Tải bản đầy đủ
Cấu trúc luận văn:

Cấu trúc luận văn:

Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm trong và ngoài nước cho thấy đề tài viết cho thiếu nhi rất rộng mở. Từ những
chuyện người thực việc thực, những chuyện của đời thường cho đến chuyện cố tích, thần thoại,
truyện khoa học viễn tưởng, những truyện có đủ mọi phép thần8thông biến hóa đều có thể đến với
các lứa tuổi thiếu nhi. Trẻ em thích những truyện có nhiều tưởng tượng, dí dỏm, tươi vui. Nhưng
trong mọi sáng tác được gọi là hay cho thiếu nhi đều phải mang vẻ đẹp của một sáng tác văn học
chân chính, ơ đó câu chuyện thường có tính điển hình, đúng đối tượng. Ở đó mọi tình tiết xảy ra
đều gắn bó theo qui luật cuộc sống và tình cảm của con người. Đặc biệt nhất ở đây mọi hình tượng
hiện lên sinh động chân thật như hơi thở có nhịp đập, có máu thịt. Đó là tính chân thật hiểu theo
nghĩa rộng. Ở đây mọi tưởng tượng hòa hợp với cái có thật, hiện lên như “thật”, trong lúc ở những
sáng tác dở, lắm lúc cái thật lại hiện lên cái giả tạo.
Văn học thiếu nhi rất kị cái giả tạo, vì nó sẽ làm trẻ em hiểu sai bản chất sự sống. [48,tr.37]
Mọi tiếp nhận văn học của thiếu nhi từng lúc, từng nơi cũng có những biến động, đối mới, nên
mọi sáng tác văn học cho thiếu nhi cần phải nhìn thấy điều đó. Mặt khác cũng phải thấy rõ, mỗi
sáng tác tốt và hay cho thiếu nhi đều có sức mạnh của cái đẹp. Chính nhờ sức mạnh của cái đẹp mà
nhiều sáng tác cho thiếu nhi đã vưọt mọi biên thùy, mọi thời gian đến với các em, trở thành bất tử.
Văn học thiếu nhi có một số vấn đề khác với văn học cho người lớn, trong đó có vấn đề lứa tuổi.
Tâm lí thiếu nhi khác tâm lí người lớn. Tâm lí thiếu nhi ở mỗi lứa tuối cũng đều khác nhau. Thường
lứa tuối trên có thế hiểu được lứa tuối dưới, nhung lứa tuối dưới không thể hiếu được lứa tuối trên.
Mọi sáng tác đều phải phù họp theo từng đối tượng lứa tuổi. Người viết văn phải đủ sự nhạy bén
mới có thể phân thân, mới có thể nhập vào đối tượng, mới có thể làm cho sáng tác trở nên chân
thật, sinh động đối với mỗi đối tượng. Ví dụ, một bài thơ sáng tác cho các cháu ở độ tuổi mầm non
mà trong đó mọi tình tiết hiện lên không rõ nét, không thế vẽ được, thì đó là một bài thơ chưa hay,
vì thiếu nhi ở các lứa tuổi bé thơ thích nhìn hơn thích đọc, thị giác của các em đó nhạy bén hơn
thính giác, hình ảnh tác động mạnh hơn. Trong mọi sáng tác tốt cho thiếu nhi, mọi hình tượng tốt,
xấu đều phải hiện lên rành mạch, rõ ràng, tốt ra tốt, xấu ra xấu. Cũng từ tư duy lô gích ở các em
chưa phát triển đầy đủ như ở người lớn, các em rất khó phân biệt được tốt, xấu, đúng, sai. Hiện nay
có một số em bị phạm tội, chỉ vì các em đó bắt chiếc cái xấu hiện lên trong một số phim cho người
lớn.
Trong Tạp chỉ Văn học số 5 - 1993, nhà thơ Phùng Ngọc Hùng viết: “Viết cho các em trước
hết, theo tôi phải có một tình yêu chân thật, yêu các em, yêu cuộc đời. Viết cho các em, nhớ và hình
dung về quả khứ của mình là cần nhưng không đủ. Bởi lẽ cuộc sống của các em bây giờ có nhiều
điều khác trước. Điều quan trọng nhất là hòa nhập với cuộc sông thực của trẻ em. Thế giới trẻ em

