Tải bản đầy đủ
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ

1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ

Tải bản đầy đủ

diện tích toàn huyện bao gồm 7.510,17 ha đất nông nghiệp, chiếm 50,6%; đất
lâm nghiệp 1956,4 ha chiếm 13 % diện tích của vùng.
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm 11
xã, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ đê sông Hồng đến tả ngạn sông Tích.
Diện tích của vùng là 8.032,11 ha chiếm 18,48% diện tích tự nhiên toàn huyện
gồm 3.634,59 ha đất nông nghiệp.
Với địa hình địa mạo trên đã tạo nên một sắc thái riêng về điều kiện tự
nhiên và khả năng đa dạng hoá trong phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
có ưu thế về phát triển du lịch.
Ba Vì còn là tuyến phòng thủ phía Tây của Thủ đô Hà Nội. Vì vậy có vị
trí đặc biệt quan trọng đối với Quốc phòng và An ninh.
4.1.1.3. Khí hậu
Ba Vì nằm sát phía Tây Bắc vùng châu thổ sông Hồng nên chịu ảnh
hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Qua theo dõi nhiều năm, các yếu tố khí hậu trung bình như sau:
- Nhiệt độ trung bình tháng: Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
nhiệt độ trung bình khoảng 200C, tháng có nhiệt độ thấp nhất khoảng 140C. Từ
tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình đều cao, trên 230C, tháng 6 và 7 có
nhiệt độ cao nhất là 350C đến 370C. Riêng vùng núi Tản Viên, từ độ cao 400m
trở lên mùa hè có không khí mát mẻ, trên 700 m trở lên nhiệt độ trung bình về
mùa hè là 180C.
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình đạt 1628 mm/năm, chia thành 2 mùa
rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, với tổng lượng mưa
là 1.478 mm, chiếm khoảng 91% lượng mưa cả năm. Mùa khô bắt đầu từ tháng
11 và kết thúc vào tháng 3 với tổng lượng mưa 184 mm, chiếm khoảng 9% lượng
mưa cả năm.
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình từ 85% đến 87%. Tháng có độ ẩm
trung bình thấp nhất 81 - 82 % vào các tháng 11 và tháng 12. Tháng có độ ẩm
trung bình cao nhất 89 % vào tháng 3 và tháng 4.
- Số giờ nắng: số giờ nắng bình quân là 1.680,7 giờ/năm. Các tháng 1, 2,3
có số bình quân giờ nắng dưới 100 giờ/tháng. Các tháng còn lại đều có số giờ
nắng trên 120 giờ/tháng, đặc biệt tháng 4 và tháng 7 số giờ nắng đạt trên 150
giờ/tháng.
28

