Tải bản đầy đủ
Thế nào là chuyển giao công nghệ? phân tích các tác dụng của chuyển giao công nghệ. Để tiến hành có hiệu quả việc chuyển giao công nghệ ở nước ta cần quan tâm đến những vấn đề gì

Thế nào là chuyển giao công nghệ? phân tích các tác dụng của chuyển giao công nghệ. Để tiến hành có hiệu quả việc chuyển giao công nghệ ở nước ta cần quan tâm đến những vấn đề gì

Tải bản đầy đủ

chuyển giao công nghệ. Để tiến hành có hiệu quả việc chuyển giao
công nghệ ở nớc ta cần quan tâm đến những vấn đề gì
* Bả chất chuyển giao công nghệ:
Cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đã và đang đóng
góp vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hoá trong tất cả các quốc gia, nhất là những nớc có nền kinh
tế kém phát triển.
Tuy nhiên việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở
các nớc khác nhau lại không giống nhau:
Có những nớc tiến hành cuộc cách mạng công nghệ từ việc
nghiên cứu cơ bản rồi tiến hành chế tạo và trang bị cho nền kinh tế
quốc dân. Cách tiến hành nh vậy đòi hỏi phải có một thời gian dài,
phải có một nguồn vốn lớn và phải có một tiềm lực khoa học kỹ thuật
tơng ứng nhng đồng thời trên thế giới đã có rất nhiều nớc lại tiến hành
cuộc cách mạng khoa học công nghệ theo con đờng rút ngắn bằng
cách nhập công nghệ chuyển giao từ những nớc tiên tiến đi trớc.
ở nớc ta bớc vào thời kỳ quá độ tiến hành công nghiệp hoá từ
một xuất phát điểm rất thấp vì vậy đã đến nhu cầu là phải tăng tốc độ
công nghiệp hoá để trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế nhng cũng đồng
thời đặt ra một vấn đề phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu so với các nớc
trong khu vực và trên thế giới vì vậy nghị quyết đại hội đảng lần thứ 7
đã khẳng định rằng để đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế đồng
thời tránh đợc nguy cơ tụt hậu thì quá trình công nghiệp hoá phải gắn
liền với quá trình hiện đại hoá đồng thời quá trình công nghiệp hoá ở
nớc ta phải chuyển từ công nghiệp hoá đối nội (thay thế nhập khẩu)
sang công nghiệp hoá đối ngoại (công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu).
Để thực hiện mục đích của việc chuyển hớng công nghiệp hoá
cũng tại đại hội đảng 7 đảng ta nhấn mạnh ở nớc ta phải tiến hành lựa
chọn quy trình chuyển giao công nghệ từ các nớc tiên tiến để rút ngắn
thời gian công nghiệp hoá, phù hợp với nguồn lực hạn chế của nớc ta
nhng lại tránh đợc nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với khu vực và thế
giới.
Bản chất của chuyển giao công nghệ là việc đa công nghệ bao
gồm cả phần cứng (máy móc thiết bị ) và cả phần mềm (đó là quá
trình, phơng pháp công nghệ) từ một nớc này sang một nớc khác
làm thay đổi cả quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ đợc
122

