắt được từ mòng két, cu gáy, chim ngói, chim sẻ, sâm cầm, đến vịt trời và
cả diều hâu nữa. Bắt và đem ra chợ bán từng xâu, từng xâu:
Diều hâu bay cao thế, sao bây được?

Mở băng tiếng diều hâu kêu ra, xuống ngay chứ!
Thu được băng tiếng diều hâu?
- Ỏng ơi! Cụ giời trên thiên đình mà nói cũng thu được cả tiếng 3cụ giời. Ncio ông mua đi, diều hâu
nướng lên thom chăng kém gỉ gà gô ”
(Rồi thì người ta ở một mình)
Bây giờ trên rừng hổ báo không còn, bọn khỉ cũng mất dần. Ờ thành phố thì tiếng chim, tiếng ve,
tiếng tắc kè chỉ còn trong trí nhớ. Vô vàn con vật đáng yếu hầu như cũng mất cả: đàn chuồn chuồn
tương bay rập rờn báo hiệu trời nắng trời mưa, con xiến tóc sáng sớm mở cánh bay đi cạo ăn vỏ cây
dướng, mùa hạ thì bươm bướm ra như vờ tố “những con bướm Rồng sặc sỡ bay lượn rọ'p một
vùng”, rồi con cành cạch, con cào cào đậu trên ngọn lúa, và con dế, loài dế...lang thang trên đường
phố Hà Nội, Tô Hoài nghĩ mà thương từ các loài muông thú trên ràng đến “Những con vật nho nhỏ
quanh ta Tuối thơ vốn thân thiết với thiên nhiên. Hàng ngày các em vẫn đánh bạn với quả na, quả
thị, con chó, con mèo...Vô tư và hồn nhiên, các em cũng chính là thiên nhiên. Yêu tha thiết thiên
nhiên, Tô Hoài đến với truyện thiếu nhi là đến với những tâm hồn đồng điệu, đến với tuổi thiên
nhiên của nhân loại.
Thiên nhiên tươi đẹp là chủ đề mà nhà văn Tô Hoài viết nhiều. Có thể thấy, tự hào và yêu
thương đất nước Việt Nam bao nhiêu, ông gửi gắm những cảm xúc đó vào trang viết nhiều bấy
nhiêu. Dường như ông quan sát từng cành cây ngọn cỏ nhú lên khỏi mặt đất, ông đếm cả nhũng
cánh chim trời, và bao quát tầm nhìn từ miền xuôi lên miền ngược. Với loài cây cho bầu không khí
trong lành, cho quả thơm trái ngọt tác giả viết Cày bằng lăng, Mùa lê mùa đào. Với loài vật, ông
ngợi khen chú ngựa khôn của cậu bé AKenh trong Mùa xuân đã về đây, thích thú trước con khỉ
thông minh nhanh nhẹn trong Anh curơ đeo Sốl5, miêu tả về cả đàn khỉ trong Suối khí, cảm kích
lòng nhân từ của người thợ săn trong Người đi săn và con nai. Một nhà văn có nhiều năm sống ở
miền núi, cảm xúc về vùng đất Lai Châu nhiều điều mới lạ, đẹp mắt được ông viết trong Lên Sìn
Hồ, như để các bạn nhở lớn lên ở miền xuôi hiểu thêm về nếp sống văn hóa của các dân tộc trên đất
nước Việt Nam. Trong tác phẩm Anh đưa em đến Hiền Lương, ông ngợi ca ước mơ đẹp đè của bạn
nhỏ khi muốn đến thăm cầu Hiền Lương, nơi từng là địa điếm tàn phá khốc liệt của đế quốc Mỹ.
Qua đó, hiểu thêm về chiến tranh, về lịch sử Việt Nam.
