Tải bản đầy đủ
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ

ờng dâng cao gây ảnh hưởng tới việc thoát nước từ đồng ruộng, dễ gây ngập úng
cục bộ, thiệt hại mùa màng.
e. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Căn cứ về việc phê duyệt kết quả thực hiện dự án điều chỉnh, bổ sung
hoàn thiện bản đồ đất phục vụ công tác quản lý tài nguyên môi trường tỉnh Thanh
Hoá, tỷ lệ 1/50.000. Diện tích điều tra 19.033,58 ha, được phân chia thành các
loại đất sau: Đất glây sâu Pcg2 (Endogleyi Dystric Fluvisols - Ký hiệu FLd- g2).
Đất glây nông Pcg1 (Epigleyi Dystric Fluvisols - Ký hiệu FLd- g1). Đất phù sa có
tầng đốm gỉ trung tính ít chua Pr. Đất đỏ F (Feralsol - ký hiệu FR) và đất xói mòn
mạnh trơ sỏi đá E (Leptosols -Ký hiệu LP)
* Tài nguyên nước
Tài nguyên nước, kể cả nước mặt và nước ngầm của huyện Yên Định khá
dồi dào, phong phú. Đặc biệt là nguồn nước mặt. Chất lượng nước chưa bị ô
nhiễm. Với nhu cầu sử dụng hiện nay và trong những năm tới, nguồn nước vẫn
đảm bảo cung cấp và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt. Tuy nhiên, cũng cần có phương
án hợp lý trong việc khai thác, sử dụng để tránh nguy cơ ô nhiễm, đặc biệt là sử
dụng hoá chất thuốc trừ sâu bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và rác thải trong sinh hoạt.
* Tài nguyên rừng
Yên Định không có rừng tự nhiên. Toàn huyện hiện có 729,96 ha đất rừng
trồng sản xuất với các loại cây chủ yếu là keo lá tràm, lát, muồng... Nguồn tài
nguyên rừng không lớn nhưng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, điều hoà
môi trường và phát triển chăn nuôi kết hợp vườn rừng cây ăn quả, cây lâu năm.
* Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của Yên Định gồm 3 loại chính: cát, sỏi, đá và đất là
một trong những thuận lợi trong việc đầu tư khai thác, nâng cao đời sống nhân dân.
Các mỏ cát, sỏi chủ yếu nằm tập trung ở các xã dọc sông Mã như xã Yên Thọ, Yên
Trường, Yên Phong, Định Tân, Định Tiến.. Các mỏ đá nằm chủ yếu tập trung ở xã
Yên Lâm và chủ yếu rải rác ở các xã Quý Lộc, Yên Trung, Định Tăng, Định Tiến,
Định Thành. Tài nguyên đất sét dùng làm gạch tuynel có ở các xã như Định Tiến,
Định Tân, Định Công, Định Liên, Yên Tâm, Yên Ninh…

33

Nguồn khoáng sản của Yên Định có thể khai thác cho phát triển công
nghiệp địa phương, sản phẩm tiêu thụ ngay trên địa bàn huyện như phân bón, đỏ,
cát sỏi, có khả năng cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trên thị trường toàn tỉnh
hiện nay và sau này.
* Tài nguyên nhân văn - du lịch
Yên Định là mảnh đất nhiều truyền thống lịch sử. Người dân nơi đây với
tinh thần cần cù, sáng tạo, giàu lòng nhân ái đã không ngừng vươn lên xây dựng
quê hương ngày càng đẹp hơn. Yên Định có quần thể di tích Đền thờ Bà Ngô Thị
Ngọc Giao (ở Định Hoà) - mẹ vua Lê Thánh Tông; Đền thờ Khương Công Phụ ở
Định Thành; Đền thờ Đào Cao Mộc ở Yên Trung; đền Đồng Cổ ở Yên Thọ và
nhiều di tích khác. Đây là tiềm năng lớn để phát triển du lịch.
g. Thực trạng môi trường và cảnh quan đô thị
* Thực trạng môi trường
Là huyện đồng bằng của tỉnh nhưng không phải là huyện trọng điểm để phát
triển các ngành công nghiệp. Nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông
nghiệp. Vì vậy môi trường trên địa bàn huyện còn ở mức ổn định.
* Cảnh quan đô thị
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cảnh quan
huyện Yên Định cũng được chú trọng thông qua việc quy hoạch, xây dựng các
công trình văn hóa phúc lợi công cộng… làm cho cảnh quan huyện ngày càng
đẹp hơn. Tuy nhiên, cảnh quan huyện cũng còn nhiều bất cập, đòi hỏi cần được
đầu tư, cải tạo trong những năm tới.
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế của huyện Yên Định đó có mức tăng
trưởng cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội được đầu tư đáng kể và tương đối đồng bộ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đều
có bước phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tích, đời sống nhân dân được cải
thiện, quốc phòng - an ninh được tăng cường vững chắc, trật tự xã hội có nhiều
chuyển biến tiến bộ. Kết quả đạt được tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 17,66%, mức tăng cao
nhất so với các nhiệm kỳ trước. GDP năm 2015 theo giá so sánh năm 1994 đạt
2.795,18 tỷ đồng, gấp 2,25 lần so với năm 2010. GDP bình quân đầu người năm
2015 đạt 35.365 triệu đồng.

