Tải bản đầy đủ
PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

Khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng - an ninh, phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, người sử dụng đất được nhà nước
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. Luật quy định khá chi
tiết, chỉ những người sử dụng đất đáp ứng đủ các điều kiện luật định, mới được
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc
giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi
thường sẽ được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi. Giá
đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất như quy định cũ, mà áp dụng giá
đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Cơ
quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh tổ chức việc
xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp
tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định
giá đất cụ thể. Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập
thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu
đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác
định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất
xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định.
Trường hợp thứ nhất: Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an
ninh (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013). Mục đích quốc phòng an ninh bao
gồm các trường hợp sau đây: làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; xây dựng căn
cứ quân sự; xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc
biệt về quốc phòng, an ninh; xây dựng ga, cảng quân sự; xây dựng công trình
công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho
quốc phòng, an ninh; xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân; làm
trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; xây dựng cơ sở đào tạo,
trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;
xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng cơ sở giam
giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
Trường hợp thứ hai: Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích quốc gia, công cộng (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013) trong các
trường hợp sau đây: thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết
định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; thực hiện các dự án do Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: dự án
xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu đô

4

thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); dự án
xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, công trình di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng
trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; dự án
xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp
nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí
đốt, kho dự trữ quốc gia, công trình thu gom, xử lý chất thải.
Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải
thu hồi đất bao gồm: dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công
trình sự nghiệp công cấp địa phương; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật
của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông
tin liên lạc, chiếu sáng đô thị, công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng
công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà
ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn
giáo, khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng, chợ, nghĩa trang,
nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư
nông thôn mới, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn, cụm công nghiệp, khu
sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng; dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền
cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường,
than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác
tận thu khoáng sản.
Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây: dự án thuộc
các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật đất đai
2013; kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt; tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.
Trường hợp thứ ba: thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm
sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận
quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất
không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5

đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; đất
không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho; đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn,
chiếm; đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà
người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; người sử dụng đất
không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính
mà không chấp hành; đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn
12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18
tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên
tục; đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được
sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng
so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải
đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia
hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian
này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà
nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường
hợp do bất khả kháng (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013).
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp
luật về đất đai.
Trường hợp thứ tư: thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp
luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm: tổ
chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất
có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị
giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá
sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; cá nhân sử
dụng đất chết mà không có người thừa kế; người sử dụng đất tự nguyện trả lại
đất; đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;
đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con
người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai
khác đe dọa tính mạng con người (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013).
Việc thu hồi đất trường hợp này phải dựa trên các căn cứ sau đây: Văn bản
của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường

6

hợp thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Giấy chứng tử hoặc quyết
định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác
nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của
người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này; Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp
quy định tại điểm c khoản 1 Điều này; Quyết định giao đất, quyết định cho thuê
đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; Văn bản của cơ
quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh
hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường
hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều này (Quốc hội nước
CHXHCNVN, 2013).
Vậy tùy từng trường hợp cụ thể mà thẩm quyền thu hồi đất cũng khác nhau.
Tại Điều 44 Luật đất đai 2013 quy định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013):
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp
sau đây:
- Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam.
- Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường
hợp sau đây:
- Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
- Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu
nhà ở tại Việt Nam.
Trường hợp cả UBND cấp Tỉnh và UBND cấp Huyện có thẩm quyền thu hồi
thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân
dân cấp huyện quyết định thu hồi đất (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013).
2.1.2.2. Nhà nước giao đất
Giao đất là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai, được
hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở
hữu. Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử

