Tải bản đầy đủ
3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT

3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT

Tải bản đầy đủ

Với các nguyên tắc này, người sử dụng đất, các nhà lập kế hoạch, quy hoạch
sử dụng đất phải đạt được sản lượng hoặc lãi suất tối đa, giảm thiểu đầu tư và sức
lao động ngoài ra phải bảo vệ môi trường và tài nguyên cho sản xuất lâu dài và cho
các thế hệ mai sau.
Cùng với các nguyên tắc sử dụng đất bền vững, Dumanski (1993) cũng đã đề
xuất các chỉ tiêu chung để đánh giá và giám sát việc sử dụng đất bền vững, bao gồm:
Năng suất cây trồng, cân bằng chất dinh dưỡng, sự bảo toàn của độ che phủ đất, chất
lượng và diện tích đất, chất lượng nước, lợi nhuận của nông trại, sự áp dụng các biện
pháp bảo vệ đất. Các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để phân tích đánh giá hệ thống sử
dụng đất về tính bền vững và thiết lập nền móng cho các chiến lược sử dụng hợp lý và
bảo vệ tài nguyên đất.
Ngoài ra còn một số định nghĩa về quan điểm sử dụng đất bền vững trong
sản xuất nông nghiệp như sau:
Theo Mollison B (1994): Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để
cho môi trường bền vững cho con người liên quan tới cây trồng, vật nuôi, cơ sở hạ
tầng và các công trình xây dựng do con người tạo ra.
Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tài
nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế,
năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống và hạn chế rủi ro.
Từ những nguyên tắc đánh giá sử dụng đất bền vững của FAO, một loại hình sử
dụng đất được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường
chấp nhận.
- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mùa
mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất.
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo được đời sống xã hội.
Phát triển bền vững đòi hỏi các nguồn tài nguyên phải được phát triển và sử
dụng một cách tổng hợp. Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền đã
khuyến khích về sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp như sau:
- Khuyến khích tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc thực hiện đúng
đắn cơ chế thị trường và các cải cách khác như làm tăng tối đa lợi ích đa vụ, khuyến
khích nông dân và giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch.

14

- Phát triển và đẩy mạnh các hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi,
các hoạt động nhằm vào vấn đề nông - lâm kết hợp, trồng theo vành đai, trồng cây
và làm ruộng bậc thang và phải thích ứng với các điều kiện thực tế cụ thể với tập
quán của người dân về mùa vụ, với các kỹ thuật khả thi về bảo vệ đất và nước.
- Canh tác nông nghiệp phải nhằm vào thâm canh tăng năng suất, quay vòng
mùa vụ, kiểm soát hoá chất nông nghiệp, phổ biến rộng rãi canh tác hữu cơ và các
phương pháp thủy lợi nhằm tránh gây ngập úng và nhiễm mặn đất.
- Ưu tiên cho các công trình nghiên cứu và triển khai liên quan đến các hệ
thống nông - lâm kết hợp, có tính đến việc bố trí định cư những người du canh ở
vùng núi cao.
- Cần có chương trình mạnh mẽ về trồng cây rừng, bao gồm cả việc hình
thành các khu rừng trồng nhằm mục đích lấy gỗ và củi đốt. Những nỗ lực trồng
rừng phải nhằm vào mục đích phát triển khu rừng hỗn giao, các loài cây bản xứ hơn
là các khu rừng thuần chủng và các loại cây ngoại nhập.
Như vậy, đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt
được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài
nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng
xấu đến môi trường sống của con người và các sinh vật.
2.3.2 Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái
* Hệ sinh thái: Khái niệm về sinh thái (Ecosystem) do A.Tansley đề xuất
năm 1935: Hệ sinh thái là một đơn vị bao gồm các vật sống và ngoại cảnh không
sống của chúng. Hệ sinh thái gồm 2 thành phần chủ yếu: các quần thể sống (thực
vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng; các
nhân tố ngoại cảnh (khí hậu, đất đai, nước). Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh
thái được phân theo các hướng: dòng năng lượng; chuỗi thức ăn; sự phân bố theo
không gian và thời gian tuần hoàn vật chất; phát triển và tiến hoá, điều khiển.
Trong sinh quyển (Biosphere) có 3 hệ sinh thái chủ yếu. Các hệ sinh thái tự
nhiên: Rừng, đồng cỏ, sông, hồ, biển, các hệ sinh thái nông nghiệp; các hệ sinh thái
đô thị bao gồm các thành phố lớn, các khu công nghiệp.
* Hệ sinh thái nông nghiệp:
- Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân dạo do lao động của con
người tạo ra. Lao động của con người không phải tạo ra hoàn toàn các hệ thống sinh