34

4.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a. Về sản xuất Nông nghiệp
Những chương trình đột phá, đi đầu như: duy trì và mở rộng sản xuất giống
lúa lai F1, ngô lai F1; phát triển mô hình kinh tế trang trại; tổ chức tốt phong trào
làm đường giao thông và kênh mương nội đồng; sớm hoàn thành chương trình xây
dựng vùng năng suất, chất lượng, hiệu quả; tích cực chuyển giao các tiến bộ khoa
học - công nghệ, đưa cơ giới và cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất.
Trình độ thâm canh cây trồng của nông dân được nâng lên; năng suất lúa
bình quân 13,3 tấn/ha/năm, năng suất ngô 10 tấn/ha/năm. Diện tích cây công
nghiệp, cây thực phẩm được mở rộng và sản xuất đạt hiệu quả cao như: mía
(1.000 ha), đậu tương (1.800 ha), ớt (500 ha)… Diện tích vụ Đông đạt trên 5.800
ha. Hệ số sử dụng đất hàng năm bình quân đạt 2,5 lần. Giá trị sản xuất 1 ha canh
tác tăng từ 76,95 triệu đồng (năm 2010) lên 120 triệu đồng (năm 2015). Chương
trình xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả được tổ chức
thực hiện tốt. Đến vụ xuân 2014, đã hoàn thành mục tiêu xây dựng 8.000 ha và
về trước thời gian 1,5 năm so với kế hoạch tỉnh giao.
Mặc dù bị ảnh hưởng của dịch bệnh, nhưng ngành chăn nuôi vẫn duy trì
phát triển cả về số lượng và chất lượng. 34 trang trại chăn nuôi lợn ngoại tập
trung và 7 trang trại chăn nuôi gia cầm có quy mô sản xuất lớn, tốc độ chu
chuyển đàn nhanh, phát huy tốt hiệu quả, cùng với phát triển chăn nuôi hộ gia
đình đó đưa giá trị sản xuất ngành chăn nuôi bình quân hằng năm tăng 18,65%;
tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 43,58% (năm
2010) lên 52% năm 2015. Đến nay, tổng đàn trâu 9.516 con, đàn bò 19.264 con,
đàn lợn 59.135 con, đàn gia cầm 1.261.000 con. Diện tích nuôi trồng thủy sản
tăng từ 942 ha (năm 2010) lên 978 ha (năm 2015); tốc độ tăng giá trị sản xuất
bình quân hàng năm tăng 17,75% đồng; tổng giá trị sản xuất (giá 1994) năm
2015 ước tăng 2,26 lần so với năm 2010. Việc củng cố và nâng cao chất lượng
các trang trại theo tiêu chí mới được quan tâm. Đến nay, trong tổng số 875 trang
trại và gia trại, đó có 107 trang trại đạt tiêu chí mới.
Nông dân đó đưa cơ giới vào khâu làm đất đạt 97%, vận chuyển đạt 95%,
thu hoạch lúa 40%, cấy mạ khay 10%..., góp phần tăng năng suất lao động, đảm
bảo cho sản xuất và thu hoạch kịp thời vụ.