Tóm lại, truyện về quê hương đất nước của Tô Hoài rất phong phú về chủ đề. Ông đã đề cập
đến nhiều chi tiết trong cuộc sống đế làm nối bật tình yêu đối với quê hương. Đây là ưu điếm lớn
của nhà văn Tô Hoài. Chúng tôi xếp các chủ đề trên vào loại truyện quê hương đất nước, vì các sự
kiện, nhân vật, và hành động tác giả đề cập đến đều hướng về mục đích cao đẹp. Đó là khơi dậy

cho các em những hiểu biết về quá khứ, lòng nhân ái ở hiện tại, niềm tin trong tương lai. Giúp các
em hoàn thiện nhân cách, trau dồi tri thức đế trở thành người hữu ích trong công cuộc bảo vệ xây
dựng và phát triển đất nước.
2.1.3.

3

Cảm quan sinh hoạt qua loài vật
Thế giới loài vật phong phú, đa dạng đã từng hấp dẫn bao nhà văn trên thế giới và ở Việt Nam:

Laphôngten, Anđécxen, L.Tônxtôi..., Kim Lân, Võ Quảng, Phạm Hố, Tô Hoài... Viết về thế giới
loài vật, mỗi nhà văn có một thế mạnh riêng, một sở trường riêng trên một cảm quan hiện thực
riêng. Nếu Laphôngten đến với thế giới loài vật bằng những bài thơ ngụ ngôn; Kim Lân tìm thấy
"tài năng" của những con vật đáng yêu ở nhiều vùng nông thôn thuần phác Việt Nam: chó săn,
chim bồ câu, gà chọi..., thì Tô Hoài lại đến với thế giới loài vật trong sự cảm nhận đặc biệt - cảm
nhận như đời sống con người.
Cảm quan đầu tiên về thế giới loài vật của Tô Hoài là sự phong phú, đa dạng thế giới những con
vật nhỏ bé; "xoàng xĩnh" (chữ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh) rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt
bình thường của con người. Đó là De Mèn, De Trũi, Xiên Tóc, Kiến Chúa, Bọ Ngựa, Gà Ri, Gà
Chọi, Chuột Bạch, Cá Chép, Cá Trê, Bồ Nông, Mèo, Chó, Ngan, Lọn... Với một khả năng quan sát
đặc biệt rất thông minh, hóm hỉnh, tinh tế, lại có những ngày thơ ấu gần gũi với thế giới loài vật
ngộ nghĩnh đáng yêu ở bãi cơm thi đầu làng, cùng một tình cảm đặc biệt dành cho những "người
bạn thân tình", ông đã cảm nhận thế giới loài vật nhỏ bé đáng yêu trong sự tồn tại tự nhiên của nó.
Trong cảm quan của Tô Hoài, thế giới loài vật tuy nhở bé, "xoàng xĩnh” nhưng lại có "đời sống
phong tục" phong phú, có "đời sống tình cảm" đa dạng. Đó chính là cái nhìn ẩn dụ về người nông
dân lao động Việt Nam.
Trong thế giới loài vật của Tô Hoài, mỗi con vật có một "cá tính" riêng: De Mèn thích phiêu
lưu,"sống" có " lý tưởng", có " hoài bão"; De Trũi "dũng cảm" trong công việc, "thuỷ chung” trong
"tình bạn”; chị Nhà Trò yếu đuối hay bị Mbắt nạt"; bác Xiên Tóc "chán đời” thích rong chơi; lão Cóc
"khoác lác, huênh hoang”; lão ếch Cốm đại vương "dở hơi"; Ri Đá "cần cù, chịu khó”; Mèo già
"thâm độc”; Chuột Nhắt "huênh hoang"; Bọ Ngựa "khệnh khạng"; vợ chồng Trê "gian ác xảo
quyệt”... Không những thế, thế giới loài vật của Tô Hoài còn có "đời sống tinh thần" phong phú, đa
dạng. Mỗi loài, thậm chí mỗi con vật bé nhỏ đều có tốt - xấu, dở - hay, vui - buồn trong trạng thái tự
nhiên của nó. Con Mỵ (Con mèo lu’òi) là giống mèo mũi đỏ không biết bắt chuột, chỉ biết ăn vụng,
suốt ngày nó rong chơi, lười nhác. Đã lười còn hay đòi ăn ngon - phải ăn cơm với cá và nằm tro bếp
ấm.