chuyển giao. Thực chất của việc chuyển giao công nghệ chỉ có thể
tiến hành một cách hiệu quả và suôn sẻ khi ở nớc nhập khẩu công
nghệ đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu.
* Những tác dụng của chuyển giao công nghệ:
Việc tiến hành chuyển giao công nghệ là thực hiện mục đích rút
ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các quốc gia vì vậy
nó có những tác dụng cơ bản sau đây
- Giúp các nớc đi sau, những nớc kém phát triển rút ngắn đợc
khoảng cách tụt hậu về kinh tế kỹ thuật so với các nớc đi trớc và
các nớc tiên tiến.
- Nó cho phép khai thác và sử dụng một cách tối u các nguồn lực,
lợi thế của các quốc gia đi sau.
- Chuyển giao công nghệ đối với những quốc gia đang thực hiện
chiến lợc chuyển từ mô hình hớng nội sang hớng ngoại sẽ rút ngắn đợc khoảng cách mõ mẫn về công nghệ và sự thiếu hụt về nguồn lực
đồng thời cho phép sử dụng các nguồn lực hạn chế đó cho các mục
tiêu cần thiết hơn để thực hiện quá trình đi tắt đón đầu.
* Tuy vậy trong quá trình công nghiệp hoá gắn kết với việc
chuyển giao công nghệ ở nớc ta muốn đạt đợc hiệu quả kinh tế kỹ
thuật cao thì việt nam trớc hết cần phải xây dựng cho mình một chiến
lợc phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ quốc gia mang tính lâu
dài, bao gồm cả việc nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao.
Cần phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nớc để xây
dựng một phơng hớng chung cho việc chuyển giao công nghệ đó là
phải hình thành một cơ cấu kỹ thuật, công nghệ nhiều tầng, nhiều
trình độ, nhiều quy mô để trên cơ sở đó mà khai thác sử dụng phù hợp
với điều kiện của Việt nam.
Bên cạnh phơng hớng chung cần có một hệ thống các giải pháp
cụ thể:
+ Phải chọn giải pháp kỹ thuật, công nghệ phù hợp với điều kiện
của Việt nam để tiếp tục đầu t chiều sâu nhng trên cơ sở vẫn khai thác
và sử dụng đợc những cơ sở hiện có của nền kinh tế.
+ Cần phải cải tiến nâng cấp hiện đại hoá các kỹ thuật và công
nghệ truyền thống kết hợp với những công nghệ chuyển giao phục vụ
cho mục tiếu phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và công
nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn.
123

+ Phải tranh thủ những công nghệ tiên tiến đặc biệt là đối với các
dự án đầu t của nớc ngoài nhng cần phải kết hợp với việc giám định
nghiêm ngặt các thiết bị chuyển giao.
+ Cần đặt ra một cách nghiêm túc ngay từ đầu cho việc chuyển
giao công nghệ là phải gắn với việc bảo vệ môi trờng sinh thái của
Việt nam.
+ Để nhập công nghệ chuyển giao thì ở nớc ta cần phải gấp rút
nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia nhằm đổi mới và làm
chủ công nghệ chuyển giao
+ Cần phải đâu t bằng nhiều nguồn vốn cho sự nghiệp giáo dục
và đào tạo của quốc gia cũng nh chơng trình khoa học công nghệ của
nhà nớc, xem giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu.
5. Phân tích những điều kiện tiền đề để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. (quan trọng)
Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta đòi hỏi phải
tạo lập đợc những điều kiện tiền đề, hay nhng giải pháp có tính cơ bản
để giúp cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc tiến hành
một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Từ nghị quyết đại hội đảng 3 (1960) cho đến nay đảng ta đều
khẳng định và chỉ rõ những điều kiện tiền đề sau đây là hết sức cần
thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
- Tạo nguồn vốn cho công nghiệp hoá: muốn tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá bắt buộc phải có một nguồn vốn lớn. Nguồn
vốn đó ở nớc ta hình thành từ 2 luồng:
+ Nguồn vốn nội lực: đó là nguồn vốn đợc tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế. nguồn vốn này nhiều hay ít phụ thuộc và các nhân tố: trình độ
phát triển của nền kinh tế thông qua tốc độ tăng trởng phát triển kinh
tế, tỷ trọng phân chia sản phẩm thặng d của nền kinh tế cho tích luỹ
và cho tiêu dùng, phụ thuộc vào việc khai thác và sử dụng các nguồn
lực của nền kinh tế.
+ Nguồn vốn ngoại lực: nguồn vốn này đợc hình thành thông qua
việc phát triển các quan hệ kinh tế dới các hình thức nh viện tợ, đi
vay, đầu t quốc tế
Với điều kiện tiền đề là vốn đảng ta khẳng định nguồn vốn nội
lực trong nớc giữ vai trò quyết định cho sự thành công của công
124