bao giờ cũng là phong phủ và xa lạ đối với người lớn. Dù người lớn đã từng là trẻ con. Sự thâm
nhập với đời sống thường ngày của trẻ em tùy mức độ khác nhau mà có những bất ngờ trong sáng
tạo. Điều buồn nhất là trong sảng tác cho các em là sự áp đặt và
9 giả dối, giả vờ thì được chứ giả
doi(cố tình hay không) đều bị trả giả. Viết cho các em trước hết là viết về cái đẹp, cải hồn nhiên,
trong trẻo của thiên nhiên và cuộc đời. Sự vật xung quanh trẻ em đều là bạn bè và biết nói. Có
những sự vật hiện tượng với người lớn không có ỷ nghĩa gì, nhưng với trẻ em lại có hồn và tràn
đầy song động.(...) vấn đề là viết như thế nào đê gợi dậy trong các em lòng thương đồng loại,
thông cảm sâu sắc với con người và cảnh vật; thức dậy trong cảc em một hành động nhân ải? Đó
là vấn đề hoàn toàn không đơn giản. Viết cho các em, phải là tình bạn bè, không phải chủng ta hạ
mình củi xuống mà thực sự hòa nhập vào cuộc sống trẻ thơ và được các em chấp nhận về mặt tình
cảm. ”[48,tr.39]
Văn học thiếu nhi không chỉ có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc mà còn có vai trò
đặc biệt quan trọng trong đời sống trẻ thơ. Nhiều nghiên cứu cho thấy văn học thiếu nhi đã góp
phần không nhỏ vào việc rèn luyện tư duy; kích thích khả năng tưởng tượng và sáng tạo của trẻ,
cung cấp cho các em những trải nghiệm cuộc sống. Văn học thiếu nhi quan trọng với trẻ em ngay
cả trước và sau khi đến trường. Đối với lứa tuổi mầm non và tiểu học, văn học thiếu nhi còn giúp
cho các em học đọc, học viết. Thông qua các tác phẩm văn học, các em không những tích lũy được
vốn từ phong phú, hiểu được nghĩa của từ ngữ nghệ thuật mà còn biết nâng cao khả năng biểu đạt
trong lời nói. Văn học thiếu nhi cũng giúp cho trẻ em học cách giao tiếp, thấy được nhũng niềm
vui, nỗi bất hạnh của con người trong cuộc đời đế biết cảm thông và chia sẻ.
Trong tham luận “Văn học và trẻ em”, Vân Thanh - một trong những chuyên gia đầu ngành về
văn học thiếu nhi đã trình bày một vấn đề không mới nhưng không bao giờ cũ, đó là mối quan hệ
giữa văn học và trẻ em, cái làm nên giá trị của một tác phẩm viết cho trẻ em.
Lã Thị Bắc Lí trong “Nhận diện Văn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đôi mới ” đã trình bày
một cách khái quát sự vận động và những thành tựu nổi bật của văn học cho trẻ em ở Việt Nam từ
năm 1986 đến nay. Tác giả đã khẳng định: “Vãn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đôi mới và hội
nhập quốc tế đã phát triển khả phong phủ, đa dạng trong cách khai thác đề tài, chủ đề, mở ra khả
năng bao quát những bức tranh sinh động về đời sống trẻ em. Không chỉ là tiếp cận trẻ em ở
phương diện ”con ngoan, trò giởi” kiêu truyền thống mà tiêp cận, khám phá trẻ thơ như những sô
phận, những nhân cách được tác động từ nhiêu hướng, nhiều chiều... ”Sự gay gắt của những
chuyến biên kinh tê, xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới văn học, đặc biệt là văn học thiếu nhỉ...ảnh
hưởng trực tiêp tới đời sống tâm hồn và sự phát trỉến nhân cách của trẻ thơ... ”.[32,tr.l0]

Cùng mang cái nhìn tống quát, tác giả Lế Hằng(CĐSP Hà Nội) hướng tới đánh giá sự hội nhập
của văn học thiếu nhi Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa. Tác giả băn khoăn về vấn đề: Quản
tính của vãn học thiếu nhi thời chiến quả lớn hay sự lo lẳng thải
1 quả về nguy cơ “diên bien hòa
bình” khiến vãn học thiếu nhỉ không dám bứt phả đê bãt kịp với sự đôi mới của vãn học thời kì hội
nhập? những vân đề này cần được giới chuyên môn quan tâm nhiêu hơn nữa đế có thê chỉ ra
nguyên nhân căn cốt, hướng tới một chiến lược đồng bộ nhằm thúc đây sự phát triển của văn học
viết cho thiếu nhỉ cà ở so lượng và chất lượng, tác giả, tác phẩm và độc giả...Tù đó đưa tới kết
luận phải quan tâm hơn nữa đến đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi, phát động nhiều cuộc thi sáng
tác cho các em với việc lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, nâng
cao chất lượng nghệ thuật.
Neu như Lã Thị Bắc Lí và Lê Hằng đưa ra nhũng nhận định có tính khái quát từ phía những nhà
nghiên cứu thì hai tham luận: “Văn học cho trẻ em, đôi điều cảm nhận và đề xuất” của Trần Hoàng
Vy (Tây Ninh) và “Nhọc nhằn Vấn học Thiếu nhi ” của tác giả Hoài Khánh (Hải Phòng) là những
cảm nhận thực tế của những người trực tiếp viết cho các em. Đó là những khó khăn của người viết
trong vấn đề xuất bản; vấn đề sách truyện và đối tượng thích ứng... hai tác giả đã đưa ra những câu
hỏi bổ ích như hồi chuông cảnh tỉnh những thiếu sót trong thực trạng xuất bản, phát hành sách cho
trẻ em hiện nay.
Nhà văn Lê Phương Liên, người giữ vai trò Trưởng ban Văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt
Nam, trong tham luận “Viết cho thiếu nhỉ là viết cho tương lai” đã có những gợi ý mang tính chiến
lược đế thúc đẩy nền văn học thiếu nhi nước nhà:
ỉ/Cần đào tạo bồi dưỡng các tác giả viết cho thiếu nhi, nâng cao trình độn về mọi mặt...
2/Cần tiếp tục nghiên cíni giới thiệu truyền bả các di sản văn học thiếu nhi trong quả khứ
với các thế hệ tiếp theo...
3/Cần tiếp tục xây dựng một đội ngũ nòng cốt những chuyên gia về Văn học thiếu nhi Việt
Nam.. ”[32,tr.l54]
Tham luận mang tính thực tiễn cao của hai cô giáo Nguyễn Thị Thu Nga và Lê Minh Nguyệt
(Hà Nội) đã đưa ra những con số thuyết phục từ cuộc khảo sát cụ thể, tỉ mỉ tại các tỉnh miền Bắc,
miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên về vấn đề đọc sách của trẻ. Ket quả của cuộc điều tra này đã phản
ánh đúng thực trạng và những tồn đọng của văn học trẻ em hiện nay: “Vãn học cho thiếu nhi Việt
Nam hiện nay đang “thừa ” nhưng vân “thiếu “Thừa ” bởi sự xuât bản tràn lan truyện tranh nước
ngoài mà phần lớn mang tỉnh bạo lực, kích động , song lại thiếu các tác phâm văn học hay, mang