Mụ Ngan (Mụ Ngan) thì "đần độn” quá, "đần độn đến phát ghét lên được", "thật là một thứ đàn bà
đồ tồi", tranh ăn với cả lũ con, bất chấp tiếng kêu thảm thiết của con ngan nhỏ, mụ chang biết,
chang đoái hoài gì. Không những thế, mụ còn "dí chặt chân lên3lưng nó mà xốc ngô như thường",
đế đến nỗi ngan con bị gẫy xương lưng. Thậm tệ hơn nữa là, đến lúc ấy mụ lại rong chơi để mặc
thây đứa con bị trọng thương đang kêu khắc khoải. MMụ làm như không biết rằng có một đứa con
mình vừa mới chết". Trong khi đó Gà Mái (Một cuộc bế dâu) vừa là "một người đàn bà giỏi giang",
vừa là "người đàn bà rất đa tình". Khi chưa vướng vào bổn phận "nuôi nấng dạy dỗ con trẻ", "người
đàn bà ấy” "yêu hết mình”. Nhưng khi đã được "làm mẹ M, nó lại là một Mbậc mẹ hiền gương mẫu”.
Mụ không dám rời lũ con thơ đến nửa bước. Chăm chỉ kiếm ăn nuôi con, có khi chỉ bới được một
hạt đền nhở mụ cũng gọi chúng đến, cho chúng ăn. Mụ vừa "nhìn các con ăn, vừa nói chuyện vui
vẻ". Chắng may con mụ gặp hiểm nguy, mụ "cong chòm đuôi lên, sù vành lông cố", "nhảy lên như
choi choi”, bảo vệ cho kỳ được nhũng đứa con yêu quỷ của mình...
Mỗi loài mỗi "tính nết”, cũng có khi cùng một loài mà tuỳ theo giới tính chúng biểu hiện những
sắc thái khác nhau. Nếu Gà Mái là "người đàn bà mẫu mực", "yêu thương chăm sóc con cái hết
mình” thì Gà Trống Ri (Tuổi trẻ) tuy nhỏ nhưng lại rất "đa tình". Chang nghĩ đến việc gì ngoài
chuyện "tình ái". "Nó có tật mê gái”, khi "yêu thì "yêu” rất ham cho dù "đường tình ái của nó rất
khó khăn và gặp nhiều trở ngại lớn". Chú Chuột Nhắt (Đám cưới chuột) cũng "vui vì danh", "hám
vì lợi", như bất kỳ "ai" trên đời. Chú "vui" khi nghe tin được dân làng sang đón "rước cử nhân tân
khoa Chuột Nhắt" - "Chuột Nhắt ta mừng hý hửng. Chú mừng và sướng chang khác lúc đứng nghe
gọi loa xướng danh đến tên mình trúng tuyến". Khi bị "khước từ hứa hôn", chú cũng '’buồn" và tìm
cách "báo thù cho hả giận”, bởi "chú cũng nhỏ nhen "như"ai". Dưới con mắt Tô Hoài, họ hàng nhà
Chuột, mỗi loài mỗi tính. Nếu Chuột Nhắt huênh hoang, có thói sĩ diện và nhỏ nhen, Chuột Chù
"đỏng đảnh, khinh người, làm bộ, làm tịch", thì Chuột
Cống lại là "một tay lão luyện giang hồ. Ông ta có nghĩa khí, có chí làm việc lớn. Ông lại võ nghệ
cao cường. Ồng giao du với nhiều bạn bè lắm phường thiên hạ". Mỗi "kẻ" mỗi "tính" làm nên một
thế giới loài Chuột với tất cả cái "tốt", cái "xấu', cái "hay", cái "dở” của nó.