nghiệp hoá và hiện đại hoá nớc ta, tuy vậy nguồn vốn ngoại lực lại có
một vai trò hết sức quan trọng đặc biệt ở giai đoạn đầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và cán
bộ quản ký kinh tế có trình độ cao phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc rất lớn vào
trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì vậy đòi hỏi phải đao tạo đợc một nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật ngày càng cao trong đó
bao gồm cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế và đặc biệt
là đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề.
Để thực hiện đợc mục tiêu này thì ở nớc ta từ đại hội đảng 7 cho
đến nay đảng ta luôn luôn nhấn mạnh chiên lợc con ngời ,
con ngời là nhân tố trung tâm của toàn bộ sự nghiệp phát triển kinh tế
mặt khác xác định giao dục, dào tạo là quốc sách hàng đầu không
ngừng đào tạo mới và đào tạo lại lực lợng lao động xã hội cho phù hợp
với yêu cầu của công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Nhà nớc tăng cờng đầu t để cử cán bộ đi đào tạo ở trong nớc, nớc
ngoài nhằm tạo ra những chuyên gia có trình độ quốc tế
+ Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội:
Muốn tiền hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì đòi hỏi phải có
một kết cấu hà tầng kinh tế kỹ thuật tơng ứng vì vậy đảng ta cho rằng
mục tiêu tổng quá cho chơng trình phát triển kết cầu hạ tầng là phải
đảm bảo sự giao lu thông suốt trong mọi tình huống trên tất cả các
tuyến giao thông huyết mạch của nền kinh tế, đảm bảo hệ thống điện
nớc, thông tin liên lạc và kết cấu hạ tầng có liên quan.
+ Làm tốt công tác điều tra thăm dò địa chất để xác định nguồn
lực, xây dựng chiến lợc công nghiệp hoá. Nớc ta tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá mặc dù xuất phải điểm rất thấp nhng chúng
ta có một thế mạnh là chúng ta có một nguồn lực tơng đối phong phú
đang dạng về tài nguyên thiên nhiên nằm rải rác ở khắp vùng lãnh thổ
đất nớc. Vì vậy để xây dụng chiến lợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
hiệu quả và hiện thực thì đòi hỏi phải làm tốt việc điều tra tham dò cơ
bản để xác định nguồn lực.
+ Phải đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng và vai trò
125

quản lý của nhà nớc. Nh đã phân tích sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của nớc ta hiện nay là sự nghiệp cao cả nhng đầy khó khăn
gắn liền với trách nhiệm của đảng, nhà nớc , nhân dân và tất cả các
thành phần kinh tế. Vì vậy để sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá
đạt đợc những thắng lợi thì đòi hỏi phải đẩy mạnh nâng cao năng lực
lãnh đạo của đảng trong việc xây dựng các chiến lợc, xác định các
mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thích ứng với từng thời
điểm lịch sử của nền kinh tế. Sự nghiệp công nghiệp hoá cũng gắn với
vai trò quản lý, điều hành của nhà nớc thông qua các chính sách kinh
tế xã hội và các công cụ quản lý vĩ mô.
Để thực hiện chức năng quản lý của nhà nớc thì đòi hỏi tất cả các
chính sách, công cụ quản lý của nhà nớc đều nhằm thực hiện các mục
tiêu quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là:
+ Định hớng xã hội chủ nghĩa cho quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc cụ thể là phải định hớng xây dựng một xã hội dân
giàu nớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
+ Cần phải lựa chọn các u tiên tạo nguồn hàng xuất khẩu và thu
hút các nguồn vốn đầu t nớc ngoài vào, phải u tiên xây dựng các cơ sở
hạ tầng vật chất xã hội phục vụ cho việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu,
phải u tiên cho những công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết
việc làm đáp ứng nh cầu xuất khẩu trong nớc
+ Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nớc phải đảm bảo cho
quá trình công nghiệp hoá, quá trình tăng trởng và phát triển kinh tế
bền vững của đất nớc và chỉ có trên cơ sở đó mới có thể rút ngắn đợc
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tránh đợc nguy cơ tụt hậu
của nền kinh tế so với khu vực và thế giới.
+ Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nớc phải đảm bảo cho cơ
chế thị trờng có điều kiện tác động một cách lành mạnh, đúng hớng
vào nền kinh tế.
Muốn vậy đòi hỏi nhà nớc ta phải có các chính sách về tài chính,
tiền tệ, về giá cả thơng mại một cách thích hợp tạo ra cơ chế và môi
trờng để cho tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế, tham gia vào
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát huy đợc sức mạnh của
mình từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
quan trọng:Đặc điểm phát triển kinh tế thời kỳ quá độ ở việt
126