- Gió: hướng gió chủ yếu là Đông Bắc và Đông Nam, mùa đông có gió
mùa Đông Bắc lạnh. Tốc độ gió trung bình 3,5 m/s.
Mùa hạ hướng gió chủ yếu là Đông Nam và Nam, tuy nhiên khi có giông,
bão vào mùa hạ tốc độ gió có thể đạt tới 100km /h. Trong gió mùa hạ có thể có
gió giật tới tốc độ trên 100 km/h. Bão thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10. Bão
gây ra gió mạnh và mưa lớn, là thiên tai đáng lo ngại đối với Ba Vì. Bão thường
kèm theo mưa lớn gây nên ngập úng ở vùng đất trũng và gây ra sói mòn ở vùng
đồi, núi, làm thiệt hại đến sản xuất, kinh tế và con người.
Lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 01 năm sau, lớn nhất vào
tháng 5 tháng 6.
Nhìn chung, thời tiết của huyện có những biến động thất thường đi kèm
các hiện tượng gây ảnh hưởng bất lợi cho đời sống và sản xuất. Vào mùa mưa
chịu ảnh hưởng của những đợt mưa lớn, dài ngày gây ngập, úng; đầu mùa hè
thường chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ không khí có khi
lên tới trên 380C. Mùa đông, có những đợt gió mùa đông bắc về nhanh nhiệt độ
thường giảm đột ngột gây ảnh hưởng tới sức khoẻ và sản xuất nông nghiệp. Tuy
nhiên, do đặc điểm khí nêu trên nêu có các biện pháp khắc phục sẽ rất thuận lợi
cho việc đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu lương thực,
thực phẩm của nhân dân trong huyện cũng như cung cấp cho các vùng lân cận.
4.1.1.4. Thuỷ văn
Ba Vì có hệ thông thuỷ văn phong phú và đa dạng. Bao gồm sông Đà và
sông Hồng bao bọc từ phía Tây Nam lên Đông Bắc dài 50 km tạo nên nguồn
nước tưới phong phú, mang phù xa màu mỡ bồi lên vùng đồng bằng ven sông
của huyện.
Địa hình chia cắt của vùng núi và vùng đồi gò đã hình thành nên hệ thống
khe suối phân bố theo từng lưu vực nhỏ, đặc biệt là tạo nên con sông Tích chảy
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam phân chia huyện thành hai vùng. Vùng núi và
đồi gò ở hữu ngạn và đồng bằng phì nhiêu ở tả ngạn. Sông Tích là trục tiêu nước
chính cho đất đai toàn huyện và cũng là nơi cung cấp nguồn nước tưới bổ xung
cho vùng ven bên trong bờ sông Hồng.
Hệ thống đê phía Tây và phía Đông Bắc làm nhiệm vụ ngăn lũ lụt cho
vùng đồng bằng trong đê đã tạo nên chế độ thuỷ văn rất khác biệt ở các vùng địa
hình và đất đai khác.
29

Ngoài hệ thống sông suối, Ba Vì còn có các ao, hồ và đầm, đặc biệt có những
hồ, đầm có cảnh quan đẹp đã và đang được cải tạo khai thác vào mục đích kinh doanh
du lịch, dịch vụ như: hồ Suối Hai, hồ Đầm Long, Ao Vua, hồ Khoang Xanh,…
4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Đất đai Ba Vì được phân thành 2 nhóm chính sau:
* Nhóm đất vùng đồng bằng:
Đây là nhóm đất được hình thành do quá trình bồi tụ và được chia thành
các nhóm nhỏ:
1. Đất phù xa được bồi (ký hiệu Pb): nằm ngoài đê sông Hồng và sông Đà,
có dọn tích là 3.248 ha, chiếm 10,35% diện tích đất của toàn vùng. Hàng năm
thường bị ngập lụt, là loại đất có thành phần cơ giới nhẹ tương đối phì nhiêu trồng
được nhiều loại cây trồng lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
2. Đất phù xa không được bồi (ký hiệu P): Có diện tích là 2684 ha chiếm
8,56% diện tích toàn huyện, phân bố ven sông Hồng và sông Đà, thành phần cơ
giới từ thịt trung bình đến thịt nặng chủ yếu trồng được 2 vụ lúa và hoa màu.

3. Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (ký hiệu Pf): Diện tích 982,64 ha
chiếm 2,32% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Tòng Bạt, Cổ Đô, Phong Vân,
Thị trấn Tây Đằng, Thái Hòa, Phú Đông, Vạn Thắng, Phú Sơn, Vật Lại, Cẩm
Lĩnh, Tiền Phong và Thụy An. Đất được hình thành trên địa hình cao và thiếu
nước tưới trong mùa khô, do mực nước ngầm cao, có chứa nhiều sắt, mangan ở
dạng khử, gặp khi lớp đất mặt bị khô hạn nước sẽ theo mao quản đi lên. Tại lớp
đất mặt do được canh tác thường xuyên nên các mao quản bị cắt đứt, sắt và
mangan được tích tụ lại dưới lớp đế cày, bị oxy hoá tạo thành lớp loang lổ. Đất
có quá trình phân hoá phẫu diện khá rõ rệt, mức độ loang lổ tuỳ thuộc vào địa
hình, chế độ nước, khí hậu khu vực và sự tác động của con người.
4. Đất phù sa glây (ký hiệu Pg): Diện tích là 1435 ha chiếm 4,57% diện
tích của toàn huyện. Phân bố ở địa hình thấp thường bị nước ngập dài ngày vào
mùa mưa, loại đất này chuyên trồng lúa.
5. Đất phù sa úng nước (ký hiệu Pj):Có diện tích 121,44 ha chiếm 0,29%
diện tích tự nhiên. Phân bố ở địa hình thấp, khó thoát nước, tập trung ở các xã
Phú Đông và Vạn Thắng. Tình trạng ngập nước lâu ngày đã làm đất glây mạnh.
Hình thái phẫu diện tầng đất mặt thường có màu nâu xám, xuống các tầng dưới
thường có màu xám xanh hoặc xám đen.
30

6. Đất xám bạc màu (ký hiệu B): và đất bạc màu glây trên phù xa cổ (ký
hiệu Bg): Có diện tích 2.545 ha chiếm 8,16 % diện tích của huyện. Loại đất này
được hình thành từ mẫu chất phù xa cổ. Do canh tác lâu đời bị rửa trôi bề mặt lớn
nên đất có thành phần cơ giới nhẹ, chua và nghèo dinh dưỡng. Loại đất này ở địa
hình cao thích hợp với cây hoa màu, ở địa hình thấp thường trồng lúa.
* Nhóm đất vùng đồi núi:
Được hình thành do kiến tạo địa chất, có tổng diện tích là 18.478,0 ha
chiếm 65,75% diện tích của toàn huyện. Nhóm đất này được phân thành các
nhóm nhỏ như sau:
7. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Ký hiệu FL ): Diện tích 6.751,0
ha chiếm 21,16%; phân bố ở các xã Ba Trại, Tản Lĩnh, Ba Vì, Vân Hòa, Minh
Quang, Yên Bài và Thụy An. Đất được hình thành trên các loại đất đỏ vàng được
sử dụng trồng lúa nước 1-2 vụ/năm. Quá trình hình thành đất chủ đạo là quá trình
glây hoá do bị ngập nước trong thời gian canh tác. Ngoài ra còn có các quá trình
rửa trôi, hình thành và tích luỹ mùn, chua hoá...
8. Đất nâu vàng trên đá macma trung tính (ký hiệu Fu): Diện tích 2001,68
ha, chiếm 4,72 % tổng diện tích tự nhiên; phân bố ở các xã Ba Vì, Vân Hòa,
Minh Quang, Khánh Thượng và Yên Bài.
9. Đất đỏ vàng trên phiến sét (ký hiệu Fs): Diện tích 7.635,0 ha chiếm
24,33% diện tích của toàn huyện, phân bố quanh chân núi Ba Vì, đất có độ phì
nhiêu trung bình thấp. Hàm lượng mùn trong đất trung bình, lượng Lân, Kali rễ
tiêu trung bình, lượng Magiê, Canxi thấp, thành phần cơ giới trung bình. Đất này
thích hợp trồng chè, dứa, cây ăn quả và hoa màu ngắn ngày. Do phần lớn diện
tích đất này có độ dốc cao nên trong quá trình canh tác cần có biện pháp chống
xói mòn và bổ xung lượng phân hữu cơ cho đất.
10. Đất màu đỏ trên đá mác ma Bazơ trung tính (ký hiệu Fk): Có tổng
diện tích 2.654,0 ha chiếm 8,46 % diện tích toàn huyện, phân bố ở vùng núi Ba
Vì ở độ cao trên 800 m so với mực nước biển thường có độ dốc lớn. Đây là vùng
đất rừng do Vườn Quốc gia Ba Vì quản lý bảo vệ và cấm khai thác.
11. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ ký hiêu D: Diện tích 1430,04 ha
chiếm 3,37% diện tích tự nhiên. Phân bố trên địa hình thấp, khó thoát nước,
thuộc các xã Ba Trại, Tản Lĩnh, Ba Vì, Vân Hòa, Minh Quang, Khánh Thượng,
Yên Bài, Cẩm Lĩnh, Thụy An, Cam Thượng, Sơn Đà và Thuần Mỹ. Tình trạng