Dưới cảm quan của Tô Hoài, mỗi con vật không chỉ có "cá tính" riêng mà chúng còn có "cuộc
sống gia đình” với những "vui" - "buồn” như cuộc sống của con người. Vợ chồng đôi Ri Đá (Đôi
Ri Đá) có "vợ", có "chồng”, rồi "sinh con đẻ cái". Trong mái ấm "gia đình", "người chồng" cũng là
trụ cột gánh vác mọi công việc nặng nhọc, còn "người vợ" "đảm đang trách nhiệm" và "bốn phận”
duy trì nòi giống. Vợ chồng Ri Đá rất "yêu thương nhau”. Động viên vợ trong những ngày sinh nở,
anh chồng "đứng cạnh nàng, tỏ vẻ âu yếm. Chàng xích lại một chút. Chị vợ cũng dân dún đôi chân

và rung rung đôi cánh. Hai cái mỏ chúi vào nhau. Đôi chim hoan hỉ nhìn nhau". Lúc "vui vẻ" "hạnh
phúc”, vợ chồng Ri Đá cùng "hát nho nhỏ" và chỉ có mỗi một điệu hót ke ke như thế mà chúng làm
xôn xang cả "cái tiểu gia đình này”. Tai nạn bất ngờ ập đến, vợ3chồng Ri Đá chịu khó và nhẫn nại
kia, cùng bốn con thơ dại tan tác bay đi, không bao giờ còn trở về nữa...
Mỗi con vật trong thế giới loài vật của Tô Hoài còn có những "số phận” khác nhau: cũng "gian
truân vất vả”, cũng "khổ đau bất hạnh", cũng "tan tác chia ly", thậm chí còn kết thúc "cuộc đời"
bằng những cái chết thật thương tâm. "Số phận" của tiểu thư Chuột Chù (Đám cưới chuột) có "bước
đi yểu điệu", "áo(...) lúc nào cũng thơm lừng mùi nước hoa "thật bất hạnh”. Khi cha mẹ "cô"- ông
bà viên ngoại đoán biết rõ mười mươi căn bệnh của công tử Chuột Nhắt, rồi hôm sau, ông viết thư
sang khước hôn cho con gái, khiến Thử ông và Thử bà giận lắm, còn công tử Chuột Nhắt thì thở dài
thườn thưọt. Tiếu thư Chuột Chù cuối cùng cũng "héo hắt đi rồi chết già, chang ai buồn lấy, chang
ai rước đi cho. Là vì cô đỏng đảnh khinh người làm bộ quá. Làm bộ mãi thì đời làm bộ trả. Ớ đời
kiêu kỳ bắc bậc, chỉ tổ làm cho ai nấy sinh ghét". Vợ chồng lão Trê (Trê và Cóc) "gian ngoan, xảo
quyệt", hiếm hoi "có đẻ chang có nuôi, sinh năm bảy bận, cũng chẳng được bận nào", bèn "lập mưu
nham hiểm để chia lìa mẹ con Cóc, nhằm cướp không đàn con của vợ chồng Cóc. Mọi mưu mô,
tính toán đều không thành. "Số phận” không mỉm cười với chúng, chúng vừa không có con, vừa
phải chung thân ở trong bùn lầy đáy ao, không bao giờ được ăn nối trên mặt nước. Trong khi đó, vợ
chồng Cóc Mhiền lành thật thà” trải qua bao "gian nan vất vả, oan ức" được đem lũ con về, cả làng
đến thăm hỏi đầy nhà. "Người ta gom tiền lại mở tiệc đoàn viên. Nghe nói cả ngả trâu và mời nhà
trò, phường chèo về hát mừng”, "ở hiền gặp lành, ác giả ác báo" "số phận” mỗi con vật cũng không
đi chệch ngoài quỹ đạo chung đó.
Thế giới loài vật trong cảm quan của Tô Hoài sinh động, ngộ nghĩnh, có "thế giới nội tâm", có
"số phận”, có Mphẩm chất", "cá tính” và Mthói tật" như con người. Chính cảm quan ấy đem lại một
sắc thái riêng trên từng trang sách viết về loài vật của ông.