nam
Kinh tế hàng hoá
Cơ chế kinh tế thị trờng.
Phân phối thu nhập

127

16-03-2003
Chơng XIV: Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam
Câu 1: Vì sao trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nớc ta cần
phát triển kinh tế hàng hoá. Ưu thế của kinh tế hàng hoá so với kinh tế
tự nhiên và kinh tế kế hoạch hoá tập trung là gì?
* Sự tất yếu khách quan cần phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt
nam trong thời kỳ quá độ:
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà tất cả
những vật phẩm do nó sản xuất ra là nhằm mục đích trao đổi mua bán
trên thị trờng.
Kinh tế hàng hoá hoàn toàn đối lập với nền kinh tế tự nhiên và
nền kinh tế chỉ huy kế hoạch hoá tập trung trớc đây. Cho đến nay tất
cả mọi quốc gia đều thừa nhận kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức
kinh tế tiến bộ, nó hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
ở nớc ta trong một thời gian rất dài nền kinh tế vận hành theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung vì vậy đã đối lập hoàn toàn với nền kinh tế
hàng hoá và đi tới xoá bổ kinh tế hàng hoá.
Từ nghị quyết đại hội lần 7 Đảng cho đến nay đảng ta đã khẳng
định rằng kinh tế hàng hoá hoàn toàn không đối lập với chủ nghĩa xã
hội mà nó là một hình kinh tế tiến bộ phù hợp với điều kiện và khả
năng phát triển của việt nam do đó đảng ta đã đa ra quan điểm gắn
quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với quá trình chuyển dịch
nền kinh tế từ một nền kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc vận hành
theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, sang nền kinh tế hàng hoá vận
hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc.
Phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt nam là một tất yếu không
những phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử mà nó càn là một tất
yếu để đa nớc ta vợt ra khỏi tình trạng suy thoái khủng hoảng kinh tế.
Nớc ta trong thời kỳ quá độ đã hội nhập đủ 2 điều kiện tiền đề
cho nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển đó là:
+ ở nớc ta trình độ phân công lao động xã hội ngày càng phát
triển vì vậy đã tạo ra rất nhiều ngành sản xuất, nhiều kĩnh vực kinh
doanh khác nhau vì thế tạo ra sự chuyên môn hóa ngày càng sâu trong
phân công lao động xã hội
128

+ Đồng thời ở nớc ta trong thời kỳ quá độ hiện nay đang tồn tại
một nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên sự đa dạng hóa về quan hệ
sở hữu do đó tất yếu sẽ dẫn đến sự tách biệt về kinh tế giữa các thành
phần kinh tế, giữa các chủ thể kinh tế.
Sự tất yếu đó còn bắt nguồn từ những khả năng về nguồn lực cho
phép việt nam phát triển ngày càng mạnh về kinh tế hàng hóa, đó là:
chúng ta có một lực lợng lao động đông đảo dễ đào tạo, nớc ta có một
nguồn tài nguyên và những điều kiện tự nhiên phong phú cho phép
phát triển kinh tế hàng hóa. Nớc ta lại có vị trí địa lý hoàn toàn thuận
lợi cho phép nớc ta phát triển kinh tế hàng hóa và mở rộng quan hệ
giao lu với các nớc trong khu vực và thế giới.
Từ tất cả những tất yếu nh đã phân tích có thể khẳng định rằng
việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nớc ta là một chủ trơng đúng đắn,
phù hợp với điều kiện thực tiễn của nền kinh tế việt nam đồng thời nó
cũng là một giải pháp tối u nhất để giúp nớc ta vợt ra khỏi tình trạng
của một nớc nghèo và kém phát triển.
* Ưu thế của kinh tế hàng hóa so với kinh tế tự nhiên và kinh tế
chỉ huy
Nếu so với kinh tế tự nhiên là một nền kinh tế còn in đậm dấu vết
trong lịch sử phát triển kinh tế của Việt nam từ trớc đến nay cũng nh
nền kinh tế chỉ huy kế hoạch hóa tập trung mà trong thời kỳ lịch sử
khá dài tồn tại ở nớc ta thì kinh tế hàng hóa có những u thế sau đây:
+ Kinh tế hàng hóa sẽ thúc đẩy quá trình xã hội hóa nền sản xuất
một cách nhanh chóng từ đó làm cho phân công lao động xã hội,
chuyên môn hóa ngày càng sâu xác từ đó hình thành nên những mối
quan hệ kinh tế vừa phụ thuộc vào nhau nhng lại tác động qua lại lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các thành thần kinh tế, giữa các chủ
thể trong tất cả nền kinh tế quốc dân.
+ Phát triển kinh tế hàng hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất từ đó tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao,
giá thành sản phẩm ngày càng hạ, chất lợng sản phẩm ngày càng tốt
và dẫn đến lợi ích ngời lao động ngày càng đợc cải thiện
+ Phát triển kinh tế hàng hóa sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ tập
trung sản xuất, từ đó cho phép mở rộng giao lu kinh tế trong nớc và
quốc tế -> cho phép việt nam tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
129