7

dụng đất thông qua giao đất và cho thuê đất. So sánh với các nước có sự tương
đồng về chế độ sở hữu đất đai với nước ta cho thấy, khái niệm giao đất là sự
khác biệt, đặc thù trong hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam.
Giao đất, cho thuê đất là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý
nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước
đầu phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước. Trong 10 năm
qua, việc giao đất, cho thuê đất thực hiện theo Luật Đất đai đã góp phần quan trọng
trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực của
đất đai trong phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các quy
định của Luật Đất đai đã phát sinh một số điểm hạn chế dẫn đến vẫn còn tình trạng
đất được giao cho thuê sử dụng không đúng mục đích, vi phạm pháp luật.
+ Về giao đất không thu tiền sử dụng đất: hộ gia đình, cá nhân trực tiếp
lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủ sản, làm muối được giao đất
trong hạn mức; tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực
nghiệm về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đơn vị vũ trang nhân dân
được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối hoặc sản xuất kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; tổ chức sử dụng
đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo các dự án của Nhà nước; HTX nông
nghiệp sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở HTX, sân phơi, nhà kho, xây dựng
các cơ sở dịch vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, NTTS, làm muối; người
sử dụng đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự
nghiệp; đất làm nghĩa trang nghĩa địa, cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp, cở
sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp;
+ Về giao đất có thu tiền sử dụng đất: hộ gia đình cá nhân được giao đất ở;
tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở để bán hoặc
cho thuê, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê, làm
mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng công trình công cộng có
mục đích kinh doanh; tổ chức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được giao đất để thực hiện các dự án đầu tư;
Điều 37 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể về thẩm giao đất như sau:
- UBND cấp Tỉnh quyết định giao đất cho tổ chức; cơ sở tôn giáo; người Việt
Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

8

- UBND cấp huyện quyết định giao đất cho hộ gia đình, cá nhân; cộng
đồng dân cư.
Cơ quan có thẩm quyền giao đất cho các đối tượng trên không được ủy
quyền (Quốc Hội nước CHXHCNVN, 2013).
2.2. KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VỀ CÔNG TÁC
THU HỒI ĐẤT, GIAO ĐẤT
Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực quan
trọng nhất, cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội. Khi Nhà nước thu
hồi đất phục vụ cho các mục đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bộ đời sống
kinh tế của hàng triệu hộ dân và người dân, người bị ảnh hưởng không những
không hạn chế về số lượng mà còn có xu hướng ngày càng tăng. Đặc biệt, ở
những nước đang phát triển, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp đó
là vấn đề sống còn của họ. Dưới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của
các nước trên thế giới sẽ phần nào giúp ích cho Việt Nam chúng ta, đặc biệt trong
chính sách thu hồi đất, giao đất cho nhân dân.
2.2.1. Giao đất, thu hồi đất tại Trung Quốc
Luật Đất đai của Trung Quốc được xây dựng vào các năm 1954, 1975,
1978 và 1982. Trong đó, Luật Đất đai năm 1982 là bộ luật hoàn chỉnh nhất. Từ
năm 1982 Luật Đất đai Trung Quốc đã được sửa đổi 4 lần (qua các năm 1988,
1993, 1999 và năm 2004). Việc sử dụng Luật Đất đai lần này được tiến hành từ
năm 2003 nay đã hoàn thành việc sửa đổi, tại thời điểm đoàn công tác tại Trung
Quốc thì dự thảo sửa đổi này đang được trình Quốc vụ viện Trung Quốc để xem
xét. Luật Đất đai hiện hành của Trung quốc có nội dung quy định mang tính
nguyên tắc (gần giống với Luật Đất đai năm 1987 của Việt Nam); trong đó đối
với những nội dung quan trọng và có vai trò quyết định chi phối các nội dung
khác được quy định cụ thể và mang tính pháp chế cao, những nội dung khác chỉ
quy định nguyên tắc chung có tính mở và giao Chính phủ quy định để các địa
phương thực hiện hoặc chính quyền tỉnh, thành phố quy định cụ thể.
- Quy định chỉ giao đất ở cho các tổ chức đầu tư kinh doanh nhà ở và không
giao đất ở cho hộ gia đình cá nhân sử dụng tại đô thị có nâng cao hiệu quả sử
dụng đất, nhưng chưa tạo điều kiện thuận lợi và điều kiện về chỗ ở cho các hộ
gia đình có mức thu nhập thấp hoặc gia đình có nhiều thế hệ sinh sống, chính
sách, cơ chế thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định rõ và đầy đủ
giữa các địa phương thực hiện còn có sự khác nhau.