31

ngập nước lâu ngày đã làm đất bị glây. Hình thái phẫu diện tầng đất mặt thường
có màu nâu xám, xuống các tầng dưới thường có màu xám xanh hoặc xám đen.
12. Đất mùn nâu đỏ trên đá Macma trung tính (ký hiệu Hk): Diện tích
1574,31 ha, chiếm 3,71% diện tích tự nhiên đất của huyện, phân bố ở quanh núi
Ba Vì, đất chua nghèo dinh dưỡng. Khi khai thác loại đất này cần chú đến các
biện pháp canh tác.
Nhìn chung, Ba Vì là huyện có nhiều vùng khí hậu khác nhau, bởi vậy số
lượng các loại đất cũng rất đa dạng, phức tạp nên có khả năng đa dạng hoá cây
trồng, thâm canh tăng vụ, làm tăng năng suất cây trồng. Trong quá trình canh tác
trên đất xám bạc màu và xám bạc màu glây cần có biện pháp hợp lý nhằm chống
sói mòn, rửa trôi đất.
b) Tài nguyên nước:
Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được
lấy từ 2 nguồn chính.
- Nguồn nước mặt: Được cung cấp bồi hệ thống sông ngòi gồm sông Đà,
sông Hồng, sông Tích ngoài ra còn có các hồ đầm chứa nước lớn như hồ Suối
Hai, hồ Mèo Gù, Đầm Long v.v... có dung tích khoảng 60 triệu m3, ngoài ra trên
địa bàn huyện còn có 1 lượng lớn các suối, ao, hồ đầm nhỏ và trung bình phân bổ
khắp các vùng trong huyện. Do đó nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào, đủ
cung cấp cho nhu cầu về nước trong sản xuất và nước sinh hoạt của nhân dân.
- Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa có tài liệu thống kê đầy đủ về nguồn
nước ngầm, song quan sát một số giếng khoan cho thấy ở đồng bằng ven sông
nguồn nước này chỉ ở độ sâu khoảng 5m đến 7 m, tuy nhiên ở đồng bằng nguồn
nước ngầm khai thác ở độ sâu 40 đến 60 m cho chất lượng nước tốt hơn. Miền
núi các mạch nước ngầm rất phong phú, một số nguồn nước ngầm có độ khoáng
hoá cao như nước khoáng Tản Viên( Tản Lĩnh), nước khoáng nóng Thuần Mỹ.
Nguồn nước ngầm ở khu vực miền núi thường phải khai thác ở độ sâu từ 40 đến
120 m nhưng chất lượng nước rất tốt.
Với nguồn nước dồi dào ở Ba Vì đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
sản xuất và phục vụ đời sống, sinh hoạt cho người dân ở Ba Vì. Đặc biệt nguồn
nước khoáng Tản Viên, nước khoáng nóng Thuần Mỹ hiện nay đã và đang được
khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch, đây cũng là nguồn tài nguyên tạo tiền đề
cho phát triển công nghiệp sản xuất nước khoáng ở Ba Vì.