Trong con mắt của Tô Hoài, thế giới loài vật không những có "đời sống nội tâm" phong phú mà
còn rất "hoạt bát", "năng động". Chúng cũng có "suy tính" và "hành động”, có ’’phong tục" và Mtập
quán” như con người. Vậy nên viết về loài vật, truyện của Tô Hoài không phải là truyện ngụ ngôn,
mà là truyện đồng thoại. Chú Bọ Ngựa (Võ sĩ bọ ngựa) không biết nghe lời mẹ, bở "nhà” đi chơi
bời lêu lổng. Chú còn thích ra oai, thích ra vẻ quan dạng, vì thế "mỗi khi nhấc chân lên, chú lại giơ
hai càng ra đằng trước. Làm điệu múa mênh, gạt đỡ cái gì cản trở vướng víu. Ra lối ta đây con nhà
võ nghệ. Cái mặt thì nghênh lên vênh vác, đưa sang bên nọ, đưa sang bên kia, để xem có ai ở xung
quanh nhìn thấy mình đương đi bằng một dáng oai hùng nhất thiên hạ không", khiến chú càng trở

nên kệch cỡm, đáng ghét. Chú De Mèn đáng yêu được sống trong vòng tay âu yếm của mẹ có hai
hôm, rồi tới hôm thứ ba, mẹ đi trước, ba đứa tôi tấp tếnh, khấp khởi nửa lo, nửa vui theo sau, vào
một cái hang đất ở bờ mộng đế "sống độc lập", bởi đó là "tục3lệ lâu đời trong họ De. Tục lệ ấy
khiến chúng phải sớm tự "bươn chải” với "cuộc đời”. Cuộc phiêu lưu đưa chú đến vùng hoa cỏ
may, trở thành chánh phó thủ lĩnh tổng Châu Chấu. De Mèn và De Trũi trưởng thành nhanh chóng
ngày càng làm được những việc hữu ích. Hình ảnh chú De Mèn hách dịch ngông cuồng đã lùi vào
dĩ vãng. Giờ đây chỉ còn một chú De Mèn "nhân hậu”, "thuỹ chung" biết "lo lắng" và "giúp đỡ,
'’người” khác. Đặc biệt là đối với "gia đình", cái nền nếp trước sau được anh em nhà Mèn coi trọng.
Sau bao nhiêu ngày tháng xa "gia đình”, trở về "quê hương”, mẹ và anh hai đã mất, Mèn đau xót
đến 'Viếng mộ người bên đầm nước”, thăm anh cả, thăm "bà con” âu cũng là một nét phong tục của
họ nhà De.
Họ nhà Cóc lại có "phong tục" riêng không giống với bất kỳ một giống loài nào. Theo lệ của họ
Cóc, đến ngày "sinh nở", Cóc "vợ" phải từ biệt "chồng" ra cái ao ngoài đầu xóm. Chính cái "tục lệ"
này mà "vợ chồng” Cóc lao đao theo kiện để đòi đàn con với lão Trê. Và cũng chính cái "tục lệ"
này mà bao nan giải trong vụ kiện mới được sáng tỏ, bởi nòng nọc đã đến hạn đứt đuôi. Nòng nọc
đã thành chú cóc con chững chạc. Cái "tục lệ" của họ nhà Cóc lạ lùng khiến "vợ chồng" Trê gian
ngoan, xảo quyệt định cướp không đàn con của họ đã thất bại. "Vợ chồng" Trê không biết rằng có
ngày chúng nó lại hoá ra Cóc con được.
Mỗi loài một "tập tục" riêng rất phong phú và đa dạng. Có lẽ những nhà văn quan sát tinh tế, tỷ mỷ,
nắm được từng Mđặc điểm”, "phong tục" của loài vật như Tô Hoài không nhiều và cảm nhận một
cách cặn kẽ như thế lại càng hiếm, vẫn biết rằng tất thảy loài vật ấy đều hiện diện xung quanh
chúng ta. Cảm quan về loài vật của Tô Hoài thật đặc biệt, chẳng giống ai và cũng chẳng ai theo kịp.
Chính nó tạo tiền đề để "Tô Hoài viết thành công nhất, hấp dẫn nhất về các loài vật” (Hà Minh
Đức).
