Tải bản đầy đủ
II. Phương pháp thoả thuận bình đẳng

II. Phương pháp thoả thuận bình đẳng

Tải bản đầy đủ

thể tham gia các quan hệ pháp luật Lao động và đâycũng là một phương pháp
được áp dụng chủ yếu, phổ biến trong lĩnh vực lao động.
- Thứ nhất phương pháp bình đẳng - thỏa thuận trong quan hệ lao động
thể hiện theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung, thực,
đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đảm bảo cho các bên cùng có lợi
trên cơ sở khả năng nhu cầu của mỗi bên.
+ Theo tự điển tiếng Việt: "thỏa thuận là việc đi tới sự đồng ý sau khi cân
nhắc thỏa thuận". Khoản 1 Điều 7 Bộ luật Lao động năm 2012 cũng có quy định
về sự thỏa thuận đó “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao
động với người sử dụng lao động xác lập qua đối thoại, thương lượng thỏa thuận
theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng hợp tác, toản tôn trọng quyền và
lợi ích hợp pháp của nhau”.
+ Hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể chính là một trong
những biểu hiện chính của phương pháp bình đẳng thỏa thuận trong lĩnh vực lao
động.
• Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và
người lao động về việc làm có trả lương, về điều kiện làm việc, quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động là căn cứ pháp lí để
hình thành quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động
trên cơ sở ý chí tự nguyện, tự do thỏa thuận. Các bên tham gia trong quan hệ
hợp đồng lao động không bị ép buộc hay có bất kì hành vi cưỡng chế của bên
kia hoặc bên thứ ba.
Tại điều 17 BLLĐ 2012 quy định:Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
“1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật,
thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.”

7

• Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao
động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt
được thông qua thương lượng tập thể.
Tại Điều 67, Nguyên tắc thương lượng tập thể quy định:
“1.Thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, bình
đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch.
2.Thương lượng tập thể được tiến hành định kì hoặc đột xuất
3. Thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm do hai bên thỏa
thuận.”
Thỏa ước lao động tập thể được giao kết thông qua đại diện của các bên
về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trên cơ sở tự nguyện bình đẳng, trung thực
nhưng không được trái với quy định của pháp luật.Hợp đồng lao động và thảo
ước lao động tập thể có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ giữa
cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và tập thể và đều trên cơ sở bình đẳng thỏa
thuận.
+ Ngoài ra nhiều chế định của luật Lao động như các chế định về việc
làm, học nghề, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thời giờ làm việc,
nghỉ ngơi, tiền lương, bồi thường thiệt hại giải quyết tranh chấp lao động… Đó
là biểu hiện quan hệ hợp tác giữ hai bên trên cơ sở thảo thuận cùng có lợi phát
sinh giữa các chủ thể trong quan hệ lao động.
+ Với phương pháp đảm bảo sự tôn trọng, bình đẳng thỏa thuận hợp tác
của các bên trong lĩnh vực lao động, pháp luật đã tạo ra điều kiện cho sự gắn bó
chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động; góp phần tạo nên sự
bình đẳng, cân bằng trong xã hội - một yêu cầu thiết yếu của một đất nước giàu
mạnh và phát triển.

8

Ví dụ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Số 10/2016/ HĐLĐ
Hôm nay, ngày 1 tháng 2 năm 2017 tại văn phòng giám đốc công ty
TNHH Thanh Hoa
Chúng tôi gồm:
Bên sử dụng lao động (Bên A)
1. Ông/Bà: Nguyễn Văn A
2. Chức vụ: Giám đốc công ty
3. Đại diện cho công ty TNHH dệt, may Thanh Hoa
4. Địa chỉ: 62 Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
5. Điện thoại: (03)8038386
Gmail: Thanhhoa@gmail.com
6. Tài khoản ngân hàng: 711AB354331445 ngân hàng viettinbank, chi
nhánh thành phố Vinh, Nghệ An.
Bên lao động (Bên B):
1. Ông/ bà: Lê Thị Nhàn
2. Sinh ngày: 14 tháng 8 năm 1996 TP Vinh, Nghệ An.
3. Địa chỉ thường trú: 23 Nguyễn Du, thành phố Vinh, Nghệ an.
4. Số CMTND: 124526366 cấp ngày 27/3/2010
5. Điện thoại: 016378917860
Gmail: lethinhan@gmail.com
6. Tài khoản ngân hàng: 711AB56788898 ngân hàng viettinbank, chi
nhánh thành phố Vinh, Nghê An.
Thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động và cam kết làm đúng những điều
khoản sau đây:
Điều 1: Công việc và địa điểm làm việc
1. Công việc, chức vụ:
- Chức vụ: Kiểm hàng (QC)
- Công việc phải làm:
+ Chuẩn bị các tài liệu và đáp ứng những yêu cầu của khách hàng liên
9