tỉnh giảo dục và mang bản sắc văn hóa Việt Nam Vì vậy văn hóa đọc của trẻ em cần hơn nữa sự
định hướng từ phía gia đình, nhà trường và xã hội.
Tham luận “Sách học cho trẻ em thời kỉ đôi mới và hội nhập
1 quốc tế - đôi điều suy nghĩ” của
Phùng Ngọc Kiếm (ĐHSP Hà Nội), từ việc nêu lên một số nhận xét về thực trạng sáng tác văn học
cho trẻ em, phân tích trên cả hai phương diện “cầu” và “cung”, chia sẻ những suy nghĩ về tình trạng
“thừa” và “thiếu” của văn học thiếu nhi hiện nay, tác giả đã bước đầu đề xuất những ý tưởng trả lời
câu hỏi: làm thế nào để văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển?
Ba bản tham luận: “Tơ Hoài và truyện thiếu nhi” (Nguyễn Đăng Mạnh - ĐHSP Hà Nội), “Văn
học thiêu nhỉ: Văn chương của sự nhẹ nhõm, sâu xa” (Nhã Thuyên), “Từ “Thằng quỉ nhỏ ” của
Nguyễn Nhật Ảnh nghĩ về những phẩm chất của một tácphâm viết cho thiếu nhi” (Trần Văn Toàn ĐHSP Hà Nội) đã thê hiện nhũng băn khoăn, lo lắng cho chất lượng của văn học trẻ em hôm nay,
và đưa ra những yêu cầu mang tính gợi mở đối với công việc sáng tác văn học cho trẻ em thời kì
đổi mới và hội nhập quốc tế.
Trong quá trình hội nhập hôm nay, trẻ em Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tiếp cận văn hóa
xâm nhập không qua thử thách của thời gian, sự kiểm soát của chính quyền, sự lựa chọn của thiết
chế tố chức giáo dục. Đe giúp các em đủ bản lĩnh tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại,
làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam mà vẫn “đề kháng” “miễn dịch” trước làn sóng “xâm
lăng” phản văn hóa đang diễn ra mạnh mè, chúng ta phải xây dựng cho các em được “Nhân cách”
người Việt - cái làm nên sức sống và sự trường tồn của dân tộc việt Nam. Đối với việc hình thành
và phát triển nhân cách thiếu nhi, không gì hơn là tác động của văn học thiếu nhi. Trước yêu cầu
của thời đại, văn học viết cho thiếu nhi cần tích cực vận động cho phù hợp với yêu cầu giáo dục và
thị hiếu trẻ em thời kì toàn cầu hóa.. ”[32,tr.66]
Tác động của văn học thiếu nhi đối với trẻ em không chỉ bó hẹp trong các sáng tác văn học Việt
Nam mà còn là những sáng tác văn học nước ngoài. Qua các tham luận: Các tác phàm vần học
nước ngoài trong chương trình THCS và vấn đề giảo dục nhân cách cho học sinh (PGS.TS Lê
Nguyên cẩn - ĐHSP Hà Nội); Đôremon truyện tranh Nhật Bản trong thời toàn cầu hóa (TS Đào
Thu Hằng - ĐHSP Hà Nội); Andecxen “Cỏ bẻ bản diêm” và những câu chuyên muôn thuở
(PGS.TS Lê Huy Bắc - ĐHSP Hà Nội); Tagore nhà sư phạm lớn (TS Nguyễn Thị Mai Liên - ĐHSP
Hà Nội); Sức hấp dân vãn học viết thiêu nhỉ qua hình tượng “Nhóc Nicolas ” (PGS.TS Nguyễn Thị
Bình - Ths Nguyễn Thị Thanh Hải - ĐHSP Hà Nội); “Nhóc Nicolas -Những chuyện chưa kê” đang
được kê (Ngô Thị Thu Hiền); Điều lẳng đọng trong “Những tầm lòng cao cả ” (Nguyễn Thị Hằng Đại học Tây Bắc)...Các tác giả đều khẳng định: dù ở đâu trên thế giới, trẻ nhở luôn nhận được

những tình cảm trìu mến nhất bởi các em chính là tương lai của nhân loại, là sự sống không ngừng
sinh sôi. Những tác phấm đích thực cho trẻ em là những tác phẩm vưọt qua giới hạn của thời gian
và không gian để có thể đến được với mọi trẻ em trên toàn thế giới.
1 Và theo như Lê Nguyên cẩn thì
việc giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài (dù dưới hình thức các đoạn trích) cũng cần xác
lập hướng tiếp cận hướng về việc giáo dục nhân cách của trẻ em, coi việc giáo dục trẻ em qua các
tác phấm nay không chỉ dừng ở cấp độ khảo sát cái hay cái đẹp của hình tượng mà điều quan trọng
là phải rút ra ý nghĩa liên quan tới chức năng hình thành và giáo dục nhân cách cho trẻ em, qua đó
dạy cho trẻ biết sống đúng và sống đẹp.
Trong sự biến chuyển của thời đại, việc giáo dục tình cảm nhân cách cho trẻ em còn đặt ra vấn
đề hết sức cấp thiết, đó là giáo dục giới tính. Điều này được đặt ra trong tham luận “Vãn học trẻ em
và vẩn đề giảo dục giới” của TS Trân Hạnh Mai (ĐHSP Hà Nội), và tham luận “Thời kì hội nhập
và đề tài thai giảo trong văn học thiếu nhi” của nhà văn Trần Quốc Toàn (Thành phố Hồ Chí
Minh). Neu như Trần Hạnh Mai dừng lại ở việc nêu vấn đề từ góc nhìn của nhà nghiên cứu, thì nhà
văn Trần Quốc Toàn đã đóng góp trực tiếp những sáng tác của ông mang tính “ứng dụng” cao trong
việc giáo dục giới cho trẻ. Thiết nghĩ, đây là một yêu cầu cần thiết của văn học trong việc góp phần
hoàn thiện nhân cách trẻ em.
1.2.