Truyện loài vật của Tô Hoài là mảng truyện vô cùng phong phú. Nhà văn rộng lượng với ngòi
bút của mình khi đưa nhũng con vật đi vào trang viết. Ồng không phân biệt loài xấu - loài đẹp, loài
sạch - loài không sạch, loài hiền lành - loài hung dữ, loài to - loài nhỏ. Nhiều con vật bay trên trời,
sống dưới nước, ở trên mặt đất... đều xuất hiện trong tác phẩm của ông. Đọc truyện loài vật của
ông, người đọc hiếu Tô Hoài muốn nói đến cuộc sống của con người. Tâm điểm của ông là những
con vật sống gần gũi với con người, hàng ngày quanh quẩn bên góc bếp, mảnh vườn, hay ngoài
đồng ruộng... Chang hạn như chó, mèo, chuột, bọ ngựa, dế mèn, dế trũi, xén tóc. Có thế thấy, khi
đưa những con vật này vào trang sách, tác giả luôn tạo ra sự liên hệ gần gũi với thế giới con người.

Nhũng triết lý về cuộc sống trong truyện loài vật đều gắn liền với các vấn đề của con người. Phải
thừa nhận hiếm có ngòi bút nào miêu tả loài vật tài tình như Tô Hoài. Cái khó của viết truyện đồng
thoại là có sự kết hợp giữa hiện thực và mơ tưởng. Khi Tô Hoài
3 viết truyện về loài vật, ông đã tả
đúng đặc điếm - hình dáng- tính cách của từng loài. Sau đó, biết gắn những tính cách của con người
sang cho con vật một cách phù họp với đặc điểm của chúng. Sự khéo léo của nhà văn góp phần
khoa lấp những chi tiết khiên cưỡng, giúp độc giả nhỏ tuổi có dịp lạc vào thế giới loài vật phong
phú, sinh động, và chân thực bằng biện pháp nhân hóa tài hoa. Chúng ta sẽ tìm hiểu thế giới loài vật
phong phú trong truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài.
Đầu tiên là chú De Mèn, trong De Mèn phiêu lưu kí. Trong tác phẩm này, một thế giới côn
trùng hiện lên sinh động dưới ngòi bút tài tình của tác giả. Ngoài chú De Mèn thích khoe mẽ, hiếu
thắng, thiếu khiêm tốn, còn có De Choắt nhút nhát, Dế Trũi chân thành, Kiến Chúa siêng năng, Cào
Cào đỏm dáng, Bồ nông cố chấp, Nhện ranh mãnh... Cùng với ếch cốm kém cỏi, Bọ ngựa tầm
thường đã làm nên thế giới loài vật sinh động và hấp dẫn. Đặc biệt, loài Cào Cào, Châu Chấu được
miêu tả kĩ trong Cành cạch chơi trăng.
Trong truyện viết về loài vật, tác giả Tô Hoài viết nhiều về mối quan hệ giữa Mèo và Chuột.
Nào là chuột nhắt, chuột cống, chuột đồng, chuột bạch... với những ngõ ngách mà chúng thường
xuyên sinh sống. Trong các tác phấm o chuột, Chuột thành phố, Đảm cưới chuột, Truyện gã chuột
bạch, loài chuột loăng quăng, bắng nhắng được miêu tả cùng với những cuộc đấu tranh sinh tôn của
chúng. Giống Mèo cũng xuất hiện trong nhiều tác phẩm với đầy đủ tính năng trời cho của nó.
Chẳng hạn như mèo nhỏ đáng yêu - hay ngạc nhiên trước những điều mới lạ trong Cậu Miu, mèo
mũi đỏ lười biếng - quen ngủ ngày trong Con Mèo lười, gã Mèo Mướp cáu kỉnh thích vờn chuột,
thích hù dọa những con chuột nhắt mặc dù gã chẳng bao giờ thèm ăn chúng trong o chuột. Bên
cạnh đó, chó vốn là con vật rất trung thành của con người cũng được ngợi khen nhiều về sự thông
minh và nhanh nhẹn như trong Vện ơi Vện.
Trong truyện Bằn con gày Hai con Ngỗng, Dê và lợn, Ghi chép một ngàyy Một cuộc bế dâu...
tác giả đã miêu tả gần như đầy đủ những con vật hàng ngày vẫn sống gần gũi với chúng ta: đó là gà
trống tê tái, gà mái Hoa, anh Tía, gà con, gà ri, ngỗng khe khà, ... Những con vật cùng những tính
năng, đặc điểm riêng về loài của chúng đã làm nên một xã hội thu nhở trong một mảnh vườn quen
thuộc của con người. Ngoài ra, tác giả còn ngợi khen ngựa con thông minh trong Bàn Quỷ và Ngựa
con, giải thích vì sao trâu im lặng trong Chú Cuội ngồi gốc cây đa. Đây là hai con vật gắn liền với
tuổi thơ của bao em nhỏ lớn lên từ đồng ruộng, nương rẫy.