quan đến vấn đề chất lượng hàng hoá
+ Hỗ trợ kiểm tra hàng hoá gia công bao gồm tất các công đoạn và
nguyên phụ kiện theo yêu cầu của từng khách hàng
+ Đánh giá chất lượng và kĩ thuật may đáp ứng tiêu chuẩn và quy cách
của khách hàng
+ Kiểm tra và chuẩn bị mẫu sản xuất và mẫu đầu chuyền
+ Thực hiện đánh giá trên chuyền và đánh giá cuối cùng trước khi xuất
hàng bao gồm đánh giá bằng mắt thường và thông số
2. Địa điểm, thời gian làm việc
- Địa điểm: Chuyền B, Bộ phận kiểm hàng, Xưởng I, Khu nhà B
- Thời gian: theo ca, 8 tiếng 1 ngày.
Điều 2: Thời hạn của hợp đồng lao động
Ông (bà): Lê Thị Hoa làm việc theo loại hợp đồng lao động 24 tháng.
Từ ngày 1 tháng 2 năm 2017 đến ngày 31 tháng 1 năm 2019.
Điều 3: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1. Thời giờ làm việc:
+ Trong ngày 8h/ngày - sáng từ 7h30 đến 11h30, chiều từ 13h30 đến
17h30.
+ Trong tuần: 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7.
2. Thời giờ nghỉ ngơi.
Nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ việc riêng theo quy định của bộ luật
Lao động.
Điều 4: Nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động được hưởng như
sau:
1. Quyền lợi.
- Mức lương chính:
4000.000 đồng/ tháng
- Phụ cấp:
+ Chuyên cần:
200.000đồng / tháng
+ Xăng xe:
300.000 đồng/ tháng
+ Nhà ở:
700.000 đồng/ tháng
- Tiền thưởng lễ tết: được hưởng theo quy định chế lương hưởng
chung của toàn công ty.
- Hình thức trả lương theo thời gian.
10

- Được trả lương vào ngày cuối tháng.
- Chế độ nâng lương là một năm một lần căn cứ vào kết quả thực
hiện công việc của người lao động.
- Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp: được tham
gia theo quy định luật bảo hiểm về mức tham đóng và tỷ lệ đóng.
- Các khoản bổ sung, phúc lợi khác hằng năm người lao động được đi
tham quan du lịch nghỉ mát, quà sinh nhật theo quy định của công ty.
2.Nghĩa vụ
- Hoàn thành các công việc đã cam kết trong công ty.
- Chấp hành lệnh điều hành sản xuất kinh doanh, nội quy kỷ luật, an toàn
lao động và các quy định trong thỏa ước lao động tập thể.
- Trong công việc, chịu sự điều hành trực tiếp của quản lí.
Điều 5: Phương Thức trả lương:
Bên A trả tiền lương theo tháng cho bên B theo một trong phương thức
sau:
- Trả trực tiếp vào ngày 1 hàng tháng.
- Trả chuyển khoản theo tài khoản ngân hàng: 711AB56788898 ngân
hàng Viettinbank, chi nhánh thành phố Vinh, Nghệ An.
Điều 6: Nghĩa vụ và quyền hạn của người sử dụng lao động:
1. Nghĩa vụ:
- Thực hiện đầy đủ những điều kiện cần thiết đã cam kết trong hợp đồng
lao động để người lao động làm việc đạt hiệu quả. Đảm bảo việc làm cho người
lao động theo hợp đồng đã ký.
- Thanh toán đầy đủ, dứt điểm các chế độ và quyền lợi của người lao
động đã cam kết trong hợp đồng lao động.
2. Quyền hạn:
Có quyền điều chuyển tạm thời người lao động, tạm ngừng việc, thay đổi,
tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động và áp dụng các biện pháp kỷ luật theo
quy định của pháp luật Lao động.
Điều 7: Tranh chấp do vi phạm hợp đồng
- Các bên có nghĩa vụ thực hiện cam kết tại hợp đồng này, bên vi phạm
hợp đồng phái bồi thường thiệt hại cho bên kia
- Tất cả các tranh chấp về hợp đồng được giải quyết thông qua thỏa thuận
11

trực tiếp. Nếu thỏa thuận không đạt được kết quả thì giải quyết tại tòa án.
...........................( còn 1 số điều nữa..).
Điều 13: điều khoản thi hành.
Hợp đồng lao động có hiệu lựctừ ngày kí
Hợp đồng lao động gồm 2 trang và làm thành 02 bản:
- 01 bản do người lao động giữ.
- 01 bản do người sử dụng lao động giữ.
Người lao động
(ký tên)