35

Nhiều tiến bộ khoa học, công nghệ nông nghiệp mới được chuyển giao
rộng rãi trong sản xuất như: kỹ thuật sản xuất lúa lai F1, ngô lai F1, lúa thuần,
đậu tương đó được tổ chức thực hiện ở 18 xã. Xã Định Tường, Định Tân, Định
Tiến, Định Hũa và Định Hưng sản xuất 512 ha giống lúa lai F1 (tăng 2 lần so với
năm 2010) đó đạt năng suất, chất lượng tiêu chuẩn quốc gia. Kỹ thuật nuôi lợn
nái ngoại, bò lai Sindl, bảo quản sau thu hoạch được áp dụng rộng rãi và đạt hiệu
quả cao. Mô hình sản xuất rau an toàn, ớt xuất khẩu, trồng hoa, cây ăn quả, cây
cảnh đạt hiểu quả cao. Sự kết hợp giữa “bốn nhà” - Nhà nước, nhà doanh nghiệp
và Nhà khoa học được chặt chẽ, hiệu quả hơn.
b. Ngành công nghiệp, TTCN - XDCB
Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
giao đoạn 2011 - 2015”, huyện đã có nhiều chủ trương và giải pháp khuyến khích
phát triển CN-TTCN. Do đó, các cơ sở khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng,
mộc dân dụng, cơ khí nhỏ, chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ… tiếp tục phát
triển, nâng cao chất lượng và mở rộng sản xuất; đó thu hút được nhiều dự án lớn
đầu tư vào huyện như: Công ty May xuất khẩu Tiên Sơn, Quang Minh; Nhà máy
Giày xuất khẩu Sun Jade (Đài Loan)… Tốc độ tăng giá trị xản xuất CN-TTCN
(giá 1994) bình quân hàng năm đạt 28,39%.
Tổng vốn đầu tư XDCB giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 5.384 tỷ đồng, tăng
2,75 lần so với nhiệm kỳ trước. Một số dự án lớn đó hoàn thành và đưa vào sử
dụng như: cầu Yên Hoành qua sông Mã, đường nối quốc lộ 217 và quốc lộ 45,
Trung tâm hội nghị huyện, trụ sở làm việc huyện ủy, hạ tầng kỹ thuật khu dân
cư Định Liên, Định Long, đường vành đai thị trấn Quán Lào, trụ sở làm việc
của 16 xã và thị trấn… 98 km đường giao thông cấp huyện được nâng cấp lên
tỉnh lộ và đã bàn giao cho Sở giao thông quản lý. Ngành Điện lực đầu tư 142 tỷ
đồng để cấp thêm 57 trạm biến áp và cải tạo, nâng cấp 34 km đường dây cao
thế, 369 km đường dây hạ thế, đảm bảo điện cho sản xuất kinh doanh và sinh
hoạt của nhân dân. Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản luôn
được tăng cường. Các công trình, dự án luôn được thi công đảm bảo tiến độ,
chất lượng theo thiết kế được phê duyệt.
c. Về hoạt động của ngành tài chính, thương mại, dịch vụ
Ngành tài chính đã có nhiều giải pháp hiệu quả để tăng thu ngân sách và
huy động vốn cho đầu tư phát triển. Thu ngân sách hàng năm đều vượt kế hoạch