Loài chim bay trên trời cũng không nằm ngoài tầm quan sát của nhà văn Tô Hoài. Ồng dành
nhiều công sức cho việc tìm hiểu, và viết về loài động vật có cánh này. Những chú bướm mong
manh nhở bé, sặc sỡ màu sắc trong Bướm Rồng Bướm Ma. Trong
3 Mải vui quên hết, bên cạnh việc
miêu tả những đặc tính của chim hải âu, tác giả còn chịu khó giải thích vì sao có sự xuất hiện của
hải âu trong những vùng biển xa xôi như: biến đông Vũng Tàu- Việt Nam, cửa sông Nêva- gần dinh
thự Pie đại đế ở nước Nga, vùng ngoại ô Lơke- Aicập. Đây quả là những thông tin thú vị về loài
chim thích bay lượn trên mặt nước. Những loài chim thường dễ gặp như chim chích, chim vành
khuyên, chim dế, chim cò bạch... thì xuất hiện trong Cảnh đồng yên vui.
Tác giả Tô Hoài cũng hướng tầm nhìn về cánh rừng xa xôi, nơi các độc giả nhở tuối thường có
cảm giác ớn lạnh vì những con vật hung dữ. Đối với loài vật trong truyện của Tô Hoài, dường như
đều có những nét ngây ngô, đáng yêu của các cô bé cậu bé luôn khao khát tìm kiếm những điều mới
lạ. Trong Những chuyện xa lạ, kể về Sơn Dương đẹp mã, về Bê bé đáng yêu. Trong Gấu ăn trăng
có chú Gấu không độc ác, gấu mắc phải thói quen xấu đó là hay ghen tị.
Trong truyện loài vật, Tô Hoài có viết về loài cá dưới nước. Những đàn cá vào dịp cuối tháng
ba, vượt vũ môn đi ăn thề đã đi vào tác phấm của Tô Hoài. Nào là cá Giếc bảnh bao, cá Chép vây
đở, cá Rô cường tráng, cá Ngão trắng nhoáng, rồi cá Mè, cá Mương... tất cả đều bơi lượn trong
truyện Cá đi ăn thề. Ở truyện Trê và Cóc, Cái kiện của lão Trê, cũng từ môi trường nước, tác giá
miêu tả loài Trê và Cóc dựa vào câu chuyện kiện cáo có sẵn trong dân gian.
Tóm lại, khi viết truyện về loài vật, Tô Hoài đã đưa vào khả năng quan sát tỉ mỉ để làm nên
những trang viết sinh động. Tính cách loài vật đi vào truyện của ông thường gắn liền với những
thói quen của các em. Dù thói quen tốt, hay thói quen chưa tốt, thì qua đó, tác giả cũng khéo léo
lồng vào những bài học nhẹ nhàng, mang tính giáo dục sâu sắc. Ông là nhà văn của các em, bởi ông
luôn thấu hiếu và tinh tường với nhũng tình cảm lạ, với trí tưởng tượng lạ, đặc biệt là những sở
thích phiêu lưu, những xúc cảm tinh tế của các em. Những con vật của ông, khi đến với các em đều
mang lại niềm vui và sự hứng thú. Viết truyện loài vật, Tô Hoài đưa vào khả năng quan sát tỉ mỉ,
tạo nên những trang viết đa dạng sinh động. Với cách viết dí dỏm, thông minh, kết hợp biện pháp
nhân hóa tài tình đã làm các con vật ngoài đời trở thành hình tượng đẹp đè trong tâm hồn các em.