Người sử dụng lao động
(ký tên, đóng dấu)

 Vậy: Trong ví dụ trên thì hai bên đã tự nguyện thỏa thuận những nội
trong hợp đồng dựa trên nhu cầu cần việc làm của bà Lê Thị Nhàn và sử dụng
lao động của công ty Thanh Hoa.
- Phương pháp bình đẳng thỏa thuận được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực
lao động nhằm tạo điều kiện để xác lập quan hệ lao động các bên, đảm bảo thực
hiện quan hệ lao động đó, đồng thời hạn chế sự xung đột của các bên tham gia.
+ Trước yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, khi xã hội phát
triển kéo theo nhu cầu thiết yếu của con người được nâng cao. Người lao động
và người sử dụng lao động đều muốn lợi ích về phía mình nhiều hơn có thể dẫn
đến các xung đột về lợi ích, trong khi thị trường lao động lại ngày một đa dạng.
Trước nhu cầu đó đương nhiên phát sinh sự trao đổi, thỏa thuận hợp pháp giữa
các bên.
+ Trong thực tế cho thấy người lao động khó có điều kiện thỏa thuận bình
đẳng thực sự với bên sử dụng lao động như yêu cầu của thị trường. Vì thế, ngay
từ những năm đầu phát triển nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà Nước ta đã xác
định cần thiết phải tạo ra sự thỏa thuận bình đẳng trong các quan hệ pháp luật,
đặc biệt là quan hệ lao động.
+ Bên cạnh đó pháp luật không thể dự liệu để quy định hết trong luật,
Luật Lao động cũng không dự liệu hết được như quyền và nghĩa vụ cụ thể, chi
12

tiết đối với các bên trong quan hệ lao động. Thay vào đó, những quy định có
tính chất chung định hướng, định khung vừa đáp ứng yêu cầu chung của sự điều
chỉnh pháp luật, vừa tạo điều kiện cho các bên tự do cạnh tranh trên thị trường.
Do đó, khi xác lập quan hệ lao động các bên phải căn cứ vào những quy định
chung của pháp luật, căn cứ vào tương quan điều kiện của mình để thỏa mãn với
bên kia các quyền và nghĩa vụ cụ thể. Pháp luật Lao động phải đảm bảo cho các
bên có quyền tự do thỏa thuận vì điều đó không chỉ là nhu cầu của các bên mà
còn hợp thành cơ chế điều chỉnh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường.
 Ví dụ: Ở ví dụ nếu như trong quá trình làm việc chị Nhàn bận công
việc nên nghỉ, chị Nhàn đã nhờ chị Hà ở chuyền khác đến kiểm hàng thay cho
mình và chị Hà đã làm hỏng máy kiểm hàng, máy kiểm hàng đó thuộc trách
nhiệm quản lí của chị Nhàn. Khi đó sẽ phát sinh sự thỏa thuận giữa chị Nhàn,
chị Hà và đại diện công ty để giải quyết vấn đề trên.
+ Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học luật Lao động và nhận
thức mới về hàng hóa sức lao động, hầu hết các nước đều có những thay đổi
nhất định trong quan niệm về sự thỏa thuận giữa các bên tham gia thị trường.Họ
có thể thỏa thuận lại nếu như thấy nội dung đã xác định ban đầu không còn phù
hợp như sửa đổi, bổ sung hợp đồng (Điều 35 BLLĐ). Nếu một bên gây thiệt hại
cho bên kia, họ cũng có thể thỏa thuận về vấn đề bồi thường. Khi có tranh chấp,
việc thỏa thuận giải quyết thông qua thương lượng hòa giải là những cơ chế
dược ưu tiên áp dụng và được các cơ quan có thẩm quyền tôn trọng.
 Ví dụ: Trong ví dụ trên trường hợp sau một thời gian làm việc 2 bên
cảm thấy các điều khoản về thời gian làm việc không còn phù hợp với nhu cầu
của mình họ có thể thay đổi như: Tại khoản 2 Điều1 có quy định: Thời gian làm
việc là theo ca, 8 tiếng 1 ngày.Nhưng khi công việc nhiều đòi hỏi phải làm thêm
giờ hoặc chị Lê Thị Nhàn có nhu cầu làm thêm giờ thì 2 bên có thể thỏa thuận
lại trên nguyên tắc tự do thỏa thuận.
- Trong quan hệ lao động, người lao động luôn ở vị thế yếu hơn so với
người sử dụng lao động. Họ có những sự phụ thuộc nhất định vào người sử dụng