36

5% so với dự toán tỉnh giao, bình quân hàng năm huy động 11% - 12% GDP vào
ngân sách. Chi ngân sách đảm bảo đúng luật, tập trung ưu tiên cho đầu tư phát
triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội… Hoạt động tín dụng,
ngân hàng, kho bạc đã có những bước tiến bộ rõ rệt, đảm bảo đủ vốn và phục vụ
tốt hơn nhu cầu vay vốn của nhân dân. Tổng dư nợ tăng từ 895 tỷ đồng (năm
2010) lên 1.588 tỷ đồng (năm 2015)
Hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển rộng rãi, hàng hóa thị trường
phong phú, đa dạng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 1.516 tỷ đồng; giá
trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đạt 22 triệu USD. Các mặt hàng chủ yếu tham gia
xuất khẩu là: Đá xẻ, may mặc, nông sản và hàng thủ công mỹ nghệ…
Dịch vụ viễn thông, internet, các dịch vụ truyền hình phát triển nhanh và
phổ biến trong địa bàn; đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt và nâng đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân. Số máy điện thoại cố định, di động tăng từ 38.000 máy
(tháng 12/2010) lên 106.700 (tháng 7/2015), đạt bình quân 62,7 máy/100 dân.
Dịch vụ vận tải hàng hóa, vận tải hành khách phát triển cả khu vực tư nhân, nhà
nước và tập thể, góp phần tích cực giải quyết nhu cầu đi lại, cung ứng vật tư, hàng
hóa và thu mua nông sản thực phẩm… thúc đẩy sản xuất phát triển.
d. Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
UBND các cấp đã phối hợp với các ngành chức năng cấp tỉnh tổ chức thực
hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, từ quản lý quy hoạch,
đánh giá tiềm năng, đến đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Đó cơ bản giải
quyết tình trạng khai thác cát, sỏi… hạn chế thất thoát tài nguyên. Quy hoạch sử
dụng đất cấp huyện được phê duyệt; hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
cấp xã gắn với xây dựng nông thôn mới; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đạt 97,16%. Tập trung chỉ đạo giải quyết,
từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cơ
sở sản xuất, nơi công cộng - nhất là đã tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng
ảnh hưởng tới môi trường ở Yên Lâm, tình trạng ô nhiễm môi trường do trang
trại chăn nuôi lợn gây ra ở Yên Tâm.
Công tác du nhập, chuyển giao các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản
xuất và đời sống được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm. Việc ứng dụng kỹ
thuật sản xuất giống cây trồng, vật nuôi được chuyển giao đồng bộ, rộng rãi cho
nông dân, như: kỹ thuật sản xuất giống lúa lai F1, giống lúa nguyên chủng, ngô

37

lai F1, đậu tương… kỹ thuật nuôi lợn nái ngoại, bò lai Sindl, nuôi trồng thủy sản,
cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa, bảo quản sau thu hoạch; kỹ thuật sau an
toàn, trồng hoa, cây ăn quả, cây cảnh… Một số kỹ thuật cao trong khám, chữa
bệnh được chuyển giao và thực hiện thành công, góp phần nâng cao chất lượng
khám, chữa bệnh cho nhân dân. Công nghệ tin học được ứng dụng rộng rãi trong
các cơ quan, đơn vị. Huyện đã chủ động tranh thủ tư vấn, phản biện, giám định
của các tổ chức khoa học - công nghệ của Trung ương, của tỉnh trong việc giúp
huyện hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và thẩm định
các chương trình, đề án, dự án lớn quan trọng.
4.1.2.3. Về văn hóa - xã hội
a. Lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục, thể thao
Đến nay, trong 25/29 xã, thị trấn đã khai trương xây dựng đơn vị văn hóa,
có 14 xã và thị trấn được công nhận đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; 243/248
thôn, khu phố (98%) được công nhận là đạt chuẩn văn hóa; 85% số hộ đạt tiêu
chuẩn gia đình văn hóa. Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội có
chuyển biến tốt hơn. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị của các di tích lịch sử,
văn hóa được quan tâm chú trọng; 7 di tích lịch sử văn hóa được tu bổ bằng
nguồn vốn xã hội hóa; hoạt động sáng tác ca khúc và Hội diễn văn nghệ quần
chúng được tổ chức thường xuyên hơn, mang lại hiệu quả thiết thực; các lễ hội
truyền thống, trò diễn dân gian được khôi phục…, đã góp phần giữ gìn bản sắc
văn hóa truyền thống của địa phương.
Hệ thống thông tin, viễn thông được phủ kín trên địa bàn huyện. Hệ thống
truyền thanh, truyền hình ở huyện và xã đã phục vụ tốt công tác tuyên truyền,
đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với
nhân dân. Phong trào tập luyện thể dục thể thao thu hút 36,5% số dân tham gia
thường xuyên. Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thể thao được tăng cường.
b. Giáo dục - Đào tạo
Công tác xã hội hóa giáo dục phát triển sâu rộng, huy động tổng hợp các
nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học. Công tác
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đạt kết quả tốt. 29/29 trung tâm
học tập cộng đồng hoạt động đạt hiệu quả thiết thực.
c. Về công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em
Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường. Năm 2014, Bệnh viện
đa khoa huyện tiếp nhận dự án bổ sung, nâng cấp thiết bị trị giá 31 tỷ đồng. Bệnh