Truyện viết cho thiếu nhi.

1.2.1.

Khái niệm truyện viết cho thiếu nhi

Truyện viết cho thiếu nhi không giống như truyện viết cho người lớn. Độc giả lứa tuối này bé
nhỏ, mong manh, nên cần có những tác phấm văn học phù hợp với tâm sinh lý các em. Theo
VânThanh: “Văn học thiếu nhi cần nhiều cách điệu, khoa trương, nhiều mơ mộng, tưởng tượng táo
bạo hon nữa. Không phải những tưởng tượng viển vông tách rời hiện thực, mà phải đi sâu vào hiện
thực một cách khái quát hơn, bản chất hơn. Dù mơ mộng đến đâu, lùi xa về quá khứ hay viễn tưởng
đến tương lai thì nơi khởi đầu và chỗ đến cuối cùng của chúng ta vẫn là sự chân thật của ngày hôm
nay” [44,tr.l06-107]. Có nghĩa là truyện viết cho thiếu nhi phải gần gũi với cuộc sống, gần gũi với
suy nghĩ của các em. Thiếu nhi là những cô bé cậu bé dễ tin, dễ tưởng tượng, nên theo Vân Thanh
“Chân thật trong từng chữ từng câu, trong cảm xúc, suy nghĩ, hành động của nhân vật và quan trọng
hơn là chân thật nghiêm túc trong những vấn đề của thực tại, trong những quy luật chi phối cuộc
sống hàng ngày” [44,tr.l07].
Có thế thấy, điều quan trọng khi viết truyện cho thiếu nhi là các nhân vật, hoàn cảnh, hành động
phải có sức thuyết phục. Vì các em vốn dễ vui cùng niềm vui của nhân vật, dễ buồn cùng nỗi buồn
của nhân vật. Những hình tượng nhân vật mà các em yêu thích sê ở trong trí nhớ của các em suốt

cuộc đời. Tác phẩm thiếu nhi muốn có tính thuyết phục thì “Vấn đề là người viết phải lựa chọn
được góc độ và cách nói phù hợp với tầm hiểu biết và sự quan tâm, sự thích thú của từng lứa tuổi
các em. Dĩ nhiên là nói đến cái lỗi thời, cái thấp kém, cái bi, cái1mục nát là đế phủ định nó, để làm
cho cái mới, cái đẹp càng mới và càng đẹp hơn. Mặt khác tâm hồn trẻ thơ rất xa lạ với sự nghiêm
nghị, với thái độ thờ ơ, với những nỗi u sầu;
chúng tôi muốn trang sách viết cho các em là những trang sách kỳ diệu, vừa gợi cảm vừa gây cười,
vừa hồn nhiên vừa lộng lẫy” [44,tr.l07].
Truyện viết cho thiếu nhi có nội dung trong sáng, phong phú và toàn vẹn. Các em chưa trưởng
thành đế hiếu những mâu thuẫn sâu sắc của thời đại, của tâm hồn con người. Nhung các em có nhu
cầu khám phá cuộc sống, tìm hiểu quá khứ, hiện tại, và tương lai. Với các em, “cuộc sống mở ra
trên từng trang sách; đọc sách các em sẽ biết được nhiều điều mới mẻ, nhiều tấm gương, nhiều lời
khuyên nhủ. Chúng tôi muốn cuộc sống trong sách cho các em là một cuộc sống không bị cắt xén,
một cuộc sống toàn vẹn phong phú, đa dạng trong đó có người lớn và trẻ em, có ngày hôm qua,
ngày hôm nay và cả ngày mai” [44,tr.l06].
Truyện viết cho thiếu nhi không dễ, nhà văn khi sáng tác phải thật sự trẻ hóa chính mình, biết
đứng ở vị trí các em để hiểu tâm lý các em, hiểu những nhu cầu của các em. Theo Lã Thị Bắc Lý:
“Văn học thiếu nhi có nhiều cái khó so với văn học cho người lớn. Ngoài tất cả những yêu cầu của
sáng tác văn học nói chung, nhà văn viết cho thiếu nhi phải đặc biệt thấu hiểu đối tượng. Hiểu
những đặc điểm tâm sinh lý, những suy nghĩ và hành động của trẻ để chiếm lĩnh, khám phá và thể
hiện. Hiểu để viết cho sát với nhu cầu và nhận thức của các em. Người viết càng nắm được đặc
điểm tâm sinh lý các em, hiểu sâu sắc từng lứa tuổi thì càng có cơ hội cho tác phấm của họ có thế
trở thành tác phấm hay” [36,tr.51 ].Truyện sẽ thu hút các em hơn khi thỏa mãn những vấn đề mà
các em đang nghĩ, nhũng giấc mơ mà các em đang ấp ủ. Lật giở từng trang sách, các em sẽ lưu giữ
những hình tượng nhân vật giúp các em tìm thấy niềm vui, niềm tin. Hành động của nhân vật mà
các em yêu thích sẽ tồn tại trong trí nhớ của các em. Bởi vì “Trẻ em luôn luôn mang theo những
hình ảnh, những ước mơ, những ấn tượng từ những trang sách mà chúng đã đọc được vào tương lai.
Sự tác động sâu xa, bền vững ấy của tác phẩm văn học vào cuộc đời của trẻ đòi hỏi người cầm bút
cho các em phải có ý thức trách nhiệm lớn lao” [36,tr.51]. Chức năng giáo dục của văn học có ý
nghĩa lớn lao đối với độc giả nhỏ tuối, nên tác phẩm viết cho thiếu nhi cần có sự tham gia của các
nhà văn yêu nghề, mến trẻ. Đó là những người giàu nhiệt huyết, góp sức xây dựng nên bộ phận văn
học quan trọng trong nền văn học nói chung. “Văn học thiếu nhi có nhũng đặc thù riêng nhưng
không thế tách biệt hắn với lịch sử văn học của đất nước. Vả lại các tác giả viết cho trẻ em cũng