13

lao động cả về mặt kinh tế và pháp lí.Nên pháp luật Lao động thường có những
quy định ở mức độ nhất định can thiệt vào sự thỏa thuận của các bên.
+ Người sử dụng lao động nắm trong tay tư liệu về sản xuất - một trong
các yếu tố quan trọng và cũng là điều tiên quyết để tạo ra công ăn việc làm. Vì
vậy, họ có thể đưa ra các nội quy, quy định về thời gian làm việc, tiền lương,
tăng ca, phụ cấp, các quyết định tuyển dụng, sa thải, điều chuyển… có thể dẫn
đến sự lạm dụng quyền hạn của mình ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của người
lao động. Vì thế, để đảm bảo công bằng nhà nước cần có các quy định để bảo vệ
cho người lao động, hạn chế sự lạm dụng quyền hạn của người sử dụng lao động
như: quy định về trả lương (Điều 90 BLLĐ), quy định về thời giờ làm việc (thời
giờ làm việc bình thường Điều 104, giờ làm việc ban đêm Điều 105, làm thêm
giờ Điều106, làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt Điều 107 BLLĐ...),
thời gian nghỉ ngơi (điều 108, 109, 110, 111, 112,113BLLĐ), ….
+ Người lao động luôn phải chịu sự tác động sức ép mất việc làm, thất
nghiệp… Tuy nhiên, sự bóc lột sức lao động đã khiến họ liên kết lại thành tập
thể lao động đứng ra thỏa thuận với người sử dụng lao động trên nguyên tắc
bình đẳng và tôn trọng bảo vệ của nhà nước thông qua chế định thoả ước lao
động tập thể.Ở Việt Nam, thỏa ước lao động tập thể chính thức được ghi nhận
lần đầu tiên trong bộ luật Lao động năm 1952, cùng với sự phát triển kinh tế thị
trường, thỏa ước lao động tập thể dần được hoàn thiện hơn, và hiện nay được
quy định tại điều 73 BLLD.
+ Tuy nhiên, không phải trường hợp nào hai bên cũng có thể thỏa thuận
với nhau. Vậy nên các chính sách của nhà nước như việc kiểm tra, thanh tra của
nhà nước ngày càng cần bình đẳng hơn. Vì vậy phải căn cứ vào thỏa thuận hợp
pháp của các bên để đảm bảo và giải quyết quyền lợi cho họ.
Ví dụ: Nhằm đảm bảo lợi ích tối ưu cho công ty, công ty đã ghi điều
khoản:”Trong thời gian 3 năm kể từ ngày hợp đồng lao động được ký kết, lao
động nữ không được mang thai, nếu vi phạm sẽ bị chấm dứt hợp đồng lao
động”. Và làm được 1 năm thì chị Hà có thai và công ty áp dụng điều khoản đó
14

để chấm dứt hợp đồng với chị .Tuy nhiên, thỏa thuận trên bị vô hiệu, không hợp
lí và người lao động nữ mang thai trong thời gian trên vẫn không bị người sử
dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Bởi khoản 3 điều 155 Bộ luật Lao động 2012 quy định:” Người sử dụng lao
động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với
lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng
tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao
động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động”
Từ việc phân tích đó thì phương pháp tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp
của các bên trong lĩnh vực lao động hình thành đã đóng góp phần không nhỏ vào
việc bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động cũng
như người sử dụng lao động tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài
hòa ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc
và lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt được năng suất chất
lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất dịch vụ, hiệu quả trong quản lý
và sử dụng lao động.
III. Sự khác biệt của phương pháp thỏa thuận trong luật Lao động
với các ngành luật khác
Phương pháp thoả thuận do Luật Lao động điều chỉnh cũng có những
điểm khác với phương pháp thoả thuận trong các ngành luật có liên quan như
Luật Dân sự, Luật thương mại
1. Phương pháp thỏa thuận trong Luật Dân sự.
Theo khoản 1 Điều 3 bộ luật dân sự 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều
bình đẳng, không được lấy bất cứ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật
bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
Trong quan hệ dân sự các chủ thể đều hướng tới quan hệ tài sản.Bởi vì
phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự có đặc điểm đặc trưng là khi điều chỉnh