9

- Quy định thu hồi đất và cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có ưu
điểm là được Chính phủ kiểm soát (phê duyệt) và giám sát chặt việc thu hồi đất
đã bảo đảm việc sử dụng đất theo quy hoạch; cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư đã thực hiện công khai, minh bạch và cho người bị thu hồi đất, bị thiệt
hại về tài sản được trao đổi trực tiếp (thỏa thuận) về giá, mức bồi thường với cơ
quan, đơn vị lập phương án thực hiện bồi thường. Tuy nhiên còn có nhược điểm
là chưa phân cấp được thẩm quyền và trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh; tăng thủ
tục hành chính và thời gian giải quyết; việc thỏa thuận giá trị bồi thường giữa
người dân với cơ quan nhà nước là không khách quan; mức giá trị bồi thường và
các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, thiệt hại tài sản chưa bảo đảm quyền
lợi, ổn định đời sống và sản xuất (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012).
Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về chế độ sở hữu và
các hình thức sử dụng đất đai. Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu: chế
độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể. Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm
2005 quy định: "Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào
pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường". Các nhà làm
luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải
chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng đổi với đất
thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử
dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi
thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất. Vấn đề bồi thường cho
người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về trách nhiệm bồi thường: pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người
nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường
do người sử dụng đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng
đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi. Ngoài
ra, pháp luật đất đai Trung quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho
người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề
mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha
(Tổng cục Quản lý đất đai, 2012).
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai,
tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất. Cách tính tiền

10

bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của
đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định. Còn
đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường
tại thời điểm thu hồi đất (Luật Quản lý Đất đai nước CHND Trung Hoa, 1982).
Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ
được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khu thu hồi đất. Khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn
để sử dụng vào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi ích
cũng như được bồi thường một cách hợp lý. Một vấn đề rất quan trọng đó là gắn
công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội. Thông thường khi bị thu
hồi đất, người nông dân khó tìm được việc làm thích hợp với khả năng của mình.
Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc đã thực hiện chế độ dưỡng lão đối với
người già (phụ nữ từ 45 tuổi và nam giới từ 50 tuổi trở lên) và hỗ trợ tiền cho
những người đang trong độ tuổi lao động để các đối tượng này tự tìm việc làm
mới. Tiền dưỡng lão được trả từ 90.000 - 110.000 nhân dân tệ/một lần cho Cục
Bảo hiểm xã hội và Cục Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm trả tiền dưỡng lão hàng
năm cho những người thuộc diện này; tiền hỗ trợ khoảng 100.000 - 120.000 nhân
dân tệ/người (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012)..
Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất
Trong thời kỳ đầu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa, tốc độ đô thị hoá của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng. Diện
tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hoá, trong
khi dân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng
tăng. Trong những năm 1990, Trung Quốc có khoảng từ 100 - 120 triệu lao động
nông thôn thiếu việc làm, hàng năm con số này lại tăng thêm từ 6 - 7 triệu người.
Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu
người nhập cư vào các vùng thành thị. Thực trạng này cũng gây ra rất nhiều khó
khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt như quản lý dân cư, lao động việc làm,
an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và rất nhiều các vấn đề xã hội
khác. Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hoá, Trung
Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012):
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động:
Công cuộc cải cách và mở cửa của nền kinh tế thị trường ở nông thôn
Trung Quốc được tiền hành từ cuối những năm 1970. Các chính sách khuyến