15

thái nông nghiệp mà chỉ tạo điều kiện cho các hệ sinh thái này phát triển tốt hơn
theo quy luật tự nhiên của chúng. Cây trồng, vật nuôi và các thành phần sống khác
của hệ sinh thái nông nghiệp quan hệ rất chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh.
- Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống các hệ sinh thái phụ: đồng ruộng
cây hàng năm, vườn cây lâu năm hay rừng nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, ao cá,
khu vực dân cư; trong đó hệ sinh thái đồng ruộng là thành phần trung tâm quan
trọng của hệ sinh thái nông nghiệp. Hệ sinh thái nông nghiệp: nông trường, nông
trại, hợp tác xã. Trên đất đồi núi ở nước ta hiện nay, tồn tại cả 3 hình thức của hệ
thống nông nghiệp (Farming Systems): của vùng nhiệt đới. Hệ thống nông nghiệp
truyền thống (Traditional Farming Systems), tiêu biểu là nương rẫy trong phiềng,
bãi, kỹ thuật cải tiến, trồng xen gối, chống xói mòn; hệ thống nông nghiệp hiện đại
(Modern Farming Systems); tiêu biểu: các vùng nông nghiệp chuyên canh, các
vườn cây công nghiệp của các nông, lâm trường.
Quan điểm của Terry Rambo và Rerksem đã xác định các đặc tính của hệ
sinh thái nông nghiệp như sau: năng suất là sản lượng thực của hàng hoá và các dịch
vụ của hệ sản lượng năm: kg/ha, số dư tổng số (Gross margin); ổn định: mức độ ổn
định của năng suất trong điều kiện có dao động nhỏ của môi trường, (hệ số nghịch
đảo của biên thiên năng suất) biến thiến nhỏ: ổn định cao, biến thiên lớn: ổn định
thấp); chống chịu: khả năng duy trì năng suất của hệ khi phải chịu sức ép (Stress)
hoặc thay đổi đột ngột (Shock) (hạn, lũ lụt, sâu bệnh...); tự trị: mức phụ thuộc của
hệ vào các hệ khác để tồn tại ngoài sự điều khiển của nó; công bằng: sự phân phối
sản phẩm của hệ được công bằng như thế nào. Hợp tác: khả năng phối hợp trong
các hoạt động; Tính đa dạng: số lượng loại, kiểu khác nhau của thành phần (loài)
trong một hệ. Tính thích hợp: khả năng phản ứng của hệ với những thay đổi môi
trường để đảm bảo sự tồn tại liên tục (Lê Trọng Cúc và cs., 1990).
* Hệ sinh thái nhân văn:
Hệ sinh thái nhân văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và môi
trường. Sinh thái nhân văn cung cấp cơ sở khái niệm cho việc phân tích hệ thống tài
nguyên nông thôn (A.Terry - Rambo - Sajisoe - 1984). Khái niệm này dự trên 20
quan điểm cho rằng có mối quan hệ có hệ thống giữa xã hội loại người (hệ thống
xã hội) và môi trường tự nhiên (hệ sinh thái). Những mối quan hệ này ảnh hưởng
đến nguồn tài nguyên và đến những tác động môi trường do con người gây ra.

