Tải bản đầy đủ
a. Khái niệm dân tộc

a. Khái niệm dân tộc

Tải bản đầy đủ

bên cạnh nghĩa thứ 2, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó
mới được bộ lộ đầy đủ.
b. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc và biểu hiện của nó
trong thời đại ngày nay.
* Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc.
+ Xu hướng thứ nhất (Xu hướng phân lập dân tộc).
ở những quốc gia, khu vực TBCN gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc
khác nhau, do sự trưởng thành của ý thức dân tộc và sự thức tỉnh về quyền sống của
mình mà các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân tộc độc
lập.
+Xu hướng thứ hai ( Xu hướng liên hiệp dân tộc).
Các dân tộc từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên
hiệp lại với nhau. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ,
của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội TBCN đã làm xuất hiện nhu cầu xoá bỏ
hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn
giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
Sự thể hiện của hai xu hướng khách quan trên đây trong điều kiện của CNĐQ
gặp nhiều trở ngại. Nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập tự do bị chính
sách xâm lược của CNĐQ đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé, hoặc còn ở trình độ lạc
hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên
cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị CNĐQ phủ nhận, để thay vào đó là những khối liên
hiệp do nó lập ra nhằm duy trì sự áp đặt áp bức, bóc lột đối với các dân tộc đó, trên cơ
sở bình đẳng và bị cưỡng bức.
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện CNXH khi tình trạng người
bóc lột ngưòi bị thủ tiêu thì tình trạng dân tộc này áp bức dân tộc khác mới bị xoá bỏ.
Và chỉ khi đó, hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để
thể hiện đầy đủ. Quá độ từ CNTB lên CNXH là sự quá độ lên một xã hội thực sự tự
do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người. Mác-Ăngghen viết: “hãy xoá
bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác cũng sẽ bị xoá
bỏ”.
* Biểu hiện của hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc trong thời
đại ngày nay.
195

- Xét trong phạm vi các quốc gia XHCN có nhiều dân tộc.
Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để đi đến sự tự
chủ và phồn vinh của bản thân mình.
Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng
xích lại gần nhau.
+ Trong điều kiện của CNXH, hai xu hướng này phát huy tác động cùng chiều,
bổ xung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và
đụng chạm đến tất cả các quan hệ dân tộc. Sự tự chủ, phồn vinh của từng dân tộc, sẽ
tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác
chặt chẽ hơn với các dân tộc anh em. Ngược lại, sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc
được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện, sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi
nhanh tới sự tự chủ phồn vinh. Bởi vì nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiềm
năng của dân tộc mình mà còn dựa vào tiềm năng của dân tộc anh em để tiến lên phía
trước. Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong cùng quốc gia có ý nghĩa là những
tinh hoa, những giá trị của các dân tộc đó thâm nhập vào nhau, bổ xung hoà quyện vào
nhau để tạo thành những giá trị chung. Giá trị chung đó là kết quả đóng góp của các
dân tộc, lại trở thành cơ sở liên kết các dân tộc đó ở một trình độ cao hơn.
- Xét trên phạm vi thế giới.
Xu hướng thứ nhất đó là biểu hiện của phong trào giải phóng dân tộc của các
dân tộc bị áp bức vùng dậy phá tan xiềng xích của CNĐQ giành lấy độc lập, tự do, và
phát triển cho dân tộc mình.
Xu hướng này biểu hiện trong phong trào giải phóng dân tộc thành sức mạnh
chống CNĐQ và chính sách của thực dân mới dưới mọi hình thức, phá tan những khối
kiên hiệp giả hiệu, mà thực chất chỉ là tấm bình phong để CNĐQ thực dân áp bức, bóc
lột các dân tộc lạc hậu. Xu hướng này cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các dân
tộc nhỏ bé hiện còn đang là nạn nhân của sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc vẫn
đang bị coi là đối tượng của chính sách đồng hoá cưỡng bức ở nhiều nước tư bản. Độc
lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý thời đại, là sức mạnh
hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc, sẽ làm tiêu tan tất cả những gì
cản trở nó.