đồng thời là những nhà văn đã góp phần tạo nên diện mạo chung của văn học dân tộc. Văn học
thiếu nhi cũng được đặt trong nỗ lực đổi mới chung của văn học. Ý thức nghệ thuật trong sự đổi
mới chung có ảnh hưởng đến quan niệm và cách viết cho các em.
1 Trẻ em được đặt vào trung tâm
của sáng tác” [36,tr.55J.
Các em là độc giả trung thành, “Những tác phẩm được thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các
em đã tìm thấy ở trong đó cách nghĩ, cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các
em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên, khích
lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích... trong quá trình hoàn thiện tính cách của mình” [3,tr.6]. Tuổi thơ
là tuổi đẹp nhất, tuổi ngây thơ nhất, tuối dễ dàng tin vào những điều kì diệu nhất. Tuôi luôn cần có
sự chở che của những người có thiện chí và có lòng nhân ái. Trên nước Nga Xô viết, nguyên tắc
đầu tiên sau thành công Cách mạng tháng Mười là: Mọi cái tốt đẹp đều dành cho trẻ em. Nước Nga
vốn được xem là thiên đường của thiếu nhi.
Truyện viết cho các em cũng vậy, nhà văn Xecgay Mikhancop- Chủ tịch Hội nhà văn nước Cộng
hòa Xô viết liên bang Nga, Bí thư lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô đã viết: “Thật vây, tương lai của
nhân loại tùy thuộc nhiều ở lý tưởng và đạo đức của chúng ta sẽ gieo trồng vào thế hệ đang lên.
Khả năng giáo dục to lớn của sách văn học thì ai cũng rõ... Tất cả chúng ta đều đều đồng ý rằng một
đứa trẻ biết đọc thì tốt hơn nhiều so với đứa không đọc gì, rằng một cuốn sách viết cho trẻ mà hay,
lý thú và tốt lành lại in đẹp, là một điều kì diệu [43,tr.l0]. Có nghĩa, truyện dành cho các em là cuốn
sách hay, giàu giá trị giáo dục. Nội dung truyện có sức lôi cuốn hấp dẫn, giúp các em dần tiếp cận
và thích thú với nền văn học chân chính. Bồi dưỡng các em sức mạnh, ý chí, niềm tin hướng về giá
trị đích thực của văn minh và văn hóa.
Mikhain Panitsơ cũng khắng định: “Khát khao hiếu biết, nhu cầu tìm tòi thật là lớn trong trẻ em”
[43,tr.39]. Các em luôn muốn nghe lời giải thích về những điều mà các em chưa hiểu. Người lớn
nhiều khi cũng khó nắm bắt được thế giới riêng của các em, cho nên “theo dõi cách xử sự của trẻ
em, ta đi đến chỗ tự hiểu ta hơn. Dĩ nhiên với điều kiện là biết quan sát và muốn tự hiếu mình. Tự
hiếu mình là điều khó. Hiếu trẻ còn khó hơn. Trẻ cách xa ta về tuổi tác, về thời gian và xa hơn, bởi
điều kiện sinh sống... Trẻ em chia sẻ với ta trong thế giới ta đang sống và đồng thời trẻ lại ở một thế
giới khác” [43,tr.l 1]. Thế giới trẻ em có vô vàn cảm xúc, một thế giới được nuôi dưỡng bởi những
ý nghĩ hồn nhiên, và trí tưởng tượng vô hạn. Viết truyện cho các em, là hiểu thế giới ấy. Mikhain
Panitsơ nói thêm: “Đó là những cuốn sách đã thể hiện trước hết niềm vui gặp gỡ thế giới trẻ em, cái
thế giới bao la, trong sáng và phức tạp, không phải lúc nào cũng dễ hiếu nhưng luôn luôn giàu có và
rối ren. Gặp gỡ với một thế giới luôn vận động và biến đổi thường kì. Háo hức những cảm xúc mới