38

viện Đa khoa Trí Đức đi vào hoạt động, nâng tổng số gường bệnh lên 220
giường. Đến cuối năm 2015, 28/29 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai
đoạn 2011 - 2020. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 65%.
Công tác y học dự phòng, nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh
môi trường được quan tâm chặt chẽ hơn, đã có 85% số hộ dựng nước sạch và hợp
vệ sinh. Công tác dân số, gia đình và trẻ em đạt hiệu quả cả về truyền thông và
dịch vụ. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 0,6% (năm 2010) xuống còn 0,59 %
(năm 2015).
d. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư
Trong quá trình đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, huyện Yên Định đã
từng bước đẩy mạnh quá trình đô thị hoá; các khu đô thị được hình thành; tỷ lệ
đô thị hoá tăng qua các năm. Quản lý quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng
đất được quan tâm. UBND huyện đã chỉ đạo xây dựng nhiều công trình hạ tầng
văn hoá xã hội: công viên, quảng trường, các trường học, bệnh viện, trụ sở, cơ
quan, doanh nghiệp… đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân và tạo thêm điểm
nhấn cảnh quan đô thị.
Huyện Yên Định là huyện trọng yếu của toàn tỉnh, hiện có 2 thị trấn là Quán
Lào và Thống Nhất. Tuy nhiên, kiến trúc đô thị còn chắp vá và theo sở thích của
người sử dụng, chưa quản lý theo thiết kế và quy hoạch. Theo quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội huyện Yên Định đến năm 2020, bên cạnh việc xây dựng
hoàn chỉnh những đô thị hiện có đảm bảo đúng theo quy hoạch, trên địa bàn
thành phố sẽ có nhiều xã, thị tứ được đô thị hoá, và sẽ xây dựng thêm một số khu
đô thị có tầm phát triển hiện đại. Do đó trong những năm tới cần quy hoạch bố trí
đất đai cho các khu vực phát triển theo kiểu đô thị hóa.
Mạng lưới các khu dân cư nông thôn được phân bố tương đối đều trên toàn
diện tích tự nhiên. Trên địa bàn mỗi xã bình quân thường 5 - 7 điểm dân cư. Do
được hình thành từ lâu đời nên mang đậm tính chất làng xóm của nông thôn Việt
Nam, kiến trúc nhà ở đại đa phần là nhà cấp 4a, 4b, khuôn viên mỗi hộ thông
thường bao gồm các công trình nhà ở, bếp, sân, chuồng trại và ao vườn. Nhà theo
hướng tuỳ thích hoặc theo phong tục nên về mặt mỹ quan chưa đạt, đã ảnh hưởng
lớn đến môi trường khu dân cư. Mặt khác hệ thống cơ sở hạ tầng trong các khu
dân cư nông thôn phát triển chưa đồng bộ, chưa theo quy hoạch, hệ thống tiêu
thoát nước chưa đảm bảo, hệ thống giao thông nông thôn chất lượng còn rất kém,
các công trình phúc lợi công cộng như nhà văn hoá, nhà trẻ, sân chơi còn thiếu.
Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, về sự gia tăng dân số thì nhu cầu san

39

tách hộ và nhu cầu đất ở cũng như đất xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình
phúc lợi công cộng sẽ tăng theo.
Việc bảo vệ môi trường ở các khu vực nông thôn có nhiều hạn chế, chất thải (đặc
biệt là chất thải gia súc, gia cầm), rác thải sinh hoạt chủ yếu vẫn được thu gom có tổ
chức, tuy nhiên vì thu gom và xử lý thô (chôn lấp, đốt) chưa có biện pháp xử lý khoa
học nên còn gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, môi trường đất,...
Trong thời gian tới, xu thế mở rộng thị trấn Quán Lào, thành lập mới thị
trấn Kiểu, phát triển xã Yên Tâm và Định Tân lên đô thị và các khu vực thị tứ.
Mạng lưới các khu dân cư nông thôn được phân bố tương đối đều trên toàn diện
tích tự nhiên. Trên địa bàn mỗi xã bình quân có từ 5 - 7 điểm dân cư.
4.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN
YÊN ĐỊNH
4.2.1. Công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện
Công tác quản lý đất đai luôn được UBND huyện Yên Định chú trọng và đã đi
vào nề nếp, công tác quản lý ngày càng tốt hơn, hệ thống quản lý đất đai từ huyện đến
các xã, thị trấn đảm bảo việc quản lý đất đai theo các nội dung quy định.
a. Việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ
chức chỉ đạo thực hiện các văn bản đã được ban hành
Công tác quản lý đất đai là vấn đề phức tạp và rất nhạy cảm do vậy UBND
huyện thường xuyên kiểm tra đôn đốc công tác triển khai các văn bản liên quan
đến công tác quản lý đất đai như: Luật đất đai năm 2003; Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về việc thi hành
Luật đất đai; Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ Quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư liên tịch số
04/2006/TTLT-BTP-BTNMT; các văn bản thực hiện quyền của người sử dụng
đất và các văn bản pháp luật về đất đai mới có hiệu lực trong năm 2010. Nghị
định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung sử dụng đất, giá đất, thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Sau khi Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật
Đất đai có hiệu lực, Uỷ ban nhân dân Huyện Yên Định đã tổ chức các lớp tập
huấn cho các cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Đồng thời tổ chức tuyên truyền, tìm hiểu
về Luật Đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng và bằng nhiều hình thức