196

Xu hướng thứ hai các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành
một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng đã được hình thành trong lịch sử.
Xu hướng này tạo nên sức thu hút các dân tộc vào các liên minh được hình
thành trên cơ sở những lợi ích nhất định. Có những lợi ích mang tính khu vực - dựa
trên những yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên…
VD. EU, G7, ASEAN…
Nhận rõ điều này, mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện chính sách mở cửa
hoà nhập vào dòng vận động chung của nhân loại, đồng thời phải tìm được giải pháp
hữu hiệu để giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc của mình.
Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan nêu trên, Đảng ta khẳng định
đường lối: “ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương
hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”.
c. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết
vấn đề dân tộc
* Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng.
+ Đây là quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc, bình đẳng giữa các dân tộc
trước hết là xoá bỏ tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp khác, trên cơ sở đó xoá bỏ
tình trạng dân tộc này áp bức dân tộc khác. Đồng thời, từng bước khắc phục tình trạng
chênh lệch trong sự phát triển các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc lạc hậu vươn
lên tiến bộ, văn minh.
+ Bình đẳng giữa các dân tộc là quyền được hưởng những điều kiện và khả
năng như nhau trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...Không phân biệt
trình độ phát triển cao hay thấp, đa số hay thiểu số.
+ Bình đẳng giữa các dân tộc phải được ghi nhận cả về mặt pháp lý và trên thực
tế.
+ Con đường thực hiện: Trước hết phải thủ tiêu tình trạng người bóc lột người,
tình trạng áp bức giai cấp trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc, kết hợp sự
phát triển tự thân của mỗi dân tộc với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc khác để
mỗi dân tộc phát triển vững chắc.
* Các dân tộc có quyền tự quyết.
197

- Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình,
quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc.
- Quyền tự quyết bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc
lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
- Tự quyết là quyền của các dân tộc nhưng khi thực hiện phải đảm bảo những
nguyên tắc sau: Phải đứng vững trên lập trường của GCCN, đảm bảo sự thống nhất
giữa lợi ích dân tộc với lợi ích của giai cấp công nhân. Triệt để ủng hộ các phong trào
dân tộc tiến bộ, kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chiêu bài
“dân tộc tự quyết” để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc.
* Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Đây là một nội dung quan trọng và là giải pháp để liên kết các nội dung của
cương lĩnh thành một chỉnh thể, làm cho vấn đề dân tộc và quốc tế gắn bó chặt chẽ với
nhau theo tinh thần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Bởi vì, chỉ có
đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân các dân tộc lại, thì mới đảm bảo thực hiện triệt để
quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc. Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc
còn là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động trong cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, tiến tới hoàn thành SMLSTG của GCCN
2. Vấn đề tôn giáo và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong
việc giải quyết vấn đề tôn giáo
a. Khái niệm tôn giáo:
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo
hiện thực khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên và xã
hội trở nên thần bí, có sức mạnh chi phối cuộc sống của con người. Nghĩa là tôn giáo
đem đến cho con người sự nhìn nhận lệch lạc về hiện thực khách quan, qua đó thể
hiện sự bất lực, bế tắc của con người trước sức mạnhcủa tự nhiên và xã hội.
Từ đó chúng ta rút ra bản chất của tôn giáo như sau:
+ Bản chất xã hội: Tôn giáo thể hiện sự bế tắc, bất lực của con người trước sức
mạnh tự nhiên, xã hội.
+ Bản chất nhận thức: Tôn giáo phản ánh hiện thực khách quan một cách hư ảo,
hoang đường, đem đến cho con người nhận thức lệch lạc về hiện thực cuộc sống.
198

