Tải bản đầy đủ
2 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẦU CẦU TRE

2 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẦU CẦU TRE

Tải bản đầy đủ

Công ty xuất nhập khẩu khác (Cholimex, Ramico, Ficonimex) trên địa bàn Thành
phố.
Trong tình hình ngân sách Thành phố còn rất eo hẹp, theo tinh thần chỉ đạo
của Thành Uỷ và UBND Thành phố, Direximco hoạt động tự lực cánh sinh với
phương châm ''hai được” (được phép huy động vốn trong dân và vốn nước ngoài;
được phép đề xuất chính sách cụ thể, được xét duyệt ngay) và ''hai không'' (không
lấy vốn ngân sách Nhà nước; không vay quỹ ngoại tệ xuất nhập khẩu). Đây là chủ
trương đầy tính sáng tạo và dũng cảm trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ.
Với cách làm linh hoạt, đi từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, Direximco đã
có những bước phát triển nhảy vọt về kim ngạch xuất nhập khẩu. Đồng thời,
Direximco đã tạo được khoản lãi và chênh lệch giá 1,6 tỉ đồng. Vào thời điểm đầu
thập kỹ 80, đây là một khoản tiền rất lớn.
Trong thời kỳ hoạt động của Direximco, mặc dù kinh doanh là chủ yếu,
nhưng Ban lãnh đạo Công Ty đã nhận thức được xu hướng các tỉnh sẽ dần dần
tiến lên tự làm xuất nhập khẩu, nhất là xuất thô và sơ chế, giảm dần phụ thuộc
vào Thành phố, từ đó đặt ra yêu cầu Direximco phải tổ chức cho được một số cơ
sở sản xuất của chính mình để chủ động có nguồn hàng xuất ổn định lâu đài, có
hiệu quả kinh doanh cao trên cơ sở dựa vào tiềm năng và thế mạnh về mặt khoa
học kỹ thuật, tay nghề của Thành phố thông qua làm hàng xuất khẩu tinh chế.
Quyết định đầu tư xây dựng cơ sở chế biến hàng xuất khẩu là thể hiện ý đồ chiến
lược này.
1.2.2

Chuyển thể từ Direximco sang Xí nghiệp Cầu Tre:
Sau khi có Nghị quyết 01/NQ-TW ngày 14 tháng 09 năm 1982 của Bộ
Chính Trị, căn cứ vào Nghị quyết hội nghị Ban Thường Vụ Thành Uỷ bàn về
công tác xuất nhập khẩu (Thông báo số 12/TB-TU ngày 28 tháng 04 năm 1983),
Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố đã ra Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 01 tháng 06
năm 1983 chuyển Công Ty xuất nhập khẩu Trực dụng Công nghiệp Saigon
Direximco thành Xí Nghiệp Quốc Doanh Chế Biến Hàng Xuất Khẩu Cầu Tre (Xí
nghiệp Cầu Tre).
Theo Quyết định nói trên, Xí Nghiệp là một đơn vị sản xuất chế biến để cung ứng
xuất khẩu trực thuộc Sở Ngoại Thương Thành phố. Mặt hàng của Xí Nghiệp gồm
14

một số loại hải sản khô, đông lạnh và một số hàng khác được quy định cụ thể
trong kế hoạch hàng năm của Xí Nghiệp.
Sau nhiều đợt tổ chức lại ngành Ngoại thương Thành phố, Xí Nghiệp lần lượt
trực thuộc Tổng Công Ty Xuất nhập khẩu Thành phố (IMEXCO), Ban Kinh tế
Đối Ngoại, Sở Kinh tế Đối Ngoại, Sở Thương Mại và Tổng Công Ty Thương
Mại Saigon.
Vào thời điểm chuyển thể, tình hình tài sản của Direximco rất khả quan, gồm
nhiều tài sản cố định có giá trị cao, nhất là một quỹ hàng hoá lớn.
Direximco đã chuyển giao toàn bộ tài sản cho Sở Ngoại Thương, trong đó riêng
hàng hoá nhập (sợi. nhựa, hoá chất, vv...) trị giá khoảng 10 triệu USD, 103 triệu
đồng hàng hoá xuất khẩu, hơn 45 triệu đồng hàng công nghệ phẩm và 77 triệu
đồng vốn bằng tiền.
Sở Ngoại Thương đã cắt giao lại cho Xí Nghiệp số vốn 218 triệu đồng, để làm
vốn kinh doanh ban đầu, trong đó:
- Vốn cố định