40

phong phú nhằm giúp người dân hiểu và thực hiện luật đất đai, uốn nắn kịp thời
những trường hợp vi phạm trong công tác quản lý đất đai trên địa bàn, tổ chức
công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để người dân biết và góp ý trong quá
trình tổ chức thực hiện.
b. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ hành chính, lập bản đồ
hành chính
Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đến nay huyện đã hoàn thành việc hoạch định ranh giới hành chính trên cơ
sở tài liệu bản đồ cũ, có chỉnh lý và bổ sung, xây dựng nên bản đồ hành chính
của huyện. Bản đồ nền có địa giới theo Chỉ thị 364/CT-HĐBT đã được xây dựng,
đồng thời công bố diện tích tự nhiên của các cấp hành chính. Hồ sơ được lập, lưu
trữ và quản lý theo đúng quy định của pháp luật.
c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, lập hồ sơ địa chính
Công tác điều tra khảo sát, đánh giá được huyện quan tâm nhằm phục vụ
cho các dự án phát triển nông nghiệp, các vùng chuyên canh, các vùng nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được tiến hành
theo định kỳ, có bổ sung, chỉnh lý hàng năm. Đã lập bản đồ hiện trạng sử dụng
đất của huyện năm 2005 và bản đồ quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Định đến
năm 2010.
Thực hiện tổng kiểm kê đất đai năm 2015 tiến hành xây dựng bản đồ hiện
trạng sử dụng đất năm 2015 của huyện Yên Định.
Nhìn chung, trong những năm qua công tác đo đạc thành lập bản đồ địa
chính được tiến hành đã giúp huyện, các xã nắm chắc quỹ đất, tăng cường một
bước công tác quản lý nhà nước về đất đai, phục vụ kịp thời việc giao đất, thu hồi
đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công tác này đã được tiến hành
từ năm 1994, đến nay đã cơ bản hoàn thành. Hầu hết diện tích đất của huyện Yên
Định (trừ thị trấn Thống Nhất), đã được đo đạc địa chính, lập bản đồ địa chính
chính quy.
Các sản phẩm đo đạc bản đồ địa chính hiện nay ở dang giấy và dạng số theo
hệ tọa độ VN2000 được sử dụng để phục vụ các nhu cầu về quản lý đất đai và làm
cơ sở để phát triển đo đạc, lập các bản đồ chuyên đề của các ngành.