Như vậy, về phương diện thế giới quan, thì thế giới quan duy vật Mác – xít và
thế giới quan tôn giáo là đối lập nhau. Sự khác nhau giữa CNXH hiện thực và các
“thiên đường” mà các tôn giáo hướng tới là ở chỗ: các “thiên đường” ấy ở “bên kia thế
giới” (tức là cái hư ảo, không có thật). Còn những người cộng sản chủ trương hướng
con người xây dựng một thiên đường trên mặt đất, ở đó đó con người được hưởng tự
tự do, hạnh phúc, được tạo điều kiện để phát triển toàn diện. Tuy đối lập về thế giới
quan nhưng chủ nghĩa Mác – Lênin, những người cộng sản và chế độ XHCN luôn
luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.
Bảng so sánh thế giới quan tôn giáo và thế giới quan của chủ nghĩa Mác -Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin
Thế giới quan duy vật biện chứng

Tôn giáo
Thế giới quan duy tâm thần bí là thế

là thế giới quan khoa học giúp con người

giới quan phản khoa học, phản ánh hiện

không chỉ nhận thức được bản chất, quy

thực khách quan một cách hoang đường,

luật các hiện tượng tự nhiên, xã hội mà

hư ảo, thể hiện sự bất lực của con người

còn cải tạo thế giới hiện thực.

trước sức mạnh tụ nhiên, xã hội

b. Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Theo các nhà kinh điển của CNXHKH trong chế độ XHCN tôn giáo vẫn còn
tồn tại lâu dài và có những biến đổi nhất định. Vì sao tôn giáo vẫn còn tồn tại trong
giai đoạn này? chúng ta cùng tìm hiểu những nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong
XHXHCN.
- Nguyên nhân nhận thức: trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong
chế độ xã hội chủ nghĩa trình độ dân trí của nhân dân lao động chưa thật cao, nhiều
hiện tượng tự nhiên xã hội chưa giải thích được. Mỗi khi như vậy, con người lại quy
nó về với các hiện tượng thần thánh, đó là nguyên nhân thứ nhất. Mặt khác nỗi lo về
chiến tranh, thiên tai, đói nghèo, bệnh tật là mảnh đất tốt để tôn giáo nảy sinh và phát
triển.
- Nguyên nhân kinh tế: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại
nhiều thành phần kinh tế, tồn tại nhiều giai cấp, còn có sự phân tầng xã hội về kinh tế,
chính trị, xã hội...(còn có người giầu kẻ nghèo, địa vị xã hội còn chênh lệch, điều kiện
được hưởng thụ các giá trị văn hoá cũng khác nhau..) Điều đó gây ra tâm lý thụ động,
199

trông chờ của con người vào các lực lượng siêu nhiên. Do đó, tôn giáo còn tồn tại.
- Nguyên nhân tâm lý: tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ rất cao,
cho dù xã hội đã có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội... nhưng tôn
giáo vẫn không biến đổi theo.
+ Trong các nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội XHCN
thì nguyên nhân kinh tế là cơ bản nhất.
+ Khẳng định sự tồn tại của tôn giáo dưới CNXH là một tất yếu do những
nguyên nhân kể trên.
+ Tìm hiểu những nguyên nhân trên là căn cứ quan trọng để ĐCS và Nhà nước
XHCN đề ra những nguyên tắc, giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo.
- Nguyên nhân chính trị: Đảng cộng sản và nhà nước XHCN thực hiện chính
sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, mặt khác, các thế lực thù địch phản
động muốn duy trì tôn giáo để chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội .
Các nước XHCN bên cạnh những thành tựu to lớn về nhiều mặt trong đời sống
chính trị - xã hội còn tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực (1 bộ phận không nhỏ cán bộ
thoái hoá, biến chất, tham ô, cửa quyền mất lòng tin của dân....)
Sau khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cách mạng thế giới tạm
thời lâm vào thoái trào, các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là Mỹ ráo riết thực
hiện âm mưu xoá sổ CNXH. Chúng tập trung vào những nước XHCN còn lại trong đó
có Việt Nam.
Ở Việt Nam, thông qua các hoạt động truyền đạo trái phép vào các dân tộc
thiểu số để nắm quần chúng và xây dựng các lực lượng chính trị, vũ trang, tiến tới xu
hướng ly khai, chia cắt sự thống nhất đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Tây nguyên: chúng chủ chương tách tin lành người thượng ra khỏi tin lành
người kinh để hình thành và phát triển “ tin lành đề ga”. Các thế lực thù địch lợi dụng
đạo tin lành kết hợp vấn đề dân tộc để kích động, tổ chức quần chúng tín đồ gây rối,
tiến hành bạo động chính trị đòi thành lập nhà nước “Đề ga tự trị” (các cuộc bạo động
chính trị tháng 2/2001 dặc biệt tháng 4/2004).
+ Tây bắc: chúng ra sức phát triển tin lành dưới cái tên “Vàng Chứ”, “ Thìn
Hùng”
200