+ Phát triển kinh tế hàng hóa cho phép giải phóng các mối quan
hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền sản xuất nhỏ, khép kín.
Bên cạnh những mặt u thế của kinh tế hàng hóa nh đã phân tích
cũng cần phải nhận thức đợc rằng kinh tế hàng hóa trong quá trình
phát triển nó cũng bộc lộ rõ rất nhiều mặt hạn chế, khuyết tật, đó là:
- Kinh tế hàng hóa bao giờ cũng chạy theo mục tiêu doanh lợi
(lợi nhuận) vì vậy có thể dẫn đến sử dụng lãng phí những nguồn tài
nguyên thiên nhiên vốn là khan hiếm của đất nớc, rất dễ dẫn đến vi
phạm pháp luật của nhà nớc và tham gia vào việc làm phá hủy môi trờng sinh thái, gây ô nhiễm cho bầu khí quyển. Kinh tế hàng hóa cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn đến hình thành các tệ nạn của thị
trờng nh hàng giả trốn lậu thuế, buôn gian bán lận và tạo tra môi trờng
bất chính nh tham ô, tham những.
Câu 2: Phân tích đặc điểm kinh tế hàng hóa trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam (chú ý không nhầm lẫn với đặc điểm
kinh tế)
Nớc ta đang từng bớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua
phát triển t bản chủ nghĩa vì vậy phát triển kinh tế hàng hóa ở nớc ta
vận hành theo xu hớng gắn với những đặc điểm cơ bản sau đây:
Nghị quyết đại hội lần 7 của đảng cộng sản việt nam chỉ rõ nền
kinh tế hàng hóa ở nớc ta có 4 đặc điểm sau đây:
- Nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta đang trong quá trình vận động từ
một nền kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc sang mọt nền kinh tế
hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà
nớc.
Với đặc điểm này chỉ rõ nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta trong thời
kỳ quá độ hiện nay là một nền kinh tế hàng hóa kém phát triển nó bắt
đầu từ một xuất phát điểm hết sức thấp đó là một nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, kỹ thuật thủ công mang nặng tính bảo thủ trì trệ, phân
công lao động xã hội cha phát triển, thu nhập của dân c quá thấp do
đó sức mua của thị trờng không cao dẫn đến tình trạng sản xuất kinh
doanh trì trệ.
Cũng từ những đặc điểm này chỉ rõ cơ chế quản lý nền kinh tế
của nớc ta dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
trong một thời gian dài đã làm sơ cứng các mối liên hệ kinh tế. Các
130

