Tải bản đầy đủ
+ Tờrớt đánh dấu bước ngoặt về hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất TBCN. + Phát triển nhất ở Mỹ

+ Tờrớt đánh dấu bước ngoặt về hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất TBCN. + Phát triển nhất ở Mỹ

Tải bản đầy đủ

b. Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
* Sự hình thành tư bản tài chính
Sự hình thành tư bản tài chính = quá trình xâm nhập của các tổ chức độc quyền
ngân hàng vào độc quyền công nghiệp và ngược lại..
- Sự xâm nhập của ngân hàng vào công nghiệp thông qua các hình thức:
+ Khống chế hoạt động của các khách hàng công nghiệp.
+ Đưa người vào các cơ quan giám sát của các tổ chức độc quyền công nghiệp.
+ Mua cổ phiếu của các công ty làm ăn phát đạt và cử người vào ban quản trị...
- Sự xâm nhập của công nghiệp vào ngân hàng thông qua các hình thức:
+ Mua nhiều cổ phần của các ngân hàng lớn.
+ Lập ngân hàng riêng cho họ.
[ Tư bản tài chính: là sự thâm nhập và dung hợp vào nhau giữa tư bản độc
quyền trong ngân hàng và tư bản độc quyền trong công nghiệp
Việc xuất hiện tư bản tài chính là bước phát triển và chín muồi hơn nữa của
QHSX TBCN
* Bọn đầu sỏ tài chính: sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành
một nhóm nhỏ độc quyền chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội
tư bản gọi là bọn đầu sỏ tài chính.
* Hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính
- Hình thức tổ chức: tập đoàn tư bản tài chính bao gồm hàng loạt công ty công,
thương nghiệp độc quyền hoạt động dựa vào nguồn tài chính chủ yếu do một số ngân
hàng lớn cung cấp.
- Cơ chế thống trị: tư bản tài chính (bọn đầu sỏ tài chính) thiết lập sự thống trị
của mình đối với nền kinh tế thông qua:
+ Chế độ tham dự: một nhà tư bản tài chính hoặc 1 tập đoàn tài chính, nhờ nắm
đượcsố cổ phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc hay “công ty mẹ”, qua công
ty mẹ chi phối các công ty phụ thuộc hay các “công ty con”, các công ty này lại chi
phối các “công ty cháu”…
+ Chế độ ủy thác.
+ Lập công ty mới, phát hành trái khoán, đầu cơ chứng khoán...
152

- Thế lực tư bản tài chính
+ Về kinh tế: nắm các lĩnh vực quan trọng, các ngành then chốt.
+ Về chính trị: chi phối mọi đường lối đối nội và đối ngoại.
c. Xuất khẩu tư bản
* Bản chất của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước
ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản.
* Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến do:
+ Trong một số ít nước phát triển đã tích lũy được một lượng tư bản lớn và nảy
sinh tình trạng “thừa tư bản”. “Thừa tư bản” được hiểu là tư bản không tìm được nơi
đầu tư có lợi nhuận cao ở trong nước.
+ Các nước lạc hậu thiếu vốn, kỹ thuật để phát triển.
* Các hình thức xuất khẩu tư bản
- Nếu xét về thức đầu tư:
+ Xuất khẩu tư bản trực tiếp: đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận cao.
+ Xuất khẩu tư bản gián tiếp: cho vay để thu lợi tức.
Nếu xét theo chủ thể sở hữu:
+ Xuất khẩu tư bản nhà nước: nhà nước tư sản đầu tư vào nước nhập khẩu tư
bản hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại nhằm các mục tiêu:
Kinh tế: hướng vào các ngành kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho
đầu tư tư nhân.
Chính trị: cứu vãn chế độ chính trị “thân cận”, hoặc tạo ra mối quan hệ phụ
thuộc lâu dài.
Quân sự: lôi kéo các nước phụ thuộc vào các khối quân sự...
+ Xuất khẩu tư bản tư nhân: là hình thức xuất khẩu tư bản do tư nhân đảm
nhận, chủ yếu là hình thức hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia.
* Chiều hướng xuất khẩu tư bản: chủ yếu từ các nước phát triển sang các nước
kém phát triển.
* Tác động 2 mặt của xuất khẩu tư bản:
153