+ Nam bộ: kích động người Chăm, người Khơ- me.
+ Hoạt động lợi dụng tôn giáo để gây rối về chính trị của Thích Huyền Quang,
Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý...
- Nguyên nhân văn hóa: sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng có khả năng đáp ứng ở
một mức độ nào đó nhu cầu văn hóa, tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý
thức cộng đồng, đạo đức, lối sống... trải qua nhiều thế hệ, tôn giáo đã ăn sâu vào tiềm
thức con người và biến thành đức tin, cho nên trong xã hội xã hội chủ nghĩa chưa thể
gạt bỏ đức tin tôn giáo trong đầu óc nhân dân
c. Các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết
vấn đề tôn giáo.
Tín ngưỡng tôn giáo là vấn đề tế nhị, nhạy cảm và phức tạp. Vì vậy, xử lý
những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải hết sức thận trọng, tỉ mỷ và chuẩn xác, vừa
đòi hỏi gĩư vững nguyên tắc, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt, đúng như tinh thần
của chủ nghĩa Mác - Lênin là không “tuyên chiến’ với tôn giáo, tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân.
Đi đôi với việc chống những biểu hiện tả khuynh cần phải đấu tranh chống cả những
biểu hiện hữu khuynh khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Giải quyết vấn đề tôn giáo trong
XHXHCN cần dựa trên mấy nguyên tắc sau:
- Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn
liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Việc khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo khỏi đầu óc nhân
dân là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện được thì
trước hết phải tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới, tức là phát triển
kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng đem lại cuộc sống no ấm, hạnh phúc cho nhân dân,
cụ thể là:
+ Kinh tế: từng bước xoá bỏ chế độ tư hữu (nguồn gốc của chế độ bóc lột) thiết
lập chế độ công hữu về TLSX chủ yếu, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân.
+ Chính trị: ngày càng hoàn thiện nền dân chủ XHCN, tích cực phát huy quyền
làm chủ của nhân dân.

201

+ Văn hoá: nâng cao dân trí, khoa học kỹ thuật, xây dựng nếp sống văn hoá,
tình nghĩa, lành mạnh, tương trợ, cộng đồng.
+ Xã hội: thực hiện công bằng xã hội qua 1 loạt các chính sách xã hội như xoá
đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, trợ cấp thất nghiệp, phúc lợi xã
hội,...(ở VN, cần làm tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa)
Quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới sẽ từng bước xây dựng một
"thiên đường" trên thực tế, đẩy lùi những ảo tưởng về "thiên đường" của thế giới bên
kia. Đây là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp. Bên cạnh đó phải tăng cường
Tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cho nhân dân để
họ tự giác từ bỏ tôn giáo.