16

Hệ thống xã hội hình thành trên cơ sở các yếu tố: dân số, kỹ thuật, tín ngưỡng,
đạo đức, nhận thức, thể chế, cơ cấu xã hội. Hệ sinh thái tồn tại trên cơ sở các yếu
tố sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật). Các yếu tố vật lý (đất, nước...). Mối
quan hệ tương tác giữa hệ thống xã hội và hệ sinh thái được thể hiện dưới dạng
năng lượng vật chất và thông tin. Những dòng vật chất này ảnh hưởng đến cơ
cấu và chức năng của hệ thống.
Ở Việt Nam nghiên cứu về hệ sinh thái nói chung: Hệ sinh thái nông nghiệp;
hệ sinh thái nhân văn nói riêng là những nhánh nghiên cứu mới, xuất hiện từ thập
kỷ 80 với các công trình: Hệ sinh thái nông nghiệp Đào Thế Tuấn (1984); Hệ sinh
thái nông nghiệp Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam Lê Trọng Cúc, Katthlen
Gillogy và S. Terry Rambo (1990).
2.3.3 Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.3.3.1. Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay, tổng diện tích đất tự nhiên trên thế gới là 148 triệu km2. Đất đai
phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á
chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm
6%). Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên. Bình
quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ có 0,23 ha, ở
nhiều quốc gia khu vực châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ
còn 0,12 ha. Theo tính toán của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), với trình độ
sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi
người cần có 0,4 ha đất canh tác.
Đất đồi núi trên thế giới chiếm 50,6%, riêng ở Đông Nam Á và Thái Bình
Dương diện tích đất dốc chiếm 54,5% đất nông nghiệp.
Châu Á, nhất là khu vực Nam Á, được coi là điểm nóng của thế giới trong vấn đề
thiếu dinh dưỡng và an ninh lương thực. Mặc dù chiếm ½ dân số nhưng chỉ có 20% đất
nông nghiệp toàn cầu. Đất đồi núi ở châu Á chiếm khoảng 35% tổng diện tích. Tiềm
năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp
xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng
nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc, chua nhiệt đới, khoảng
40- 60 triệu ha trước đây vốn là rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do hoạt động của
con người nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.

17

Bước vào thế kỷ XXI dân số ngày càng tăng, kéo theo nhu cầu của con người
tăng lên đã gây sức ép lớn đến quỹ đất, đặc biệt là đất nông nghiệp.
Dân số tăng và diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường
chỗ cho đô thị và công nghiệp phát triển, nên theo dự báo diện tích đất canh tác tính
trên đầu người ở châu Á sẽ giảm từ 0,15 ha xuống còn 0,08 ha vào những năm
2020. Dân số Trung Quốc mỗi năm tăng thêm hơn 17 triệu người, trong khi đó đất
nông nghiệp mỗi năm giảm đi 400.000 ha vì công nghiệp hóa và đô thị hóa.
2.3.3.2. Sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê năm 2013, tổng diện tích tự nhiên của cả nước là
33.097,2 nghìn ha, diện tích đất nông nghiệp là 24.696 nghìn ha (chiếm 75% tổng
diện tích tự nhiên). Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người 0,29
ha/người. Hiện nay việc sử dụng đất nông nghiệp của cả nước đang đứng trước thời
cơ mới. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao được đưa
vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân. Diện tích trồng lúa năm
2013 cho năng suất khá ổn định do có khoảng 80% diện tích là đất trồng lúa tưới,
chỉ có 20% là đất phụ thuộc vào mưa.
Tính trong thời gian từ 1985 - 2013, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng
từ gần 7 triệu ha lên hơn 9 triệu ha. Diện tích đất nông nghiệp tăng thêm chủ yếu
thuộc các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Diện
tích đất lâm nghiệp tăng từ hơn 9 triệu ha năm 1985 lên 11 triệu ha vào năm 2010.
Diện tích đất chuyên dùng tăng từ 972 nghìn ha năm 1990 lên 1,8 triệu ha
năm 2013, diện tích đất chuyên dùng tăng ở tất cả các vùng trong cả nước cho mục
đích xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp. Diện tích đất
chuyên dùng tăng lên đã góp phần làm giảm tốc độ tăng diện tích đất nông nghiệp.
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm (2001 - 2007)
có trên 500.000 ha diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển sang đất phi nông
nghiệp, chiếm 5% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng, bình quân mỗi năm diện
tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 71.000 ha. Theo tính toán trung bình cứ 1ha đất
thu hồi, sẽ làm hơn 10 lao động nông dân thất nghiệp, đặc biệt, đất nông nghiệp bị
thu hồi chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn
năm trước. Chỉ tính trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm
125.000 ha.