lạ, kích động, sợ sệt, tìm tòi, lánh né, khó bảo, tốt lành hay độc ác, trẻ em ta không thể là cái gì
khác, chúng luôn lên đường, lên đường tìm kiếm một cái gì” [43,tr.43].
Nhà văn Nga L. Đolexcaia cho rằng các em là những nhà hiện
1 thực ngây thơ. Vì lẽ đó, tất cả
những gì thế hiện trong tác phấm nghệ thuật các em đều phải như những điều có thật. Có nghĩa
“cần phát triển một cách tế nhị và thận trọng thái độ đối với văn học của các em từ mức hiện thực
ngây thơ đến việc lĩnh hội văn học như một nghệ thuật” [43,tr.50].
Nhà văn viết cho thiếu nhi là người thấu hiếu được tâm hồn trẻ thơ. “Một tác phẩm viết cho trẻ
em không chỉ đế cho trẻ em thích thú mà còn phái kích thích ở các em những khát vọng và niềm
tin. Vì thế, không chỉ là tưởng tượng thuần túy, tưởng tượng trong tư duy hiện thực, gắn bó sâu sắc
với hiện thực, dựa trên sự chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc sống mà còn là tưởng tượng có tính
chất dự cảm, dự báo về tương lai. Văn học viết cho trẻ em phải đánh thức được khả năng rung động
sâu sắc của tâm hồn trẻ thơ, hình thành ở các em niềm tin gẳn với những giá trị thấm mỹ và vẻ đẹp,
đế từ vấn đề này trẻ em có thế nâng lên tầm tư tưởng, có ý nghĩa nhân sinh, nhân loại” [36,tr. 165].
Văn học viết cho thiếu nhi thực sự gần gũi với cuộc sống, gần gũi với tâm lý, suy nghĩ, tình cảm
của em. Đó là suy ngẫm về quá khứ, là niềm tin ở hiện tại, là lý tưởng hoài bão trong tương lai. Giá
trị tác phẩm văn học mang lại cho các em cách nhìn nhận, tiếp cận cuộc sống toàn diện hơn, sâu sắc
hơn.
1.2.2.

Khái quát về truyện viết cho thiếu nhi ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.

1.2.2.1.

Truyện viết cho thiếu nhi ở Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy văn học thiếu nhi luôn đồng hành cùng với văn
học dân tộc. Đây là một bộ phận văn học xuất hiện từ rất sớm, từ những bài vè, bài đồng dao,
truyện cố tích, truyện ngụ ngôn. Từ khi văn học viết xuất hiện, Thánh Tông với “Thánh Tông di
thảo” và Nguyễn Trãi với “Gia huấn ca” đã có sự quan tâm đến các em thiếu nhi.
Đến đầu thế kỉ XX, văn học thiếu nhi có sự mở đầu trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Năm
1917, Phan Bội Châu viết truyện “Chân tướng quân”, Phạm Hồng Thái, Tản Đà., đều là những tác
giả có đóng góp đối với văn học thiếu nhi giai đoạn này. Tiếp theo là sự thành công của Nguyên
Hồng với “Những ngày thơ ấu” (1938), Tô Hoài với “De Mèn phiêu lưu kí” (1941)... Trước Cách
mạng, nhóm Tự lực Văn đoàn có sách dành cho thiếu nhi tên là Sách hồng, Hoa mai, Tuổi xanh...
Tú Mỡ có “Tấm cám”, Nam Cao có “Bài học quét nhà”, “Con mèo mắt ngọc”, Thạch Lam “Hai
đứa trẻ”, Tố Hữu “Mồ côi”, “Hai đứa bé”, “Đi đi em”... Ở thời kì này, truyện viết cho thiếu nhi
không nhiều, đề tài nội dung chưa phong phú. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, truyện viết
cho thiếu nhi phát triển toàn diện và phong phú hơn. Có một bộ phận chuyên về văn học thiếu nhi

