Tải bản đầy đủ
PHẦN 1. MỞ ĐẦU

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ

đai của huyện gồm các loại đất chính là đất phù sa được bồi của hệ thống sông
Hồng, đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng, đất phù sa glây của hệ
thống sông Hồng, đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Hồng phù hợp với
nhiều loại cây trồng cho năng suất ổn định.
Trong những năm qua, huyện đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đất như tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người
sử dụng đất; hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng
hoá các giống cây tốt, năng suất cao vào sản xuất; áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, nhờ đó mà năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất tăng lên rõ rệt.
Những năm gần đây, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển
đổi sang mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, công nghiệp,
khu đô thị đã diễn ra quá nhanh khiến diện tích đất nông nghiệp của huyện
ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng. Mặt khác, sản xuất nông nghiệp quy mô
nhỏ, cơ cấu chưa hợp lý. Sử dụng đất nông nghiệp chưa xứng đáng với tiềm
năng, nông sản hàng hóa chưa có sức cạnh tranh trên thị trường. Chính vì vậy
để khai thác tốt nhất tài nguyên đất nông nghiệp cần tìm ra những hạn chế
trong sản xuất nông nghiệp hiện nay để có những giải pháp sử dụng đất hợp lý
đem lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời bảo vệ môi trường đất và sinh thái để
khai thác sử dụng lâu bền đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp bền
vững là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
Từ tất cả những vấn đề trên, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai,
cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS Nguyễn Hữu Thành, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp nhằm góp phần giúp người
dân lựa chọn loại hình sử dụng đất hiệu quả trong điều kiện cụ thể của huyện.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp của huyện Gia Bình.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Bình – tỉnh Bắc Ninh.

2

1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên
phương diện kinh tế, xã hội, môi trường.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn làm cơ sở cho các nhà quản lý, chỉ
đạo, điều hành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Bình.
- Các kết quả nghiên cứu có thể giúp địa phương lựa chọn các Loại hình
sử dụng đất/kiểu sử dụng đất có hiệu quả cao, góp phần tăng thu nhập cho người
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. ĐẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
2.1.1. Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp
* Khái niệm về đất và đất đai
- Theo Docuchaev (1846-1903: “Đất là lớp vỏ phong hóa trên cùng của
trái đất, được hình thành do tác động tổng hợp của năm yếu tố sinh vật, khí
hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian. Nếu là đất đã sử dụng thì có thêm sự tác
động của con người là yếu tố hình thành đất thứ 6”. Nguyễn Mười và cs.
(2000). Giống như vật thể sống khác, đất cũng có quá trình phát sinh, phát
triển và thoái hóa vì các quá trình về vật lý, hóa học và sinh học luôn xảy ra
trong nó (Đỗ Nguyên Hải, 2000).
- Theo Wiliam (1863-1939): “ Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả
năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng”. Như vậy theo quan điểm này,
đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm (Nguyễn
Mười và cs., 2000).
- Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho
rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và
đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái
đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và
dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp
trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động
thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong
quá khứ và hiện tại để lại ” (Vũ Năng Dũng, 1997).
- Đất đai (land): Là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có
các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chất chu kỳ có thể
dự đoán được có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của
các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo,
địa chất, thủy văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người
(Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, 2011). Theo học thuyết sinh thái học
cảnh quan (Landscape Ecology), đất đai được coi là vật mang (Carrier) của hệ
sinh thái (Eco-System). Trong đánh giá phân hạng về đất, đất đai được định

4

nghĩa như sau: “Một vùng hay khoanh đất được xác định về mặt địa lý là một
diện tích bề mặt trái đất với những thuộc tính ổn định hoặc thay đổi có tính chất
chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó
như là: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú,
những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những
thuộc tính này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con
người hiện tại và tương lai” (Brink and Smyth, 1973).
* Khái niệm về đất nông nghiệp
Dựa trên mục đích sử dụng, tại điều 10 Luật đất đai 2013 phân loại đất
thành 3 nhóm chính: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm
đất chưa sử dụng. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất trồng cây lâu năm;
- Đất rừng sản xuất;
- Đất rừng phòng hộ;
- Đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thủy sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại
nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực
tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động
vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống
và đất trồng hoa, cây cảnh.
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
- Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề
cho mọi quá trình sản xuất.
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt
động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.

5