- Hai là, Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và
không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân trong khuôn khổ các quy định của
pháp luật.
Vì sao phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân? Do
tôn giáo có những giá trị đạo đức văn hoá tích cực, đáp ứng nhu cầu tinh thần
của 1 bộ phận nhân dân, phù hợp với công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, con
người, mặt khác Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất.
+ Nội dung nguyên tắc:
® Công dân có quyền theo hoặc không theo 1 tín ngưỡng tôn giáo nào đó.
® Công dân có quyền tự do vào đạo, chuyển đạo, bỏ đạo theo quy định hiện
hành.
® Công dân có tín ngưỡng tôn giáo (hoặc không có) đều có quyền bình đẳng
trước pháp luật.
® Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
® Các giáo hội có trách nhiệm động viên tín đồ sống "tốt đời đẹp đạo".
® Mọi công dân có ý thức tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của
người khác; đồng thời chống lại những phần tử cơ hội lợi dụng tôn giáo đi ngược lợi
ích dân tộc.
- Ba là, phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
Vì sao cần phải có quan điểm lịch sử khi giải quyết vấn đề tôn giáo? Vì mỗi tín
202

ngưỡng tôn giáo ra đời trong những điều kiện lịch sử khác nhau, và ở từng thời kỳ lịch
sử vai trò tác động của mỗi tôn giáo đối với đời sống XH cũng khác nhau. Quan điểm,
thái độ của các giáo hội, giáo sỹ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống XH cũng luôn
có sự khác biệt. Do đó cần phải có những quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh
giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Các Đảng cộng sản và Nhà nước XHCN phải có chính sách tôn giáo phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nước mình.
- Bốn là, phân biệt rõ mối quan hệ giữa hai mặt chính trị và tư tưởng trong
việc giải quyết vấn đề tôn giáo.
Vì sao cần phải phân biệt rõ mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết tôn
giáo? Vì: Trong tôn giáo mặt chính trị và tư tưởng thường đan xen vào nhau. Có khi
những mâu thuẫn về chính trị lại bị các phần tử phản động nguỵ trang bằng sự khác
nhau về tư tưởng và ngược lại.
Thế nào là mặt tư tưởng và mặt chính trị của tôn giáo ?
+ Mặt tư tưởng của tôn giáo chính là đức tin của các tín đồ.
+ Mặt chính trị của tôn giáo phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng.
Nội dung của nguyên tắc: .
+ Tôn trọng đức tin của tín đồ các tôn giáo (không tuyên chiến với tôn giáo).
+ Tạo điều kiện, cổ vũ những hoạt động chính trị mang ý nghĩa tích cực, cách
mạng của các chức sắc, các tín đồ.
+ Nghiêm cấm và xử lý những âm mưu, hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá
cách mạng, phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH.

- Năm là, đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của
nhân dân. Nghiêm cấm các phần tử tuyên truyền kích động đồng bào các
tôn giáo.

203

Chương IX
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC VÀ TRIỂN VỌNG
I. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC
1. Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu
tiên trên thế giới
a. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)
- Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga
- Bài học lịch sử từ cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại
b. Mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới
- Những thành công của mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu Xôviết với tư cách
là mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới
- Bài học lịch sử từ mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu Xôviết
2. Sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và những thành tựu
của nó
a. Sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
- Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
- Sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo của các Đảng Cộng sản ở thế kỷ XX
b. Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực
- Những thành tựu về chính trị, văn hóa, xã hội
- Những thành tựu kinh tế
II. SỰ KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI XÔVIẾT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ
1. Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết
- Sự khủng hoảng của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết
- Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu

204

2. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã
hội Xôviết
a. Nguyên nhân sâu xa là những sai lầm thuộc về mô hình phát triển của
chủ nghĩa xã hội Xôviết
b. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp
- Đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại
- Âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc
III. TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người
- Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi
- Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện trong lòng xã hội tư bản
- Tính đa dạng của các xu hướng phát triển của thế giới đương đại
2. Chủ nghĩa xã hội – tương lai của xã hội loài người
a. Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ không có nghĩa là sự cáo chung của
chủ nghĩa xã hội
b. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa, đổi mới và
ngày càng đạt được những thành tựu to lớn
c. Đã xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

205