do Tô Hoài và Hồ Trúc đảm nhiệm. Thời kì kháng chiến chống Pháp 1946- 1954, dù bộn bề trăm
công nghìn việc, Bác Hồ vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thiếu nhi và văn học thiếu nhi.
Trong “Thư trung thu gửi các cháu nhi đồng” Bác viết: “các cháu
1 phải yêu Tố quốc, yêu đồng bào,
yêu lao đ ộ n g . . L ờ i dạy ấy của Bác sau này đã trở thành đề tài, chủ đề và nội dung của các tác
phẩm văn học thiếu nhi. Nguyễn Huy Tưởng viết “Tìm mẹ”, “Chiến sĩ calô”, “Hà Học Hợi học sinh
gương mẫu”, “Hai bàn tay chiến sĩ”, “Điện Biên của chúng em” đều nói về những em bé mưu trí,
dũng cảm giúp bộ đội chiến đấu. Nguyễn Tuân viết tác phẩm “Chú Giao làng Sen”, Nguyên Hồng
viết “Dưới chân cầu mây”, Tô Hoài viết “Hoa Sơn” cũng đều đề cập đến nhũng tấm gương dũng
cảm của các em, đến công sức của các em trong sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. Thời kì này,
nhà thơ Tố Hữu có làm nhiều bài thơ hay trong đó “Lượm” là bài thơ nổi tiếng về lòng yêu nước
dũng cảm. Chiến thắng thực dân Pháp, nhưng Việt Nam vẫn bị chia làm hai vùng miền. Văn học
thiếu nhi thời kì 1954- 1964 tiếp tục khai thác về đề tài kháng chiến chống Pháp. Đội ngũ sáng tác
truyện cho thiếu nhi có: Tô Hoài viết “Vừ A Dính”, Bắc Thôn viết “Hai làng Tà Pình và Động Hía”,
Đoàn Giỏi viết “Đất ròng Phương Nam”, Võ Quảng viết “Cái Thăng”, Xuân Sách viết “Đội du kích
thiếu niên Đình Bảng”, Bùi Hiển “Bên đồn địch”... Nội dung truyện thiếu nhi thời kỳ này là ngợi ca
những người anh hùng nhỏ tuổi.
Vào những năm 60 của thế kỉ XX, ở miền Bắc bắt đầu công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng
cuộc sống mới. Các tác phấm văn học viết cho thiếu nhi tập trung vào đề tài ngợi ca người lao động
chân chính. Văn Trọng viết “Bí mật ở miếu Ba cô” và “Câu chuyện trên đầm Đông”, Lê Khắc Hoan
viết “Mái trường thân yêu” nói về các em nhỏ trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp. Bùi Minh
Quốc viết “Bé Ly”, Hải Hồ viết “Chú bé sợ toán” giáo dục các em quý trọng sức lao động, biết rèn
luyện mình trở thành người hữu ích trong tương lai. Cũng vào năm 1960, tác giả Nguyễn Huy
Tưởng đã có hai tác phẩm xuất sắc viết về đề tài truyền thống lịch sử, đó là “Lá cờ thêu sáu chữ
vàng” và “Ke chuyện Quang Trung”, về truyện khoa học viễn tưởng thời kì này chưa phát triển, về
thơ ca có các tên tuổi sau: Tố Hữu, Phạm Hổ, Võ Ọuảng, Xuân Tửu, Trần Hoạt... Có thể nói truyện
ký thời kỳ này khá phát triển. Ở dạng tự truyện, Nguyễn Ngọc Kí viết “Tôi đi học”, Ọuang Huy viết
“Hoa xuân tứ”, nội dung nêu cao tinh thần vượt khó, nghị lực phi thường của tuối thơ. Ở dạng hồi
ký, Phùng Thế Tài viết “Lớn lên nhờ cách mạng” nói về những ngày tháng lớn lên cùng cách mạng,
Văn Biển viết “Cô bê 20” kể về anh Hồ Giáo trên nông trường nuôi bò ở Ba Vì. Viết về cuộc sống
mới, con người mới nhằm ngợi ca sự giàu đẹp của đất nước, tác giả Viết Linh có “Ồng than đá”,
Thế Dũng “Thảm xanh trên ruộng”, Hoàng Bình Trọng “Bí mật khu rùng”, Phạm Ngọc Toàn “Đỉnh
núi nàng Ba”. Đây là những tác phẩm văn học giáo dục các em biết ham mê khoa học, biết quý

trọng các nhà khoa học. về đề tài chiến đấu, Nguyễn Thi viết “Mẹ vắng nhà”, Lâm Phương viết “Hồ
Văn Men”, Võ Quảng viết “Quê nội”. Đe tài viết về truyền thống lịch sử, tác giả Hà Ân có “Bên bờ
Thiên Mạc”, ‘Trên sông truyền hịch”, “Trăng nước Chương Dương”.
Hai tác giả Lê Vân và Nguyên
1
Bích viết “Sát thát”. Sinh hoạt Đội là một hoạt động quan trọng của các em thiếu nhi. Ở mảng đề tài
này, Tô Hoài có tác phẩm “Họp tác xã của chúng em”, Phạm Hổ có “Khăn đở đúc cày”, Đào Vũ có
“Danh dự chúng em”, Văn Trọng có “Bí mật ở miếu Ba cô”. Có những tác phẩm viết về học tập và
sinh hoạt của các em trong nhà trường như: “Chú bé sợ toán” của Hải Hồ, “Năm thứ nhất” của
Minh Giang, “Mái trường thân yêu” của Lê Khắc Hoan, “Con bướm trắng” của Phạm Ngọc Toàn,
“Gánh xiếc lóp tôi” của Viết Linh. Đây là những tác phẩm miêu tả quá trình phấn đấu của các em
trong học tập. Nhiều tác giả cũng viết về đề tài này như Bùi Hiển “Quỳnh xóm cháy”, Nguyễn
Quỳnh “Cơn bão số 4”, Minh Giang “Xã viên mới”, Nguyễn Kiên “Ke chuyện nông thôn”. Có thể
thấy từ sau năm 1965, những tác phấm văn xuôi giành cho các em phong phú đa dạng hơn.
Cuộc chiến tranh đã qua đi, nhưng kí ức về cuộc chiến vẫn còn đọng lại trên trang viết của các
tác giả. Xuất phát từ cảm xúc về thời bom đạn, Võ Quảng có “Tảng sáng”, Nguyễn Quang Sáng có
“Dòng sông thơ ấu”, Phùng Quán có “Tuối thơ dữ dội”, đây là những tác phẩm viết về kỉ niệm tuổi
thơ thời kháng chiến chống Pháp. Cũng về kí ức chiến tranh, với cuộc kháng chiến chống Mỹ, tác
giả Bùi Minh Ọuốc viết “Hồi đó ở Sa Kì”, Thanh Quốc viết “Cát chảy”, Nguyễn Thị Như Trang
viết “Hoa cở đắng”, Lê Phương Liên viết “Những tia nắng đầu tiên”, Quang Huy viết “Ngôi nhà
trống”. Bên cạnh đó, hướng đến tâm lý lứa tuổi của các em cũng được các tác giả chú ý, Dương
Thu Hương viết “Hành trình ngày thơ ấu”, Duy Khán viết “Tuổi thơ im lặng”, Vũ Thư Hiên viết
“Miền thơ ấu”, Ma Văn Kháng viết “Côi cút giữa cảnh đời”. Cuộc sống tuổi mới lớn khi đất nước
thống nhất cũng được nhiều nhà văn quan tâm. Tác giả Phạm Hố viết “Tình thương”, Nguyễn
Quang Thân viết “Chú bé có tài mở khóa”, Trần Nhựt Minh viết “Trước mùa mưa bão”. Đe giúp
các em hòa nhập với cuộc sống hiện tại, tác giả Nguyễn Nhật Ánh đã viết “Em gái”, Quế Hương
viết “Kẻ thù”, Cao Xuân Sơn viết “Chị”, Đoàn Thị Lam Luyến viết “Cánh cửa nhớ bà”, Trần Thiên
Hương viết “Ngày xưa”... Với tập truyện “Kính vạn hoa”, Nguyễn Nhật Ánh đã đặc biệt thành công
khi thu hút được sự quan tâm của các độc giả nhở tuổi.
Sau này, văn học thiếu nhi có giải thưởng “Vì tương lai”. Đây là giải thưởng trao tặng cho các
tác giả sáng tác những tác phẩm hay, có giá trị giành cho các em. Nhiều tác phẩm xuất sắc như: “Tu
hú gọi mùa” của Trần Công Nghệ, “Thánh Gióng và bé Nê” của Lưu Trọng Văn, “Kỉ niệm về một
dòng sông” của Đoàn Lư, “Nhành cỏ non” của Trần Quốc Toản, “Mùa hè thơ ấu” của Nguyễn Thị
Châu Giang, “Bạn thành phố” của Nguyễn Thị Thanh Bình, “Mảnh đời trôi nổi” của Lâm Phương,