: 143 triệu đồng

- Vốn lưu động : 75 triệu đồng
Thật ra, các phần vốn '' do Ngân sách cấp'' nói trên thực chất chỉ là một phần
trích trong khoản tích luỹ Direximco tạo được từ kết quả kinh doanh của mình.
Sau đợt đổi tiền năm 1985, vốn cố định được quy ra thành 14,3 triệu đồng và qua
các đợt đánh giá lại theo chủ trương của Bộ Tài Chánh và hàng năm Xí Nghiệp
trích lãi để bảo toàn vốn, phần vốn nói trên là 11,8 tỉ đồng, chiếm khoảng 11,4 %
tổng số vốn của Xí Nghiệp (Quyết toán năm 1997).
Riêng vốn lưu động (75 triệu đồng) vào cuối năm 1984, Xí Nghiệp đã hoàn trả lại
đầy đủ cho Ngân sách.
Bằng nguồn vốn khiêm tốn được giao, với nỗ lực của bản thân, Xí Nghiệp đã
từng bước đi lên, xây dựng được cơ ngơi thuộc loại quy mô tương đối lớn của
Thành phố như ngày hôm nay.
Quá trình đi lên của Xí Nghiệp thật ra không đơn giản. Qua nhiều giai đoạn khác
nhau, thuận lợi nhiều nhưng khó khăn không ít, thậm chí có lúc đòi hỏi Xí Nghiệp
phải có sự chọn lựa một cách thật sáng suốt và phải có quyết tâm cao vượt qua
thử thách để khỏi đi vào bế tắc.
1.2.3

Các giai đoạn phát triển của xí nghiệp
15

Hơn 30 năm hoạt động của Xí Nghiệp có thể chia thành ba giai đoạn chính:
1. Giai đoạn 1983- 1989: Sản xuất khẩu kết hợp kinh doanh hàng nhập khẩu.
Nét đặc trưng hoạt động giai đoạn này là kết hợp sản xuất hàng xuất khẩu với
kinh doanh hàng nhập khẩu dưới hình thức chủ yếu dùng hàng nhập để đối lưu
huy động hàng xuất, đồng thời dùng lãi và chênh lệch giá trong kinh doanh hàng
nhập để hổ trợ làm hàng xuất khẩu.
Giai đoạn này có 2 thời kỳ :
1.1 Thời kỳ 1983 -1987:
Xí nghiệp Cầu Tre là chân hàng cùa IMEXCO.
Theo Quyết định 73/QĐ-UB của UB Nhân dân Thành phố, sau khi chuyển thể từ
Direximco, Xí Nghiệp Cầu Tre cũng như nhiều đơn vị làm hàng xuất khẩu khác
của Thành phố đã trở thành ''chân hàng'' của IMEXCO, trong đó vai trò của
IMEXCO là đầu mối. Ở khâu nhập, Xí Nghiệp thông qua IMEXCO dưới hình
thức “hàng đối lưu” và trong phạm vi “quyền sử dụng ngoại tệ” của mình.
Trong điều kiện bộ máy IMEXCO chưa đủ mạnh, cơ chế quản lý còn mang tính
bao cấp, quyền tự chủ về tài chánh và kế hoạch của Xí Nghiệp chưa được giải
quyết rõ ràng, dứt khoát, hàng đối lưu thường chậm, dẫn đến trì trệ trong huy
động nguyên liệu, tạo nguồn hàng xuất. Hoạt động của Xí Nghiệp bị ảnh hưởng
không ít.
Mặt khác, trang thiết bị kỹ thuật và các phương tiện khác của Xí Nghiệp không
theo kịp đà phát triển sản xuất đòi hỏi phải được khẩn trương tăng cường.
Trong 2 năm đầu, kim ngạch xuất khẩu đã chững lại:
Bảng 1.1 : Kim Ngạch Xuất Khẩu Năm 1983 – 1984.
STT