32

c) Tài nguyên rừng:
Diện tích rừng toàn huyện có 10901,02 ha, trong đó rừng sản xuất 4386,27
ha, rừng phòng hộ 78,44 ha và rừng đặc dụng 6436,31 ha. Diện tích rừng tự
nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400m trở lên. Rừng tự nhiên
được phủ xanh bằng các loại thảm thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có
nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đới thuộc phạm vi Vườn quốc gia Ba Vì.
Động thực vật Ba Vì rất đa dạng, phong phú. Hiện nay các nhà thực vật
học Việt Nam ước khoảng 2000 loại. Gồm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới bước
đầu kê được 812 loài thực vật bậc cao với 88 họ thực vật, 270 loài bậc cao gồm
nhiều loại gỗ quý hiếm như lát hoa, kim giao sến mật, sồi, dẻ gai.... Hai loại cây
rất quý được ghi vào "Sách đỏ Việt Nam" là Bách xanh và Thông đỏ đang được
bảo vệ nghiêm ngặt. Động vật cú 44 loài thú, 104 loại chim, 15 loại bò sát, 9 loại
lưỡng cư. Đây là nguồn tài nguyên rừng quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt.
d) Tài nguyên khoáng sản:
Qua điều tra thăm dò đã xác định được vùng đất Ba Vì có 1 số tài nguyên
khoáng sản như Pirít ở Minh Quang, Ba Trại nhưng trữ lượng không đủ lớn để
lập khu khai thác công nghiệp. Ngoài ra còn 1 số mỏ khác như đồng, cao lanh,
than bùn phân bố ở các địa bàn xã Ba Trại, Tiên Phong, Thái Hoà nhưng trữ
lượng không lớn và không tập trung.
Đặc biệt ở Ba Vì có mỏ nước khoáng, chất lượng tốt đang được đầu tư
khai thác phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân. Bên cạnh đó mỏ nước khoáng
Thuần Mỹ cũng đã được xác định và chuẩn bị đầu tư khai thác phục vụ cho nhu
cầu phát triển du lịch dịch vụ và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.
e) Tài nguyên du lịch và nhân văn:
Là vùng quê xứ Đoài, Ba Vì có nhiều di tích lịch sử văn hoá đã được Nhà
nước công nhận và xếp hạng để bảo vệ. Đến năm 2014, Ba Vì có 63 di tích lịch
sử văn hoá được xếp hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện.
Những di tích lịch sử này phần lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các
vị anh hùng của dân tộc, danh nhân văn hoá như: đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh
trên đỉnh núi Ba Vì, khu di tích K9. Nhiều di tích có tầm cỡ quốc gia như: Đình
Tây Đằng, Đình Chu Quyến là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp
quốc gia, Đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những
ngôi đình cổ nhất Việt Nam có niên đại 1531- thời Nhà Mạc.. Trong đó nổi bật
33

nhất là núi Ba Vì với truyền thuyết lịch sử về 2 vị thần Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đã
được lưu truyền trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Ngoài ra Núi Ba Vì còn là cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh, Thuỷ Tinh Thần Tản Viên và thần Sông nước (sông Đà). Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi
thờ Sơn Tinh - vị thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử mà điển hình là: Đền Thượng,
Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đằng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (Đông Cung),
Đền Bố - Tản Lĩnh (Nam Cung), Đền La Phù - Phú Thọ (Tây Cung),….
4.1.1.6. Thực trạng môi trường
* Môi trường nước:
Nguồn nước ở huyện có biến đổi theo chiều hướng xấu là do các hoạt
động tác động đến môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng có thể kể
đến là các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, nước thải từ các làng nghề và nước thải sinh hoạt và các hoạt động du
lịch cũng tác động đến môi trường nước. Trong thời gian tới cần phải có những
biện pháp nhằm cải tạo nguồn nước để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch phục
vụ được đời sống của nhân dân.
* Môi trường không khí:
Môi trường không khí huyện Ba Vì nhìn chung chưa bị ô nhiễm bởi các
chất khí độc hại như CO2, NO2, SO2, NH3, H2S, CH4, tuy nhiên một số cơ sở sản
xuất vật liệu xây dựng (khai thác đá và lò gạch thủ công), đường giao thông đang
nâng cấp đã tác động xấu đến môi trường không khí, làm gia tăng nồng độ các
chất khí độc. Cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường không khí, nhằm
ngăn chặn nguy cơ tác động xấu đến cuộc sống của dân cư xung quanh.
Môi trường không khí của huyện Ba Vì đã bị ô nhiễm bụi, khói độc hại
thải ra không khí tại các khu vực lò gạch thủ công, dọc các trục đường giao thông
chính với lưu lượng xe lưu thông trên đường lớn hoặc các tuyến đường chất
lượng kém hay đang thi công.
4.1.1.7 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên của huyện
* Thuận lợi:
- Nằm trên tuyến cao tốc Láng - Hòa Lạc, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ
32... Đồng thời gần giáp ranh với các quận đang trên đà phát triển nhanh của
thành phố như Hà Đông, Cầu Giấy, Thanh Xuân và Sơn Tây,… nên huyện có
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển của một
huyện ven đô.
34