- Một mặt:
+ Làm cho QHSX TBCN phát triển và mở rộng ra trên địa bàn quốc tế.
+ Thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động và quốc tế hóa đời sống kinh tế
của nhiều nước.
+ Làm cho quá trình CNH, HĐH ở các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh
chóng.
- Mặt khác: xuất khẩu tư bản đã để lại trong các quốc gia nhập khẩu tư bản
những hậu quả nặng nề như:
+ Nền kinh tế phát triển mất cân đối và lệ thuộc.
+ Nợ nần chồng chất do bị bóc lột nặng nề.
d. Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế
* Nguyên nhân dẫn đến sự phân chia thế giới về kinh tế: Quá trình tích tụ và tập
trung tư bản phát triển, xuất khẩu tư bản ngày càng tăng lên cả qui mô và phạm vi.
* Thực chất sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc
tế là phân chia lĩnh vực đầu tư tư bản, phân chia thị trường thế giới.
* Kết quả phân chia: thoả hiệp, ký kết các hiệp định để củng cố địa vị độc
quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định ® hình thành
nên các liên minh độc quyền quốc tế.
e. Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc (cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20)
- Bản chất của phân chia lãnh thổ thế giới (hay còn gọi là phân chia chính trị) là
thực hiện chủ nghĩa thực dân, hình thành hệ thống thuộc địa. Ngoài ra còn có hình
thức mà Lênin gọi là hình thức quá độ, đó là tạo ra sự phụ thuộc về tài chính…
- Các cường quốc đế quốc ra sức xâm chiếm các nước chậm phát triển để làm
thuộc địa nhằm giành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nguồn nguyên liệu, nơi đầu tư có
lợi và căn cứ quân sự.
3. Sự hoạt động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong giai
đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
a. Quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh trong giai đoạn CNTB độc quyền

154

Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, độc quyền đối lập với cạnh tranh tự do.
Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu được cạnh tranh, trái lại nó còn làm
cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt và có sức phá hoại to lớn hơn.
Trong giai đoạn CNTBĐQ, không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa những người
sản xuất nhỏ, giữa những nhà tư bản vừa và nhỏ như trong giai đoạn CNTB cạnh tranh
tự do, mà còn có thêm các loại cạnh tranh sau :
- Một là, cạnh tranh giữa những tổ chức độc quyền với xí nghiệp ngoài độc
quyền.
- Hai là,cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau.
- Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền
b. Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư
trong giai đoạn CNTB độc quyền(tr197-SGK)
II. CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
1. Nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà
nước
a. Nguyên nhân ra đời của CNTB độc quyền nhà nước
- Tích tụ, tập trung tư bản phát triển đã tạo ra những cơ cấu kinh tế quy mô lớn,
đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối từ một trung tâm ® đòi
hỏi sự tham gia của nhà nước tư sản.
- Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, mà trước hết là phân công lao động
xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư nhân không thể
hoặc không muốn kinh doanh ® đòi hỏi sự tham gia của nhà nước tư sản.
- Xuất hiện những mâu thuẫn trong CNTB: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với
giai cấp vô sản và nhân dân lao động, mâu thuẫn giữa các nước tư bản với các nước
thuộc địa và phụ thuộc, mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền với nhau, mâu thuẫn
giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinh doanh vừa và nhỏ, mâu thuẫn giữa các
nước tư bản với nhau ngày càng trở nên gay gắt ® đòi hỏi cần có sự điều tiết, can
thiệp của nhà nước tư sản.
- Sự mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại đòi hỏi nhà nước phải đứng ra bảo
hộ, tạo môi trường quốc tế hỗ trợ tư bản tư nhân.
155

b. Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
- CNTB độc quyền nhà nước vẫn là CNTB, chịu sự chi phối của qui luật giá trị
thặng dư.
- CNTB độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển mới của CNTB độc
quyền (so với CNTB độc quyền thời kỳ đầu).
- Đặc điểm nổi bật của CNTB độc quyền nhà nước: là sự can thiệp, điều tiết của
nhà nước về kinh tế.
- Bản chất:
+ CNTB độc quyền nhà nước không phải là 1 chế độ kinh tế mới so với CNTB,
lại càng không phải là chế độ tư bản mới so với CNTB độc quyền.
+ CNTB độc quyền nhà nước chỉ là CNTB độc quyền có sự can thiệp, điều tiết
của nhà nước về kinh tế, là sự kết hợp sức mạnh của tư bản độc quyền với sức mạnh
của nhà nước về kinh tế.
+ CNTB độc quyền nhà nước là hình thức vận động mới của QHSX TBCN
nhằm: làm cho quan hệ sản xuất TBCN thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của
LLSX do cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tạo ra, duy trì sự tồn tại của CNTB,
làm cho CNTB thích nghi với điều kiện lịch sử mới; làm giàu cho các tổ chức độc
quyền
2. Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước
a. Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và Nhà nước tư sản
+ Về kinh tế: thường xuất hiện dưới hình thức “liên minh giới chủ”.
+ Về chính trị: thường xuất hiện dưới hình thức các đảng phái chính trị như
đảng dân chủ, đảng cộng hòa.
b. Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước
+ Sở hữu nhà nước không những tăng lên mà mối quan hệ giữa sở hữu nhà
nước và sở hữu độc quyền tư nhân ngày càng được tăng cường.
+ Sở hữu nhà nước hình thành dưới những hình thức sau đây:
• Xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách.
• Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại.
• Nhà nước mua cổ phiếu của các doanh nghiệp tư nhân.
156

• Mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư
nhân…
c. Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khác
nhau như pháp luật, giá cả, thuế khoá, tài chính - tiền tệ, ngân hàng, phát triển các xí
nghiệp nhà nước.
- Hệ thống điều kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả 3 cơ chế: thị trường, độc
quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt
tiêu cực của từng cơ chế. Xét đến cùng, về bản chất hệ thống điều tiết đó phục vụ cho
CNTB độc quyền.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VAI TRÒ VÀ GIỚI HẠN LỊCH SỬ CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
1. Vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản xuất xã
hội
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất
- Phát triển LLSX, tăng NSLĐ xã hội
- Chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại.
Tuy nhiên, những thành tựu mà CNTB đạt được trong sự vận động đầy mâu
thuẫn. Điều đó biểu hiện ở 2 xu hướng trái ngược nhau: xu thế phát triển nhanh chóng
và xu thế trì trệ của nền kinh tế.
2. Giới hạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản
Đó là : mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hóa cao của LLSX với chế
độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX. Mâu thuẫn cơ bản này được biểu hiện ra thành
những mâu thuẫn cụ thể sau:
- Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động: sự phân cực giàu – nghèo và tình trạng bất
công trong xã hội tăng lên
- Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc.
Ngày nay mâu thuẫn này đang chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển
bị lệ thuộc vào những nước đế quốc.

157

- Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau, chủ yếu là giữa 3 trung
tâm kinh tế, chính trị hàng đầu của thế giới tư bản, giữa các tập đoàn tư bản xuyên
quốc gia
- Mâu thuẫn giữa CNTB và CNXH. Đây là mâu thuẫn xuyên suốt trong thời đại
quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
3. Xu hướng vận động của CNTB
- Ngày nay CNTB hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học, công nghệ, thị
trường, đang có khả năng thích nghi và phát triển trong chừng mực nhất định. CNTB
đã buộc phải thực hiện điều chỉnh một số giới hạn về quan hệ sản xuất, trong khuôn
khổ của CNTB song không thể vượt qua được giới hạn lịch sử của nó.
Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và
quyết định con đường phát triển tiến bộ của mình.
[ Sớm hay muộn thì CNTB cũng sẽ bị thay thế bằng một chế độ mới cao hơn
– xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là CNXH.

158

Phần thứ ba
LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trên cơ sở học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc
biệt là học thuyết giá trị thặng dư, “Mác đã hoàn toàn dựa vào và chỉ dựa vào những
quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội tư bản
chủ nghĩa nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội xã hội chủ nghĩa. Việc xã hội
hóa lao động, ngày càng tiến nhanh thêm dưới muôn vàn hình thức ..., đã biểu hiện đặc
biệt rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp, ..., đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho
sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội. Động lực trí tuệ và tinh thần của
sự chuyển biến đó, lực lượng thể chất thi hành sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản,
giai cấp đã được bản thân chủ nghĩa tư bản rèn luyện. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô
sản chống giai cấp tư sản, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và nội dung của
những hình thức này ngày càng phong phú, - nhất định biến thành một cuộc đấu tranh
chính trị của giai cấp vô sản nhằm giành chính quyền (“chuyên chính vô sản”)”. (V.I.
Lênin: Toàn tập, Tập 26, Nxb. Tiến bộ, M-1981, tr.86-87).
Như vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết kinh tế về phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa cùng với bộ phận lý luận triết học là những cơ sở lý luận tất yếu
và trực tiếp của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã
hội. Bởi vậy, theo nghĩa rộng chủ nghĩa xã hội khoa học chính là chủ nghĩa MácLênin, còn theo nghĩa hẹp thì nó là một bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa MácLênin - bộ phận lý luận về chủ nghĩa xã hội, đó là bộ phận lý luận nghiên cứu làm
sáng tỏ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tính tất yếu và nội dung của
cách mạng xã hội chủ nghĩa; quá trình hình thành và phát triển của hình thái kinh tế-xã
hội cộng sản chủ nghĩa; quy luật và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản.