15

các quan hệ pháp luật dân sự thì luôn đảm bảo sự bình đẳng về địa vị pháp lý và
độc lập về tổ chức và tài sản.
+ Bình đẳng về địa vị pháp lý: Tức là không có bất kỳ sự phân biệt nào về
địa vị xã hội, tình trạng tài sản, giới tính, dân tộc... giữa các chủ thể.
+ Độc lập về tổ chức và tài sản:
Tổ chức: Không có sự phụ thuộc vào quan hệ cấp trên - cấp dưới, các
quan hệ hành chính khác.
Tài sản: Khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân, tổ chức hoàn
toàn độc lập với nhau, không có sự nhầm lẫn hay đánh đồng giữa tài sản của cá
nhân với tài sản của tổ chức...
+ Các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có quyền tự định đoạt và
pháp luật bảo đảm cho họ thực hiện quyền. Tự định đoạt là tự do ý chí và thể
hiện ý chí khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Biểu hiện của quyền
tự định đoạt trong quan hệ pháp luật dân sự là:
Thứ nhất: Chủ thể tự lựa chọn quan hệ mà họ muốn tham gia.
Thứ hai: Chủ thể tự lựa chọn chủ thể tham gia quan hệ dân sự với mình.
Thứ ba: Được tự do lựa chọn biện pháp, cách thức để thực hiện, quyền và
nghĩa vụ: Biện pháp và cách thức là những phương thức mà các bên sử dụng để
thực hiện nghĩa vụ của mình cho bên có quyền.
Thứ tư: Các chủ thể tự lựa chọn và thỏa thuận với nhau các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, cách thức xử lý tài sản khi có sự vi phạm.
2. Phương pháp thỏa thuận trong Luật Thương Mại
- Điều 11 Luật Thương mại 2005 quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện
thoả thuận trong hoạt động thương mại:
1. Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của
pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các
quyền đó.

16

2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên
nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào
- Các thương nhân hoặc các chủ thể khác tham gia các quan hệ thương
mại đều là những thực thể độc lập bình đẳng với nhau về tổ chức và tài sản
không có quan hệ phụ thuộc trên dưới.Chính yếu tố này làm cho các thực thể
phải thỏa thuận với nhau cùng có lợi. Vì nhu cầu lợi ích riêng của mình, họ phải
tự định đoạt tự do cam kết, thỏa thuận để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ
của mình. Nhưng lẽ tất nhiên là sự tự định đoạt tự do cam kết thỏa thuận không
trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Không vi phạm các điều cấm và
quyền lợi của người thứ 3.
- Trong quan hệ pháp luật thương mại, các thương nhân tự mình xác lập
quan hệ thông qua hợp đồng thương mại và để đảm bảo đôi bên cùng có lợi,
pháp luật cho phép các bên tư do thỏa thuận những điều khoản nội dung của hợp
đồng hình thức, phương thức giải quyết tranh chấp...
Tóm lại
Trong lĩnh vực dân sự và thương mại mục tiêu các chủ thể quan tâm
hướng đến khi tham gia quan hệ là tài sản. Vì thế để đảm bảo thoả mãn được
mục tiêu đó thì các chủ thể đều phải bình đẳng về địa vị pháp lý không có sự
phân biệt và độc lập về tài sản. Vì vậy, phương pháp bình đẳng thoả thuận trong
lĩnh vực dân sự và thương mại được sử dụng triệt để, chúng tác động lên các
quan hệ dân sự, thương mại trong suốt quá trình từ khi xác lập đến khi chấm
dứt: Khi bắt đầu tham gia quan hệ các chủ thể luôn bình đẳng với nhau về địa vị
pháp lý,cùng nhau thỏa thuận và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và
trong quá trình thực hiện nếu có mâu thuẫn xảy ra giữa các bên thì họ có quyền
thoả thuận để đưa ra phương thức giải quyết cho phù hợp.
Còn trong quan hệ lao động thì các chủ thể tham gia quan hệ một bên là
người sử dụng lao động có nhu cầu việc làm, một bên là người lao tham gia
quan hệ lao động với mong muốn là tìm kiếm thu nhập. Người sử dụng lao động
17