- Đất đai đa dạng, độ phì trung bình đến khá kết hợp với đặc điểm khí hậu
thuỷ văn của huyện cho phép Ba Vì phát triển một nền nông nghiệp toàn diện: đa
dạng hoá cây trồng, vật nuôi; có điều kiện xen canh gối vụ, rút ngắn chu kỳ sản xuất
nông nghiệp của các cây, con để có hiệu quả kinh tế cao.
- Do huyện có sông Tích chảy qua với các bãi cát bồi tụ hàng năm chính
vì vậy ở đây cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, đất làm nguyên vật liệu rất
phong phú.
* Hạn chế:
Do mưa phân bố không đều, có khi mưa quá lớn trong nhiều ngày nên đã
gây ngập úng làm cho năng suất lúa vụ mùa giảm, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản
giảm do bị thất thoát. Vụ Xuân có độ ẩm cao, trời âm u, ít ánh sáng nên dễ tạo
điều kiện cho sâu bệnh phát sinh và gây hại. Mùa Đông thường xuất hiện gió
mùa Đông Bắc và nhiệt độ giá lạnh nên cũng có ảnh hưởng đến năng suất cây
trồng, vật nuôi.
4.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội
Trong những năm qua, trong quá trình đẩy mạnh xây dựng dự án nông
thôn mới, kinh tế - xã hội của huyện có những bước phát triển khá toàn diện, đạt
được nhiều thành tựu quan trọng. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã
được nâng lên đáng kể, hạ tầng cơ sở tương đối phát triển như giao thông, thuỷ
lợi, trường học, bệnh viện, trạm xá và các công trình văn hoá phúc lợi, sức khoẻ
và trình độ dân trí không ngừng được nâng lên.
4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2008 - 2014 quy mô và nhịp độ tăng trưởng có xu hướng
tăng lên. Tổng giá trị sản xuất tăng từ 1.275 tỷ đồng năm 2008 lên 3297 tỷ đồng
năm 2014 (giá so sánh 94), tăng bình quân hàng năm 11% trên năm giai đoạn
2008 - 2012 và 20,9% trên năm giai đoạn 2012 - 2014.
Sự tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn vừa qua xuất phát từ đóng góp
ngày càng cao của khu vực phi nông nghiệp, từ 54% giai đoạn 2008 – 2012 đến
62% giai đoạn 2012 - 2014. Trong 06 năm 2008 - 2014 các ngành nông lâm ngư
nghiệp luôn duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, đặc biệt là về giá trị sản xuất 7,8%
trên năm giai đoạn 2008 - 2012 và 16,2%/ năm giai đoạn 2012 - 2014 (trong đó
năm 2012 - 2014 tăng 20,8%/năm).