159

Chương VII
SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÁCH MẠNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA
I. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1. Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó
a. Khái niệm giai cấp công nhân
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã dùng nhiều thuật ngữ để diễn
đạt về khái niệm GCCN như: GCVS, GCVS hiện đại, GCCN, GCCN hiện đại, GCCN
đại công nghiệp, giai cấp lao động…
Tuy dùng nhiều thuật ngữ khác nhau, song về cơ bản vẫn thống nhất trong tư
tưởng của các ông về một giai cấp những người lao động trong CNTB. Sở dĩ các ông
dùng nhiều thuật ngữ khác nhau như vậy là do căn cứ vào hai tính chất sau:
Một là , các giai đoạn phát triển của nền công nghiệp TBCN như: thời kỳ công
trường thủ công hay thời kỳ đại công nghiệp cơ khí.
Hai là , sự phân biệt theo tính chất nghề nghiệp như: Công nhân dệt, công nhân
cơ khí, công nhân mỏ.
Qua đó các ông đã đưa ra những quan niệm của mình về giai cấp công nhân
như sau:
- “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì bị mất các
tư liệu của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”(1).
- “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán
lao động của mình chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào,
đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ
đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu
của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản
nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao
động trong thế kỷ XIX”(2).

160

“Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử
dụng công cụ của mình còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy
móc”(3).
Từ quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen chúng ta thấy rằng, ở giai cấp công
nhân có hai tiêu chí cơ bản để phân biệt với các giai cấp, tầng lớp khác trong XH đó là:
- Về phương thức lao động, phương thức sản xuất: họ là những người trực tiếp
hay gián tiếp vận hành, sử dụng các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày
càng hiện đại và có tính xã hội hóa cao.
VD. Trực tiếp vận hành: Người đứng máy, trực tiếp điều khiển và sửa chữa các
thiết bị.
Gián tiếp vận hành: Người quản lý, đốc công, đội trưởng.
- Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: họ là những người lao động
không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc
lột giá trị thặng dư.
Hiện nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thì giai cấp công nhân cũng có
những biến đổi khác trước ở một số phương diện như: cơ cấu ngành nghề; trình độ kỹ
thuật; trình độ tri thức; vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa... Tuy nhiên,
những sự thay đổi ấy không làm biến mất 2 tiêu chí cơ bản mà C.Mác và Ph.Ăngghen
đã vạch ra từ thế kỷ XIX. Bản chất của giai cấp công nhân không hề thay đổi trong chủ
nghĩa tư bản, họ vẫn là những người lao động làm thuê, chịu sự bóc lột giá trị thặng dư
của nhà tư bản. Bởi vì, về cơ bản toàn bộ tư liệu sản xuất quan trọng nhất, quyết định
nhất đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản.
* Định nghĩa giai cấp công nhân
Trong điều kiện thời đại ngày nay, do sự phát triển của cuộc CM KHCN, và
những biến động mạnh mẽ về KT, CT, XH…Điều đó, đã tác động sâu sắc đến sự biến
đổi về: cơ cấu, số lượng, chất lượng, nghành nghề, phương thức và phong cách lao
động cũng như năng lực trí tuệ…của GCCN. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục khẳng
định những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về GCCN, thì chúng ta cần
phải nhận thức rõ ràng hơn về những tiêu chí mới của giai cấp này. Và sẽ không thể
đưa ra một định nghĩa về GCCN một cách khoa học, nếu như không đổi mới nhận thức
161

về việc nhìn nhận, đánh giá GCCN và sự phát triển nói chung.
Căn cứ vào 2 tiêu chí cơ bản trên, đồng thời xuất phát từ việc tổng kết thực tiễn
về sự phát triển của giai cấp công nhân hiện nay, chúng ta định nghĩa về giai cấp công
nhân như sau:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của
lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ
bản tiên tiến, trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra
của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch
sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. ở các nước tư bản, giai cấp công
nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê
cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội
chủ nghĩa, họ là người đã cùng với nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất
chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi
ích chính đáng của bản thân họ.
Như vầy chúng ta vừa tìm hiểu định nghĩa GCCN, định nghĩa này còn một số
hạn chế là chưa làm rõ đựơc tính phức tạp của cơ cấu GCCN trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, cũng như thực tế bộ phân công nhân ngoài quốc doanh còn bị bị bóc
lột. Song định nghĩa này đã nêu lên được tính hiện đại của GCCN do gắn liền với nền
sản xuất công nghiệp hiện đại, GCCN là động lực chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ
từ CNTB lên CNXH.
b. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Thế nào là sứ mệnh lịch sử của một giai cấp?
- SMLS của một giai cấp là toàn bộ nhiệm vụ mà lịch sử giao phó cho một giai
cấp nào đó, để thực hiện sự chuyển biến của cách mạng từ một HTKT-XH này sang
một HTKT-XH khác cao hơn.
- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: là xóa bỏ chế độ tư
bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu,
xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
162