Năm

Kim ngạch xuất khẩu

1
2

7 tháng cuối năm 1983
1984

4,2 triệu USD
7,5 triệu USD

Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, một mặt Xí Nghiệp cố gắng tranh thủ
ủng hộ của trên, một mặt tự lực phấn đấu để tìm cách ổn định sản xuất đưa hoạt
động Xí Nghiệp đi lên.
Một trong những biện pháp chủ yếu phải làm ngay là đẩy nhanh tốc độ xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật, mặc dù gặp khá nhiều khó khăn về vật tư, tiền vốn.Với
16

phương châm “vừa xây dựng, vừa sản xuất”, xây dựng xong đến đâu, đưa vào sản
xuất đến đó, Xí Nghiệp đã sử dụng mặt bằng với hiệu quả tốt hơn. Cùng với tranh
thủ sự tin cậy của khách hàng nước ngoài nhập chịu thiết bị trả chậm, Xí nghiệp
đã có điều kiện nắm bắt thời cơ. Chiến dịch sò điệp với việc huy động hơn 12.000
tấn nguyên liệu, làm ra hơn l.000 tấn sản phẩm đông lạnh và khô hay kế hoạch
làm mặt hàng thịt heo đông lạnh xuất cho Liên Xô gần 3.000 tấn trong 2 năm
1985 -1986 thành công tốt đẹp đã minh chứng cụ thể cho cách làm sáng tạo này.
Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu năm 1985 - 1987 đã có sự gia tăng đáng kể:
Bảng 1.2 : Kim Ngạch Xuất Khẩu Năm 1985 – 1987
STT
1
2
3

Năm
1985
1986
1987

Kim Ngạch Xuất Khẩu
10,3 triệu USD/R
16,5 triệu USD/R
22,1 triệu USD/R

1.2 Thời kỳ 1988 – 1989: Xí Nghiệp bắt đầu làm xuất nhập khẩu trực tiếp.
Bảng 1.3 : Kim Ngạch Xuất Khẩu Năm 1988 – 1989
STT
1
2

Năm
1988
1989

Kim Ngạch Xuất Khẩu
18,2triệu USD/R
25 triệu USD/R

Kim Ngạch Nhập Khẩu
22,3 triệu USD/R
18,4 triệu USD/R

Tình hình kinh tế cuối năm 1988 đầu năm 1989 của khu vực nói riêng và cả nước
nói chung bước sang giai đoạn mới với nhiều khó khăn:
- Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn hàng nhập lậu tràn
lan. Nhiều đơn vị nhập ồ ạt, thiếu kế hoạch khiến nguyên liệu, vật tư nhập về
phục vụ sản xuất (sợi, nhựa, hoá chất, vv...) bị tồn đọng, tồn kho lâu, vốn quay
chậm, buộc lòng phải bán lỗ để có vốn tiếp tục sản xuất. Tỷ suất bán hàng nhập
khẩu thường thấp hơn tỷ suất làm hàng xuất khẩu.
- Kinh doanh hàng nhập khẩu trên thực tế đã mất tác dụng hổ trợ xuất khẩu.
- Về mặt sản xuất hàng xuất khẩu Xí Nghiệp cũng có những khó khăn riêng:
+ Giá nguyên liệu trong nước ngày càng tăng theo tốc độ giảm giá của đồng
bạc Việt Nam.
+ Thị trường thế giới biến động bất lợi: giá xuất nhiều mặt hàng chủ lực của
Xí Nghiệp như tôm đông lạnh sụt giảm do sức thu hút của thị trường yếu.
17