41

d. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Do nhận thức đây là công tác quan trọng để quản lý đất đai theo luật định,
định hướng cho người sử dụng đất đúng mục đích có hiệu quả. UBND huyện Yên
Định đã giao nhiệm vụ cho cơ quan quản lý đất đai của huyện phối hợp với các cơ
quan Trung ương, tỉnh xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai
năm 1993, 2003, 2013 cụ thể:
- Báo cáo thuyết minh quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Định đến năm 2020
được phê duyệt và tổ chức thực hiện.
- Kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm của cấp xã, thị trấn và huyện đã được
phê duyệt.
e. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất được tiến hành thường xuyên và
theo đúng quy định của pháp luật. Quản lý việc chuyển mục đích sử dụng đất chưa
được chặt chẽ, về cơ bản chỉ thực hiện được ở những dự án đã được phê duyệt.
* Công tác giao đất
- UBND huyện ra quyết định giao đất cho 593 hộ gia đình, cá nhân trúng
đấu giá quyền sử dụng đất tại các xã Yên Phú, Yên Tâm, Yên Trung, Yên
Trường, Yên Hùng, Định Tường, Định Bình, Định Thành, Định Tân, Định Tiến,
Định Long, Định Liên, Định Hải, Định Hưng, Thị trấn Quán Lào, Thị trấn Thống
Nhất với diện tích giao 7,36 ha.
- Quy hoạch mặt bằng chi tiết đất ở đối với 09 xã xin quy hoạch cuối năm
2014, gồm: Yên Phú, Định Bình, Định Công, Định Tường, Định Thành, Định
Hải, Định Hưng, Yên Trung, Quý Lộc với 462 xuất, diện tích 68.423 m2.
* Công tác cho thuê đất
UBND huyện cho thuê đất đối với 06 hộ thuê đất phát triển kinh tế trang
trại tại các xã Quý Lộc, Định Hưng, Yên Ninh, Yên Thọ (02 hộ) với diện tích
7,81 ha. 04 hộ thuê đất sản xuất kinh doanh tại các xã Định Bình ( 02 hộ), Quý
Lộc, Yên Lâm diện tích 1,23ha.
- Hướng dẫn Công ty Đầu tư xây dựng và PTHT số 27 lập hồ sơ thuê đất
với UBND tỉnh Thanh Hoá tại xã Định Long diện tích 0,2 ha.
- Kiểm tra vị trí đất xin chấp thuận chủ trương địa điểm để đầu tư làm
trang trại của các hộ gia đình, cá nhân tại các xã Quý Lộc, Yên Thọ, Yên Phú,
Yên Bái.

42

- Phối hợp với các Sở ban ngành cấp tỉnh kiểm tra vị trí đất xin chấp thuận
chủ trương, địa điểm thực hiện dự án của các tổ chức, doanh nghiệp.
* Công tác thu hồi đất
Riêng năm 2015 UBND huyện thu hồi 413.622,6 m2 đất tại 18 xã để thực
hiện Dự án Nâng cấp hệ thống kênh trạm bơm Nam sông Mã tỉnh Thanh Hóa,
thuộc dự án Cải tạo nông nghiệp có tưới do WB tài trợ (WB7); thu hồi 365.624,8
m2 đất tại 12 xã Dự án Phát triển hệ thống tưới Bắc sông Chu - Nam sông Mã hồ
chứa nước Cửa Đạt, tỉnh Thanh Hóa (ADB6); thu hồi 6.898 m2 đất tại xã Yên
Thọ, 2.777,5 m2 đất tại xã Quý Lộc để thực hiện dự án Nâng cấp, cải tạo tuyến
đường làng Mố với đường 518 xã Yên Thọ - Quý Lộc, huyện Yên Định; Đường
528 vào khu di tích Bác Hồ xã Yên Trường.
f. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Trong những năm qua việc quản lý bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi
đất trên địa bàn huyện còn rất nhiều vấn đề bất cập như bồi thường, hỗ trợ không
thỏa đáng, không sát giá thị trường dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo của người
dân còn nhiều, việc giải phóng mặt bằng trong các dự án phát triển trên địa bàn
huyện còn gặp nhiều khó khăn, chậm tiến độ giao mặt bằng để thực hiện các dự án.
g. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
Trong những năm qua, công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản
lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND
huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện và đã đạt được kết qủa quan trọng. Việc đăng
ký, lập hồ sơ địa chính đã cơ bản hoàn thành, hệ thống sổ sách, hồ sơ địa chính
như sổ mục kê, sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai, sổ theo dõi cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được hoàn thiện theo đúng quy định.
Được sự quan tâm của UBND tỉnh, Sở TN&MT từ năm 1998 đến năm
2004 toàn huyện đã được đo đạc bản đồ địa chính mới với số xã 28/29 xã, thị trấn
(khi đó chưa thành lập thị trấn Thống Nhất), theo hệ toạ độ VN2000. Trong đó:
Thị trấn Quán Lào được đo đạc bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500, các xã còn lại tỷ lệ
1/2.000 và hoàn thiện bộ hồ sơ địa chính. Do vậy việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức tương đối thuận
lợi. Kết quả đạt được như sau:
Công tác thẩm định cấp QSD đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

43