11

khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và mở
cửa của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn.
Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực
lượng lao động dư thừa ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá. Trong những năm
đầu đã có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh
nghiệp địa phương. Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới 50%. Đây là
dấu hiệu cất cánh của CNH - HĐH nông thôn Trung Quốc mà ưu tiên hàng đầu
là tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hoá.
Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất
nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn. Ở
Trung Quốc đã xuất hiện hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn đó là mô hình
doanh nghiệp tập thể ở thành phố Văn Châu. Mô hình doanh nghiệp tư nhân
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp ở nông thôn, nhưng còn
thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu. Mô hình doanh nghiệp tập thể được hình thành
trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá.
- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các
thành phố:
Trung Quốc cho rằng, có hai cách chính để chuyển đổi lao động dư thừa trong
nông thôn: cách thứ nhất là chuyển họ sang các ngành công nghiệp và dịch vụ ở các
vùng nông thôn, cách thứ hai là chuyển họ đến các thành phố.
Năm 1995, có khoảng 60 triệu lao động nông thôn tìm kiếm việc làm ở các
đô thị và hầu hết trong số họ gia nhập vào đội ngũ dân số trôi nổi ở thành phố lớn.
Trong những năm 1990, số lượng nông dân rời bỏ sản xuất nông nghiệp và đi tìm
việc ở nơi khác đã lên tới trên 200 triệu người. Điều cần thiết là phải tạo thêm các đô
thị mới để thu hút họ. Trong bối cảnh đô thị hoá nhanh ở Trung Quốc, nếu hàng
triệu nông dân đổ vào các thành phố sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề như: quá tải về
hệ thống giao thông và phá vỡ các dịch vụ xã hội, trong khi đó, thị trường lao động
ở các thành phố đã gần như bão hoà. Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông
thôn cùng với công nghiệp hoá nông thôn không chỉ là giải pháp quan trọng để thu
hút lao động dư thừa ở khu vực này mà còn góp phần tối đa hoá việc phân bổ các
nguồn lực ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển của các đô thị
nhỏ, một số người cho rằng, việc phát triển đô thị nhỏ mang lại những khó khăn

12

nhiều hơn mang lại thuận lợi, nhưng ngược lại số khác lại coi việc phát triển
những đô thị nhỏ là một giải pháp cho việc thu hút lao động nông nghiệp dư thừa.
Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000
đô thị nhỏ. Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao
động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa.
Tuy nhiên, khả năng thu hút lao động dư thừa hiện nay của mỗi đô thị nhỏ ở
Trung Quốc chỉ là 1.600 người. Nếu số đô thị nhỏ được tăng lên gấp đôi thì sẽ
thu hút được thêm 30 triệu lao động.
Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp
địa phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng
nông thôn. Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề
phát sinh trong quá trình đô thị hoá. Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một
mô hình phát triển đô thị mới. Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị
giữa các thành phố có quy mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu,
Thượng Hải, Bắc Kinh... (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012).
2.2.2. Giao đất và thu hồi đất tại Nhật Bản
Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy định việc
trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu được pháp
luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên theo luật quy hoạch đô thị, đê điều,
hồ chứa nước theo luật sông ngòi, cảng biển theo luật cảng biển…
Trình tự trưng dụng như sau: 1/ Xin phép trưng dụng; 2/ Đăng ký đất đai
và công trình trong diện trưng dụng; 3/ Bên trưng dụng và bên bị trưng dụng
thương lượng thoả thuận; 4/ Trình Hội đồng trưng dụng thẩm định; 5/ Ra quyết
định trưng dụng; 6/ Hoàn tất trưng dụng.
Nhật chỉ trưng dụng đất khi giao dịch đất đai thông thường bị trở ngại và
được bộ trưởng xây dựng hoặc tri huyện cho phép khi thấy phù hợp lợi ích công
cộng và hội đủ điều kiện cần thiết.
Việc bồi thường thực hiện bằng tiền. Mức bồi thường tính toán tại thời
điểm công bố trưng dụng, có điều chỉnh cho phù hợp với biến động giá trước
lúc ra quyết định trưng dụng (Luật Trưng thu đất đai , Nhật Bản, năm 1951).

13

* Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài
tăng trưởng trong nông nghiệp. Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút
nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải
quyết được vấn để việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh
tác ngày càng giảm. Sau khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển,
các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng. Ngoài ra Nhật Bản còn phân
bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông
nghiệp cho lao động nông thôn.
Chính phủ Nhật bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất
nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức,
doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những
sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình. Chính phủ cũng bồi
thường những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội
phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáp dục đào tạo trên cơ sở
nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin
trong những khu vực mới hoặc đang phát triển.
Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá
bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác. Luật về ổn định việc làm của người
lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và
thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty
hiện đại hoặc từ các công ty chi nhánh. Nhiều chính sách được đưa ra như các
chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên. Các loại hình
tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không
chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường. Chế độ tuyển dụng thay
đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển
sang các khu vực lân cận và các địa phương.
Trong những năm 1960, 1970, các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin
học và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra những
thị trường mới ở Nhật Bản. Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ
liên quan được khuyến khích phát triển. Việc phát triển khoa học và công nghệ địa
phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng. Chính phủ Nhật
Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường lao động ở tầm vĩ

14