“Cò trắng vườn chim” của Kim Hài, “Giếng vàng” của Xuân Mai... Tác giả Nguyễn Ọuang Thiều
có những tác phẩm tiêu biểu: “Rùa trắng”, “Bầy chim chìa vôi”, “Bông hoa nước”, “Người cha”.
Những tên tuổi trong “làng văn” thiếu nhi thật sự có đóng góp
1 to lớn, bằng niềm đam mê sáng
tạo họ đã góp phần nuôi dường tâm hồn trẻ thơ. Nhiều tác phẩm hay sống bền bỉ với thời gian,
được các em tìm đọc và yêu mến. Cho đến nay, nhìn lại bộ phận văn học viết dành cho thiếu nhi
ỞViệt Nam không phải là không có hạn chế. Song hạn chế đó là một tất yếu, là động lực giúp các
tác giả chuyên tâm vào đối tượng độc giả nhỏ tuổi sáng tác ngày càng hay hơn, sâu sắc hon, thỏa
mãn được nhu cầu đọc của các em hơn.
1.2.2.2.

Truyện viết cho thiếu nhi ở một số nirớc trên thế giói.

Nhà văn Nga Anhia Bacto từng nói: “Văn học thiếu nhi thế giới có thế đóng góp rất nhiều vào
việc làm cho tâm hồn trẻ nhỏ khắp thế giới xích lại gần nhau, làm cho niềm vui ấy ngày càng phát
triển và sâu sắc” [83,tr.54]. Đúng như vậy, trẻ em- dù ở đâu, dù sống ở thời đại nào vẫn luôn có nhu
cầu tìm kiếm lời giải đáp về cuộc sống qua các tác phấm văn học. Chúng ta biết rằng nền văn học
nghệ thuật ra đời sớm, nhưng văn học giành thiếu nhi trong thời kì đầu của văn học thì không hề
tồn tại. Có thể nói, văn học thiếu nhi là một hiện tượng khá mới. Ngày trước, những câu chuyện
thần thoại, cổ tích, truyền thuyết ban đầu đều được xếp vào danh mục văn học thiếu nhi. Đơn giản
vì đây là những cốt truyện mang tính chất hoang đường, phù họp với tâm lý ngây thơ của trẻ nhở.
Những câu chuyện này có nội dung khám phá nguồn gốc về vũ trụ, về mùa màng, về các nền văn
minh loài người. Mục đích của những câu chuyện là giúp con người hiểu biết thêm về cuộc sống,
về vũ trụ, về mọi thứ... Bên cạnh đó, còn có mục đích nhằm lưu giữ những nét đẹp văn hóa- lịch sử
từng vùng miền. Các câu chuyện ngụ ngôn cũng vậy, chang hạn như giải thích hiện tượng “Tại sao
thân kiến bị chia thành hai?”, điều này có nghĩa giải thích miêu tả về hình dáng - cấu tạo của loài
kiến. Mặc dù không phải là truyện viết cho thiếu nhi, nhưng lại trở thành truyện dành cho thiếu nhi.
Sở dĩ tồn tại điều này, trước hết là bởi tính chất hoang đường của truyện, không phù hợp với người
lớn. Nội dung truyện mang màu sắc hư ảo phù hợp với trí tưởng tượng phong phú của trẻ thơ.
Những câu chuyện thường mang tính giáo huấn sâu sắc, thường gắn liền với những bài học làm
người nhẹ nhàng... cho nên phù họp với lứa tuổi các em. Như chúng ta đã biết, truyện viết cho thiếu
nhi gần gũi với tâm lý các em, truyện mang tính giáo dục rất cao. Hơn thế nữa, trẻ em luôn có tính
hiếu kì, các em luôn muốn đọc những gì mà các em thích. Bởi vậy, vấn đề truyện thực sự dành cho
thiếu nhi bắt đầu từ đâu? luôn là câu hởi của những ai quan tâm đến thiếu nhi và quan tâm đến văn
học dành cho thiếu nhi. Vậy thì từ bao giờ và ở đâu xuất hiện những tác phẩm văn học thực sự dành
cho thiếu nhi?