35

Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Ba Vì giai đoạn năm 2008 - 2014
Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Tổng GTSX, giá ss94
-

Nông, lâm – ngư nghiệp
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ

Tổng GTTT của huyện, giá ss94
- Nông, lâm – ngư nghiệp

2008

2012

2014

Tỷ đồng

1275

1843

3997

Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng

600
260
415

1050
400
393

1373
246
1278

Tỷ đồng
Tỷ đồng

730
340

1046
520

1945,1
548,4

-

Công nghiệp và xây dựng

Tỷ đồng

85

171

221,4

-

Dịch vụ

Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
%
%
%
%
Triệu đồng

305
1050
532.8
138.4
379
100
50.7
13.2
36.1
4.0

355
2284
1154
384
746
100
50.5
16.8
32.7
8.6

905,3
4413
1763
946
1904
100
36,9
20,2
42,9
15,9

Tổng GTTT của huyện, giá hh
- Nông, lâm – ngư nghiệp
- Công nghiệp và xây dựng
- Dịch vụ
Cơ cấu (GTTT)
- Nông, lâm – ngư nghiệp
- Công nghiệp và xây dựng
- Dịch vụ
GTTT/người (hh)

Nguồn: UBND huyện Ba Vì (2014)

Tuy nhiên, những yếu tố tạo ra tăng trưởng cao sẽ ngày càng tới hạn (mở
rộng diện tích, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi). Do vậy, xu thế chuyển dịch
sang chất lượng và chiều sâu là tất yếu để tạo ra tăng trưởng. Khu vực nông lâm
ngư sẽ dựa chủ yếu vào thâm canh, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Nhưng
khả năng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế sẽ không cao như những năm vừa
qua. Vai trò của khu vực phi nông nghiệp sẽ ngày càng quan trọng hơn.
4.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thời kỳ 2008 - 2014, cơ cấu kinh tế huyện Ba Vì đã có sự dịch chuyển
tích cực. Tỷ trọng các ngành nông lâm ngư nghiệp giảm 56,1% năm 2008 xuống
50,7% năm 2012 và 38,6% năm 2014, trong khi vẫn khai thác triệt để lợi thế của
khu vực này (nhịp độ tăng trưởng cao), cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch
theo hướng tích cực; các ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 10,8% năm 2008
lên 13,2% năm 2012 và 19,6% năm 2014, khi vực dịch vụ chuyển dịch tương
ứng từ 33,7% lên 36,1% và 41,8%.

36

Nhìn chung, thời gian qua sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên dịch vụ
phục vụ sản xuất vật chất thường chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu là các ngành dịch
vụ công. Mặc dù quy mô của khu vực dịch vụ này ngày một lớn theo mức sống
dân cư, song tỷ trọng sẽ giảm dần, thay vào đó là dịch vụ sản xuất vật chất. Dự
báo trong những năm tới tỷ trọng dịch vụ sẽ không cao, cao hơn cả là các ngành
công nghiệp và xây dựng.
4.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế các ngành nông nghiệp
Tuy tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế chung có xu
hướng giảm trong thời gian qua, nhưng đây vẫn là ngành kinh tế giữ vị trí quan
trọng hàng đầu trong nền kinh tế Ba Vì. Hiện nay, sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp của Ba Vì đã bước đầu thực hiện có hiệu quả viêc chuyển đổi cơ cấu sản
xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, nổi bật nhất là việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, từng bước hình thành các cánh đồng 50 triệu.
Tổng giá trị sản xuất (giá ss94) khu vực nông – lâm – ngư nghiệp năm
2014 đạt 1271 tỷ đồng, giá trị tăng thêm (GDP) đạt 438,5 tỷ đồng, tăng 29% so
với năm 2008. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉ trọng ngành trồng trọt đang
có xu hướng giảm dần (giảm từ 71,7% năm 2008 xuống 41,3% năm 2014),
ngành chăn nuôi tăng lên tương ứng từ 28,3% lên 58,7%. Cơ cấu sản xuất ngành
trồng trọt, chăn nuôi cũng đang từng bược có sự chuyển dịch phù hợp với nhu
cầu ngày càng cao của thị trường.
a)Trồng trọt
Tổng diện tích trồng trọt trên địa bàn huyện năm 2014 là 27.829,63 ha,
tăng 615 ha so với năm 2012 nhưng đã giảm 534 ha so với năm 2008, chủ yếu là
do giảm diện tích trồng cây lương thực, nhiều nhất là lúa. Trong khi diện tích cây
công nghiệp, cây trồng làm thức ăn cho gia súc có xu hướng tăng lên. Giá trị sản
xuất và giá trị tăng thêm bình quân trên 1 ha canh tác đều tăng lên, lần lượt đạt
75 triệu đồng năm 2012, tăng 2,02 lần so với năm 2008, ước đạt 70 triệu đồng và
45,5 triệu đồng năm 2014. Hệ số sử dụng đất khá cao, đạt trên 2,4 lần năm 2014.
b) Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi trong những năm qua tăng trưởng nhanh (tổng giá trị sản
xuất ngành chăn nuôi năm 2008 đạt 449 tỷ đồng, năm 2012 đạt 671 tỷ đồng). Tỉ
trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng không ngừng

