Tải bản đầy đủ
Đảm bảo thông tin

Đảm bảo thông tin

Tải bản đầy đủ

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Điện

xác của các quyết định phần lớn phụ thuộc vào độ chính xác của thông tin. Có
nghĩa là các thông tin có phản ánh đúng các thông số trạng thái của các đối
tượng bị điều khiển hay không.
Hiểu theo nghĩa rộng đảm bảo thông tin là hệ thống phản ánh quá trình sản xuất,
là hệ thống các mô hình thông tin dùng để mô tả một cách hình thức quá trình
sản xuất nói trên.
Hiểu theo nghĩa hẹp đảm bảo thông tin bao gồm các phần sau đây:
-Hệ thống phân loại, đánh dấu, đặt tên các phần tử, các đối tượng bị điều khiển.
-Hệ thống các định mức, các chỉ tiêu kinh kế kỹ thuật.
-Tổ chức lưu giữ, gia công, xử lý, hiệu chỉnh thông tin.
Như vậy đảm bảo thông tin là bước đầu tiên của quá trình xử lý thông tin trong
hệ ĐK TĐH QTCN.
c.Mô hình thông tin
Mô hình thông tin là sự mô tả hình thức quá trình tổ chức và xử lý thông tin.
Ở mức độ đơn giản mô hình thông tin là các bảng thống kê, các ghi chép về các
chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, các định mức vật tư, lao động .v.v.
Mô hình thông tin dạng ma trận là một ma trận phản ánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật và quan hệ giữa chúng nên loại mô hình này được dùng rộng rãi.
Yêu cầu đối với mô hình thông tin là phải rõ ràng, thuận tiện cho sử dụng, có
tính thống nhất và tiêu chuẩn hoá để có thể dùng cho các phương tiện tính toán
khác nhau.
d.Đánh dấu phân loại , đặt tên các đối tượng được điều khiển
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của đảm bảo thông tin là xây dựng
một hệ thống các cách đánh dấu, phân loại, đặt tên các phần tử, thiết bị máy
móc, các

sản phẩm cùng các quan hệ giữa chúng. Hệ thống đánh dấu

phân loại này phải thuận tiện cho việc dùng máy tính để xử lý thông tin- tức các
thông tin phải được mã hoá.
Việc đánh dấu, phân loại, đặt tên phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và
quốc tế như: Tiêu chuẩn Việt nam, IEC, ISO 9000.
23
TĐH Quá Trình Công Nghệ

23

Lớp Điện 2-k8

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Điện

e. hệ thống định mức-các chỉ tiêu kinh tế- kĩ thuật
Sản xuất bất kỳ sản phẩm nào cũng phải qua nhiều nguyên công, nhiều công
đoạn. Ứng với mỗi nguyên công cần tiêu phí một lượng nguyên liệu, nhiên liệu,
nhân công nhất định. Vì vậy, những định mức kinh tế- kỹ thuật phải được xây
dựng đầy đủ chi tiết cho từng bộ phận, từng máy đến cả dây chuyền công nghệ.
f.xây dựng ngân hàng dữ liệu
Ngân hàng dữ liệu của hệ ĐK TĐH QTCN là nơi tập trung (trong máy tính) toàn
bộ dữ liệu dùng trong hệ. Vì vậy cần phải tổ chức sao cho lưu trữ, sử dụng và
cập nhật thông tin được thuận tiện, khoa học.
-Về lưu trữ dữ liệu cần giải quyết các vấn đề sau đây:
oTập trung hoá các dữ liệu
oTối thiểu hoá độ dư của dữ liệu
oMô tả dữ liệu bằng ngôn ngữ chung không phụ thuộc vào ngôn ngữ lập
trình
oSử dụng các mô tả dữ liệu có cấu trúc
-Về sử dụng dữ liệu cần giải quyết các vấn đề sau đây:
oCó khả năng lấy ra bất kỳ một nhóm dữ liệu nào không phụ thuộc vào nơi
ghi các dữ liệu đó
oCó khả năng đổi mới, cập nhật các dữ liệu
oSử dụng các phương pháp tìm kiếm dữ liệu tối ưu
oCó khả năng bảo vệ tính chính xác, nguyên vẹn, bí mật của dữ liệu
Chú ý rằng “dữ liệu” ở đây hiểu theo nghĩa rộng, nó có thể là các số liệu nhưng
cũng có thể là các chương trình tính toán, bản thiết kế hoặc quy trình công
nghệ .v.v.
Một trong những vấn đề quan trọng của việc xây dựng ngân hàng dữ liệu là tổ
chức vào ra thông tin. Hiện nay phương pháp đưa thông tin vào còn khá chậm so
với tốc độ xử lý của máy tính và chưa thuận tiện cho việc trao đổi trực tiếp giữa
người với máy. Việc đưa thông tin ra (màn hình, máy in, đĩa mềm, …) có nhiều
tiến bộ nên việc lấy thông tin ra ngày càng dễ dàng hơn.
24
TĐH Quá Trình Công Nghệ

24

Lớp Điện 2-k8

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Điện

2.Đảm bảo toán học
a. Cấu trúc của đảm bảo toán học
Đảm bảo toán học bao gồm những thành phần sau:
-

Các mô hình toán (còn gọi là đảm bảo mô hình) dùng để mô hình các đối
tượng được điều khiển, các quá trình công nghệ để giải các bài toán điều khiển.