quy luật kinh tế khách quan của kinh tế hàng hóa hoặc do ý chí chủ
quan của nhà nớc hoặc do sự kém hiểu biết nên đã bị thu hẹp phạm vi
hoạt động. Thị trờng là yếu tố gắn liền với kinh tế hàng hóa thì bị
chia cắt, một số loại hàng hóa có tính đặc biệt nh t liệu sản xuất, vật t
tiền vốn thì thông qua con đờng cung ứng trực tiếp nen đã làm mất
tính chất và ý nghĩa của việc sản xuất hàng hóa từ đó dẫn đến cơ chế
bao cấp tràn lan làm cho nguyên tắc hạch toán mang tính hình thức
không có hiệu quả.
- Nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta là một nền kinh tế nhiều thành
phần
Với đặc điểm này nó chỉ rõ có cơ sở khách quan của sự tồn tại và
phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta là dựa trên sự đa dạng hóa về
các hình thức sở hữu đối với t liệu sản xuất của các chủ thể.
Một nền kinh tế hàng hóa tồn tại nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trờng thì tất yếu sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp hết sức to
lớn giúp nớc ta vợt ra khỏi tình trạng thấp kém, đẩy nền kinh tế hàng
hóa nớc ta phát triển với trình độ ngày càng cao trong xu thế hội nhập.
Những một nền kinh tế hàng hóa do nhiều thành phần kinh tế
cùng tham gia cùng vì mục tiêu thu doanh lợi cùng khai thác các yếu
tố đầu vào trên cùng một phạm vi lãnh thổ, cùng tiêu thụ sản phẩm ở
đầu ra trên cùng một thị trờng thống nhất nên tất yếu sẽ dẫn đến môi
trờng cạnh tranh hết sức quyết liệt.
Để khắc phục những mặt hạn chế do sự tác động của nhiều thành
phần kinh tế cùng tham gia sản xuất hàng hóa thì đòi hỏi nhà nớc phải
thực hiện tốt vai tròn quản lý kinh tế xã hội bằng pháp luật, bằng kế
hoạch chính sách và các cộng cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Nhng
nhận thức đợc tính khách quan của việc tồn tại nhiều thành phần kinh
tế thì cũng đòi hỏi Đảng và nhà nớc cũng phải có một thái độ đúng
đắn trong việc khuyến khích sự phát triển các thành phần kinh tế theo
nguyên tác tự hiên và khách quan của nền kinh tế để huy động sức
mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc
- Nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta là nền kinh tế hàng hóa phát
triển theo hớng mở của hội nhập với bên ngoài.
ở nớc ta trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa đảng và
nhà nớc ra đã nhận thức đợc rằng một nền kinh tế khép kín thờng đặc
trng cho một nền kinh tế phong kiến lạc hậu, nó không khai thác đợc
131

những lợi thế so sánh của chính đất nớc mình cũng nh các đối tác kinh
tế ở bên ngoài vò vậy từ khi chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng
hóa thì ở nớc ta từng bớc phá vỡ quan hệ kinh tế truyền thống khép
kín và thực hiện phát triển nền kinh tế theo xu hớng mở cửa, hội nhập
với bên ngoài.
Từ kho nớc ta bớc vào thời kỳ đổi mới 1986 nhất là sau khi nớc
ta ban hành luật đầu t nớc ngoài ở việt nam (12/97) thì nền kinh tế nớc
ta đã thực hiện một chiến lợc mở cửa khá toàn diện nghị quyết đại hội
lần thức 7 của đảng, đảng ta đã khẳng định: Việt nam mong muốn đợc
làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới, Việt nam thực hiện gác
lại quá khứ để tiến đến tơng lai, thực hiện chiến lợc đa phơng hóa, đa
dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế nhằm thu hút nguồn vốn ngoại
lực, kỹ thuật công nghệ tiên tiến, trình độ tổ chức quản lý nền sản
xuất lớn của các nớc đi trớc và các nớc có nền kinh tế phát triển phục
vụ cho sự nghiệp tăng trởng phát triển kinh tế ở nớc ta.
Đến nghị quyết đại hội lần thứ 8 và 9 của đảng cộng sản việt
nam đứng trớc bối cảnh nền kinh tế toàn cầu, đảng ta một lần nữa lại
khẳng định việt nam cần phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế, Đại hội đảng 9 nhấn mạnh Việt nam sẵn sàng là đối
tác tin cậy của các quốc gia thực hiện mục tiêu hợp tác kinh tế cùng
có lợi với tất cả các quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế và các chủ
thể ở mọi quốc gia trên thế giới theo nguyên tắc bình đảng cùng có
lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau.
- Nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta phát triển theo định hớng xã hội
chủ nghĩa
Nền kinh tế hàng hóa ở nớc ta hoạt động theo sự điều tiết của cơ
chế thị trờng nhng lại phát triển theo con đờng định hớng xã hội chủ
nghĩa. Mục tiêu này đợc thể hiện rất rõ ở bản chất và vai trò kinh tế
của nhà nớc việt nam
Nhà nớc ta xét về mặt bản chất đó là nhà nớc của dân, do dân và
hoạt động vì hạnh phúc của nhân dân vì vậy trong quá trình quản lý và
điều tiết nền kinh tế hàng hóa nhà nớc phải có những công cụ và
chính sách ở tầm vĩ mô để hạn chế những mặt khuyết tật của nền kinh
tế hàng hóa và cơ chế thị trờng, đồng thời khai thác và phát huy những
mặt lợi thế tích cực của kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trờng để thúc
đẩy quá trình tăng trởng phát triển kinh tế, thực hiên các mục tiêu
132