18

Trong cơ cấu diện tích đất chuyên lúa, diện tích lúa 2 đến 3 vụ tăng do
hoàn thiện hệ thống thủy lợi, giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn được đưa
vào hệ thống thâm canh, tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng. Sản xuất nông nghiệp
đã dần chuyển theo hướng tăng diện tích cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao,
giảm diện tích các loại cây hàng năm trên đất dốc. Tuy nhiên, trong cơ cấu sử
dụng đất nông nghiệp tỷ lệ diện tích đất cây hàng năm vẫn còn chiếm trên 60%,
mặt khác khả năng tăng diện tích đất canh tác từ diện tích đất chưa sử dụng sẽ
khó khăn trong thời gian tới.
Theo phương án mức sinh trung bình - dự báo dân số Việt Nam do tổng cục
dân số thực hiện, dân số Việt Nam đạt 100 triệu người vào năm 2024. Việc tăng
14,2 triệu người so với năm 2009 (85,8 triệu người) đã gây áp lực đối với đất nông
nghiệp. Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của cả nước lại có xu
hướng giảm.
Những năm vừa qua, trong làn sóng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi thành những khu công nghệ,
các nhà máy, khu chung cư...vì lẽ đó mà diện tích đất phục vụ cho nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp. Tại các địa phương việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang
phục vụ cho công nghiệp diễn ra khá rầm rộ, hàng nghìn hécta đất nông nghiệp màu
mỡ bị mất đi.
Theo thống kê 50% số đất nông nghiệp bị thu hồi trong thời gian qua nằm
trong những vùng canh tác trọng điểm, khu vực đông dân, có tốc độ phát triển
nhanh. Điển hình là khu vực đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ đất bị thu hồi nhiều nhất
với 4,4%. Trong đó, 80% diện tích này thuộc loại đất màu mỡ.
Tại Bắc Ninh, tổng sản lượng lúa trong vài năm trở lại đây đã giảm mạnh do
đất nông nghiệp giảm. Năm 2010, diện tích đất trồng trọt còn 40.151 ha.Theo quy
hoạch của tỉnh đến năm 2020 diện tích đất trồng trọt giảm còn 33.500 ha.
Qua khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 cho thấy, không có giá trị sản
phẩm công nghiệp nào so được với giá trị 1 tấn lúa gạo. Hơn lúc nào hết, đất lúa
“kêu cứu” là một thực trạng trong khi diễn biến khí hậu đang làm cho sản xuất nông
nghiệp gặp khó khăn hơn. Từ đầu năm 2008, giá gạo trên thị trường thế giới liên tục
tăng và đã lâu rồi, vấn đề an ninh lương thực toàn cầu lại được xới lên. Trên thế
giới, ngay các nước giàu vẫn bỏ tiền ra giữ đất trồng lúa, vậy Việt Nam là nước
nông nghiệp với nền văn minh lúa nước cần giữ gìn bảo vệ diện tích đất lúa.