-

Các thuật toán (còn gọi là đảm bảo thuật toán) là các phương pháp giải
các bài toán điều khiển. Các thuật toán thường phụ thuộc vào mô hình toán đã
chọn. Chọn thuật toán đúng sẽ ảnh hưởng tới tốc độ tính toán và độ chính xác
của lời giải.

-

Các chương trình (còn gọi là đảm bảo chương trình) dùng để xử lý, tính
toán các dữ liệu ứng với mô hình và thuật toán đã chọn. Như vậy mô hình toán
học và thuật toán dùng để xây dựng hệ thống, còn chương trình tính toán dùng
để vận hành hệ thống.
Ngày nay có nhiều ngôn ngữ dùng để lập trình. Việc chọn ngôn ngữ nào và kỹ
thuật lập trình ra sao ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tính và kết quả tính.
b.Mô hình toán học
Xây dựng mô hình toán học là một trong những giai đoạn quan trọng nhất
của việc xây dựng hệ thống điều khiển. Thông thường công việc này phải do các
chuyên gia am hiểu về quá trình công nghệ và nắm vững về toán học đảm
nhiệm.
Hiện nay người ta xử dụng nhiều loại mô hình toán học, thường dùng các loại
mô hình sau đây:

-

Mô hình quy hoạch (tuyến tính, không tuyến tính)

-

Mô hình mô phỏng (mô hình trạng thái, mô hình phục vụ đám đông)

-

Mô hình trò chơi

-

Mô hình quy hoạch thực nghiệm
Sau đây chúng ta điểm qua một vài loại mô hình.

-

Mô hình quy hoach

25
TĐH Quá Trình Công Nghệ

25

Lớp Điện 2-k8

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Điện

Dùng để giải các bài toán đánh giá chất lượng, giải các bài toán tối ưu. Loại mô
hình này được xây dựng trên các dữ liệu đã biết trước như các định mức, các chỉ
tiêu kinh tế, kỹ thuật .v.v. Trong thực tế, rất nhiều thông số không thể xác định
bằng một giá trị cụ thể mà chỉ có thể biết xác suất xuất hiện của nó. Trong
trường hợp này người ta phải xây dựng mô hình xác suất.
-

Mô hình mô phỏng
Ngày nay nhờ có kỹ thuật máy tính phát triển người ta có thể thực hiện một số
lượng lớn các phép tính và lưu trữ nhiều dữ liệu, nhờ vậy người ta có thể thực
hiện phương pháp mô phỏng (Simulation).
Trong mô hình mô phỏng người ta mô phỏng hành động dáng điệu của các yếu
tố, bộ phận của hệ thống cũng như mô tả các quan hệ giữa chúng và giữa hệ
thống với môi trường xung quanh. Thông thường trong hệ có nhiều yếu tố ngẫu
nhiên tác động, vì vậy mô hình nghiên cứu sẽ là mô hình ngẫu nhiên.
Phương pháp mô phỏng sẽ phát huy ưu việt của nó khi mô phỏng các hệ ngẫu
nhiên.
Để làm ví dụ ta hãy nghiên cứu mô hình phục vụ đám đông (server Queueing
System) của hệ ĐK TĐH QTCN.
Như ta đã biết, hệ ĐK TĐH QTCN có các terminal các trung tâm tính toán, các
thiết bị này được coi là điểm phục vụ (servers). Các thông tin đi vào hệ : từ đồng
hồ đo, sensor, hoặc là từ các terminals lên trung tâm tính toán được gọi là khách
hàng (customer) hoặc là các yêu cầu. Thời điểm khách hàng xuất hiện, độ lớn
của khách hàng mang tính ngẫu nhiên. Dòng khách hàng là một dòng ngẫu
nhiên, nếu dòng này là một dòng dừng, không hậu quả và đơn trị thì nó là một
dòng tối giản. Trong trường hợp này khoảng cách giữa các sự kiện – khách hàng
- sẽ tuân theo luật phân bố mũ.
Do các khách hàng (thông tin) mang tính ngẫu nhiên nên thời gian phục vụ
khách hàng (thời gian xử lý thông tin) cũng mang tính ngẫu nhiên. Nếu dòng
khách hàng là tối giản thì dòng phục vụ cũng là tối giản.
26
TĐH Quá Trình Công Nghệ

26

Lớp Điện 2-k8