Nhất quán trong trường nhìn cuộc sống, bức tranh sinh hoạt xã hội trong cảm quan của Tô Hoài
không chỉ có nét đẹp văn hoá truyền thống mà còn có cả những hủ tục lạc hậu, ấu trĩ mà nhiều khi
nó trở thành nguyên nhân dẫn đến mọi khổ đau bất hạnh cho con người. Tô Hoài không né tránh
hiện thực, không cảm nhận dễ dãi theo dấu ấn chủ quan của mình. Vì thế, bức tranh xã hội trong
trường nhìn của nhà văn luôn ở thế cân bằng tự nhiên vốn có. Thế giới loài vật trong trường nhìn

của Tô Hoài chủ yếu là những con vật nhở bé, "xoàng xĩnh” rất gần gũi với mỗi chúng ta. Tuy nhỏ
bé nhưng chúng lại là một thế giới loài vật có "tính cách”, có "tâm trạng", có "số phận" như con
người. Thế giới loài vật của Tô Hoài chính là sự ẩn dụ về con 4người. Bức tranh thiên nhiên trong
sáng tác của Tô Hoài được cảm nhận ở dáng vẻ tự nhiên khách quan. Thiên nhiên trong cảm quan
cúa nhà văn không chỉ tồn tại ở dáng vẻ dữ dội khắc nghiệt in đậm dấu ấn từng vùng quê, mà còn
mang vẻ đẹp tự thân tạo chất thơ cho đời sống.
2.2.

Những bài học nhân văn trong truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài
Đã có nhiều bài nói về những tác phẩm viết cho thiếu nhi của rất nhiều tác giả: Nguyễn Huy
Tưởng, Vũ Ngọc Bình, Văn Hồng, Vân Thanh... Và cũng đã có nhiều cuộc hội thảo về sự nghiệp
văn học của ông trong đó có phần sáng tác cho thiếu nhi. Nhưng hình như mỗi lần đọc lại tác phẩm
viết cho thiếu nhi ta lại thấy sáng ra một điều gì khác. Rõ ràng nhờ có các nhà văn viết cho thiếu
nhi ta mới có thể khang định được dòng chảy bền bỉ, thôi thúc của văn học thiếu nhi Việt Nam. Tìm
đọc những sáng tác viết cho thiếu nhi là một sự nghiệp đòi hỏi công phu, tinh tế và có ý nghĩa lâu
dài, bởi nó tác động vào tâm hồn, tạo nên nhân cách văn hóa cho những con người còn măng tơ.
Trong các sáng tác của Tô Hoài viết cho thiếu nhi đã đưa ra được những bài học, những lời khuyên
cho trẻ em và cả người lớn.
2.2.7. Bài học về tình đoàn kết:
Ờ Dê và Lợn, Ba anh em đã thể hiện rõ vai trò của tình đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau
trong tình bạn và cộng đồng. Đây là hai truyện đồng thoại mang tính luận đề khá sâu sắc. Tác giả
đã tập trung khai thác chủ đề đoàn kết. Neu như ở truyện Dê và Lợn khắng định sự chia rẽ nội bộ
bao giò' cũng dẫn đến sự thất bại cho dù mục đích có cao đẹp đến đâu đi chăng nữa thì truyện Ba
anh em lại khẳng định rằng tình đoàn kết khiến cho nhũng người khác nhau về tính cách, nguồn
gốc, ngoại hình cũng đều là anh em một nhà.
Trong De Mèn phiêu lưu kỷ, tác giả đã thế hiện rõ tâm hồn, lý tưởng của một thanh niên khao khát
tự do, mong muốn lật đố ách áp bức bóc lột đế giành độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh xã hội nước
ta trước cách mạng, giữa đám người hèn hạ, cam chịu cảnh nô lệ thì De Mèn là một hình ảnh đẹp,
tích cực đầy nghị lực và giàu chất lí tưởng. Hình ảnh dế mèn cường tráng, oai vệ cùng với dế Trũi
và các bạn Châu Chấu Voi chống lại những bất công, ngang trái ở đời, thuyết phục và kêu gọi mọi
loài hòa hợp cùng nhau xây dựng thế giới đại đồng đã góp phần thức tỉnh những ước mơ và tuổi trẻ
hành động.

2.2.2.

Bài học cho tính hung hăng hiếu thắng