19

2.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1. Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước
mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên
thế giới. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối
với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất để từ đó có thể sắp
xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của
từng vùng.
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng
đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, các kỹ thuật
canh tác mới. Đặc biệt, Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI cũng đóng góp nhiều
thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất lúa. Xu hướng chung trên thế
giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng
đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản
lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm (Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006).
Ở Châu Âu đã đưa chế độ luân canh 4 năm, 4 khu vực với hệ thống cây trồng
gồm: khoai tây, ngũ cốc mùa xuân, cây cỏ ba lá và ngũ cốc mùa đông vào thay thế
chế độ luân canh 3 năm, 3 khu với hệ thống cây trồng chủ yếu là: ngũ cốc, ngũ cốc,
bỏ hóa làm cho sản lượng ngũ cốc tăng gấp 2 lần và sản lượng lương thực thực
phẩm trên 1 ha tăng gấp 4 lần (Nguyễn Duy Tính, 1995).
Ở Châu Á những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều vùng đã đưa các cây trồng
cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa làm tăng hiệu quả sử dụng đất. Nông nghiệp
Ấn Độ thực hiện sự chuyển dịch từ cây trồng truyền thống kém hiệu quả sang cây
trồng có hiệu quả cao bằng cách trồng mía thay cho lúa gạo và lúa mì, trồng đậu
tương thay cho cao lương ở vùng đất đen, trồng cây lúa ở vùng có mạch nước ngầm
cao thay cho cây lấy hạt có dầu, bông và đậu đỗ (Nguyễn Văn Luật, 2005).
Theo báo cáo của tổ chức FAO, nhờ các phương pháp tạo giống hiện đại như
đột biến thực nghiệm, công nghệ sinh học các nước trồng lúa trên thế giới đã tạo ra
nhiều giống đột biến, trong đó có các nước đi đầu như Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Mỹ.
Gần đây, vấn đề khai thác đất gò đồi đã đạt được những thành tựu đáng kể ở
một số nước trên thế giới. Hướng khai thác chủ yếu trên đất gò đồi là đa dạng hóa

20

cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây nông
nghiệp trên cùng một vạt đất dốc (Nguyễn Duy Tính, 1995). Một số nước đã ứng
dụng công nghệ thông tin xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân
tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật ..., kết
hợp giữa bón phân vào đất, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất kích thích, điều hòa
sinh trưởng đã mang lại hiệu quả sản xuất rất cao (Viện quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp, 2006).
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố
quyết định đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện. Chính phủ Trung Quốc
đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất
cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của
nông dân trong sản xuất (Đỗ Thị Tám, 2001).
Những năm gần đây, việc bảo quản nông sản sau thu hoạch đã được các nhà
khoa học trên thế giới nghiên cứu và đưa vào những tiến bộ kỹ thuật thiết thực
nhằm giảm thiểu hiện tượng ”mất mùa trong nhà”. Những thiết bị sau thu hoạch bao
gồm: công nghệ sấy khô nông sản, công nghệ làm lạnh nông sản, cấu trúc kho tàng,
công nghệ hóa học ... Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo chất lượng sau thu hoạch (chất
lượng thực phẩm, vi sinh vật thực phẩm ...), quản lý sau thu hoạch (quản lý trang
trại, quản lý doanh nghiệp, kinh tế học), công nghệ bao gói sau thu hoạch (công
nghệ polyme, công nghệ in ấn ...) cũng được nghiên cứu và áp dụng thành công ở
một số nước như Hà Lan, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Thái Lan....
2.4.2 . Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nước
Trong những năm qua, nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng, Nhà nước và
sự trú trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp,
đội ngũ khoa học của ngành đã nghiên cứu thành công trên nhiều lĩnh vực như: giống
cây trồng vật nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ lợi, canh tác, bảo vệ thực vật, phân bón ...
Nhiều công trình nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá cao, được Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đã
đưa vào áp dụng trong sản xuất, đưa năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp
không ngừng tăng trong những năm qua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người
sản xuất đánh giá cao.
Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên
cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng

21

(1993), đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu
bền của, phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của các tác
giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990). Những nghiên cứu này giúp
người sản xuất có những hiểu biết và kiến thức để đưa ra được những quyết định,
lựa chọn đúng đắn trong các hoạt động nông nghiệp.
Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3
- 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới
tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng trong việc bố
trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây thực phẩm cao
cấp đạt hiệu quả cao.
Từ những năm 1996 đến nay, nhiều chương trình đánh giá đất cho những
vùng sinh thái khác nhau, từ tỉnh đến các huyện trọng điểm đã được thực hiện. Đó
là công trình do Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm chủ trì đã
xác định toàn tỉnh Đồng Nai có 15 đơn vị đất đai trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 với 92
hệ thống đất chính là 165 hệ thống sử dụng đất chi tiết. Công trình "Đánh giá hiệu
quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất chính ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng” do Lê Thái Bạt, Nguyễn Thị Dần, Luyện Hữu Cử, Phan Quốc Hưng thực
hiện năm 2003. Kết quả đã xác định được huyện Trùng Khánh có 5 loại hình sử
dụng đất chính, trong đó loại hình cây lâu năm cho hiệu quả kinh tế cao nhất (thu
nhập thuần đạt trên 10 triệu đồng/ha/năm), loại hình lúa - màu có hiệu quả kinh tế
thấp nhất (chỉ đạt 3,23 triệu đồng/năm/ha). Ngoài ra còn nhiều công trình đánh giá
đất theo phương pháp phân hạng thích hợp cho các dự án trồng các loại cây công
nghiệp, cây ăn quả… ở nhiều địa phương khác như của Đỗ Nguyên Hải, Đoàn Công
Quỳ (2000), Thái Phiên (2003).
Để đem lại hiệu quả cao nhất khi sử dụng đất nông nghiệp thì công việc đánh
giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và thực sự cần
thiết. Từ việc đánh giá ta sẽ xác định được các loại hình sử dụng đất phù hợp với
điều kiện của địa phương cũng như thu được hiệu quả cao nhất giúp cải thiện đời
sống của nhân dân trong vùng từng bước xóa đói, giảm nghèo trên chính mảnh đất
của người nông dân.
2.4.3. Những nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh và huyện Tiên Du
Bắc Ninh có diện tích tự nhiên chỉ chiếm 0,2% diện tích tự nhiên cả nước và
là điạ phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 63 tỉnh, thành phố. Theo kết quả

22

tổng điều tra đất trong tổng diện tích đất tự nhiên của Bắc Ninh, đất nông nghiệp
chiếm 58,64%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 1,93%; đất chuyên dùng chiếm
25,02%; đất ở chiếm 11,91%; còn lại 0,13% là đất có mặt nước, sông suối, đồi núi
chưa sử dụng. Trong những năm qua do quá trình CNH-HĐH một phần lớn diện
tích đất nông nghiệp ở Bắc Ninh nói chung và huyện Tiên Du nói riêng đã bị
chuyển đổi mục sử dụng để phục vụ sự phát triển của các ngành công nghiệp dịch
vụ. Sự phát triển đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế nhưng là một bài toán khó về
các vấn đề môi trường và sử dụng đất bền vững.
Trước đây, tỉnh đã tiến hành phân hạng đất để phục vụ quản lí Nhà nước về
đất đai như: thu thuế, giao đất và thu hồi đất ... Ở cấp huyện đã xây dựng được các
loại bản đồ tỷ lệ 1:25000 theo các chuyên đề: bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thuỷ lợi ...
Những năm gần đây, tuy công tác đánh giá đất phát triển mạnh ở nước ta nhưng
Tỉnh Bắc Ninh chỉ làm ở các huyện trọng điểm. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất đã
được thực hiện tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh như huyện Yên Phong, huyện
Tiên Du, huyện Lương Tài. Có một số đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh về nâng
cao hiệu quả sử dụng đất như Luận án “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử
dụng tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững” của tác
giả Nguyễn Thị Ngọc Lanh thực hiện năm 2011 thực hiện các nội dung nghiên cứu
về thực trạng quản lý, sử dụng đất, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi
trường về phát triển các làng nghề; quản lý sử dụng đất theo quan điểm bền vững;
Năm 2000, Đỗ Nguyên Hải trường ĐHNNI đã nghiên cứu đồ án "Đánh giá
đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp huyện Tiên Sơn tỉnh
Bắc Ninh" Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp Trường ĐHNNI - Hà Nội.
Năm 2004, Trần Văn Tuý đã nghiên cứu đồ án "Thực trạng và những giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất nông sản hàng hoá ở tỉnh Bắc Ninh", luận án
tiến sĩ nông nghiệp Trường ĐHNNI - Hà Nội. Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng
tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nông nghiệp hàng hoá nói
riêng, đưa ra những định hướng, mục tiêu, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm
khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện của tỉnh đề đẩy mạnh phát triển nông sản
hàng hoá ở tỉnh Bắc Ninh.
Hiện nay tỉnh Bắc Ninh cũng đã hình thành một số vùng sản xuất nông sản
hàng hoá như:

23

- Vùng sản xuất lúa gạo: Vùng lúa tám xoan ở xã Chi Lăng huyện Quế Võ,
Vùng lúa thơm có năng suất cao (giống DT 122) ở xã Phú Hoà và Trung Chính
huyện Lương Tài; vùng lúa nếp hoa vàng và giống nếp 9603 tập trung ở các xã Đình
Bảng và Tương Giang huyện Từ Sơn, huyện Yên Phong, Tiên Du.... Các vùng lúa
hàng hoá này đều cho thu nhập cao hơn từ 1,2-1,4 lần thóc tẻ thường trên cùng một
diện tích.
- Vùng sản xuất rau và hoa: Hiện nay ở một số huyện trong tỉnh đã hình
thành một số vùng sản xuất rau tập trung như: rau sạch ở Đại Phúc thành phố Bắc
Ninh và xã Phù Chẩn huyện Từ Sơn; rau xuất khẩu ở các xã Trung Nghĩa và Khúc
Xuyên Yên Phong, Phật Tích Tiên Du và Khắc Niệm thành phố Bắc Ninh.... Đối
với trồng hoa cây cảnh đây là nghề mới phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao,
nhưng hiện toàn tỉnh chưa có những vùng tập trung lớn, hiện tại đã có những vùng
nhỏ trồng cây cảnh như ở Đình Bảng huyện Từ Sơn, xã Phú Lâm huyện Tiên Du
cho hiệu quả kinh tế cao, thu nhập bình quân từ 500 - 600 triệu đồng/ha/năm. Đối
với trồng hoa Bắc Ninh chưa có vùng sản xuất hàng hoá, nhưng các mô hình, các dự
án đều có ở hầu hết các huyện đều cho thu nhập từ 150-200 triệu đồng/ha/ năm.
- Vùng chăn nuôi lợn có quy mô lớn ở Văn Môn (Yên Phong), Nhân Hoà
huyện Quế Võ, Đình Bảng huyện Từ Sơn, Tân Lãng huyện Lương Tài.... Chăn nuôi
bò sữa ở xã Cảnh Hưng huyện Tiên Du.
- Vùng nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh có các vùng: xã Mão Điền
huyện Thuận Thành sản xuất cá giống; các xã Nhân Thắng, Xuân Lai huyện Tiên
Du, xã Trung Chính, Phú Hoà huyện Lương Tài, các xã Đức Long và Đào Viên
huyện Quế Võ là vùng sản xuất cá thương phẩm.
Huyện Tiên Du sau khi điều chỉnh địa giới hành chính gồm 14 đơn vị
hành chính với 13 xã và 1 thị trấn. Một số công trình nghiên cứu trọng điểm có
liên quan đến phát triển nông nghiệp của huyện là: Năm 2001, Nguyễn Hữu
Thành đã nghiên cứu đồ án " Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng theo hướng
sản xuất hàng hóa tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh ", luận án tiến sĩ nông nghiệp
Trường ĐHNNI - Hà Nội. Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng hệ thống cây trồng,
tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nông nghiệp hàng hoá nói
riêng, nghiên cứu cũng đã đưa ra những định hướng, mục tiêu, từ đó đề xuất các
giải pháp chủ yếu cải tiến hệ thống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa trên
địa bàn huyện.

24