37

tăng lên, từ 28,3% năm 2008, lên 39% năm 2012, dự kiến năm 2014 đạt 47%. Sản
phẩm ngành chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa.
Tổng đàn trâu, bò năm 2014 là 55.600 con, tăng 9.275 con so với năm
2008. Do lợi thế về tự nhiên, Ba Vì có điều kiện thuận lợi để phát triển, chăn
nuôi bò sữa và bò thịt theo hướng công nghiệp hóa; nhờ những đầu tư, kỹ thuật
về giống, chăm sóc và chế biến, năng suất sữa tăng lên đáng kể, đạt 2,63
kg/con/năm 2014 (so với 2,25 kg/con/năm 2012, 1,95 kg/con/năm 2008). Sản
lượng sữa năm 2012 đạt 4.100 tấn, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu về sữa và
các sản phẩm từ sữa của nhân dân trong vùng và hình thành được một sản phẩm
đặc trưng cung cấp cho thị trường ngoại vùng.
Trong các loại vật nuôi lợn và gia cầm có tốc độ tăng trưởng khá nhanh.
Đàn lợn tăng từ 141 nghìn con năm 2008 lên 269 nghìn con năm 2014, bình quân
tăng 13,8% mỗi năm. Đàn gia cầm tăng từ 1,27 triệu con năm 2008 lên 2 triệu
con năm 2014, tăng bình qquan 9,7%/năm. Sản lượng thịt năm 2014 của huyện
Ba Vì là 37.985 tấn thì thịt lợn hơi xuất chuồng chiếm 75%, 21,2% là sản lượng
thịt gia cầm, còn lại là thịt trâu bò.
c) Sản xuất lâm nghiệp
Trong vài năm trở lại đây, công tác trồng mới rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng và rừng sản xuất được triển khai thường xuyên và thu được những kết quả
khả quan. Diện tích rừng trồng tập trung mới năm 2014 là 488,1 ha (năm 2012
là 263,2 ha). Diện tích khoanh nuôi rừng tái sinh cũng đạt khoảng 500 ha/năm.
Năm 2014, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp ước đạt 15 tỷ đồng. Tuy không
chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất nganh nông - lâm - ngư nghiệp, nhưng
sản xuất lâm nghiệp mang lại ý nghĩa kinh tế to lớn cho huyện Ba Vì về cả sinh
thái, phát triển nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
d) Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện năm 2014 là 2.027 ha,
tăng 641 ha so với năm 2012, với tổng số 2.432 hộ và 3.231 lao động. Sản lượng
thủy sản năm 2014 đạt 5.086 tấn, tăng 1.586 tấn so với năm 2012 trong đó 50%
là hình thức nuôi ruộng. Giá trị sản xuất ngành thủy sản năm 2014 đạt 64,75 tỷ
đồng giá so sánh 94.

38