Tải bản đầy đủ
1 KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT ĐAI VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT

1 KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT ĐAI VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT

Tải bản đầy đủ

Như vậy, đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn
diện và phân hạng là việc làm cụ thể để phân định ra mức độ thích hợp cao hay
thấp. Kết quả đánh giá, phân hạng đất đai được thể hiện bằng bản đồ, báo cáo và
các biểu đồ số liệu kèm theo.
2.1.2.2. Các phương pháp và trường phái đánh giá đất chính
Theo sự phát triển của ngành Khoa học đất nói chung thì công tác đánh
giá đất cũng được hình thành và phát triển, có nhiều phương pháp đánh giá đất
được ra đời nhưng có 3 phương pháp được xem là trọng tâm:
- Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán.
- Đánh giá đất theo phương pháp thông số.
- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng.
Tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi nước đã lựa chọn, đề ra nội
dung và phương pháp đánh giá riêng của mình.
Ở Liên Xô cũ:
Đây là trường phái đánh giá đất dựa trên quan điểm phát sinh của
Docutraep. Nội dung của phương pháp này là đánh giá theo định tính và định
lượng, chủ yếu dựa vào sự mô tả xét đoán theo 2 hướng nghiên cứu: đánh giá
chung và riêng (theo hiệu suất cây trồng là cây ngũ cốc và cây họ đậu). Đơn vị
đất đai là các chủng đất, quy định đánh giá đất cho đất được tưới, đất được tiêu
úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ thâm canh, đất trồng cỏ cắt và đồng cỏ
chăn thả. Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm (được quy ra
rup/ha), mức hoàn vốn, địa tô cấp sai (phần có lãi thuần tuý).
Tuy nhiên phương pháp này vẫn còn những hạn chế như:
- Đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp việc phân hạng chưa đi
sâu vào từng loại hình sử dụng đất.
- Phương pháp tập trung vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai mà
chưa có những quan tâm cân nhắc tới các điều kiện kinh tế - xã hội.
Ở Hoa kỳ:
Hệ thống đánh giá sử dụng đất theo tiềm năng của Hoa Kỳ dựa trên việc
đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất, chúng được chia
thành hai nhóm:

4

- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ
dàng thay đổi và cải tạo được như độ dốc, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt…
- Nhóm các yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục bằng các biện
pháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng và những
trở ngại về tưới tiêu…
Phương pháp đánh giá khả năng sử dụng đất của Mỹ (USDA) tuy không
đi sâu vào từng loại hình sử dụng đất cụ thể và hiệu quả kinh tế - xã hội, song ở
phương pháp này người ta rất quan tâm đến yếu tố bất lợi, bảo vệ môi trường và
việc xác định các biện pháp cải tạo đất. Đây cũng là điểm mạnh của phương pháp
này đối với mục đích duy trì và sư dụng đất bền vững.
Các nước Châu Âu phổ biến thực hiện theo hai hướng:
- Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, xác định tiềm năng sản xuất của đất đai
(phân hạng định tính).
- Nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xác định sức sản xuất thực tế của đất đai
(phân hạng định lượng).
Ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi:
Thường áp dụng phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ giữa các
yếu tố dưới dạng phương trình toán học. Kết quả phân hạng cũng được thể hiện
dưới dạng phần trăm hoặc cho điểm.
Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Nhận thức được tầm quan trọng, cấp thiết của thực tiễn sản xuất là cần
phải có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn
những tổn thất đối với tài nguyên đất đai
Năm 1970, tổ chức Nông – Lương Liên Hợp Quốc (FAO) đã tập hợp các
chuyên gia nông nghiệp hàng đầu ở nhiều quốc gia tổng hợp xây dưng “ Đề cương
đánh giá đất đai”. Các nhà nghiên cứu đánh giá đất cũng đã nhận thấy những nỗ
lực không thể đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ, mà phải có sự thoog nhất các
nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá đất đia trên phạm vi toàn thế giới.
Kết quả là Ủy ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO đã
cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972. Sau đó được
Blikman và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973.
5

Năm 1975 bản dự thảo đã được các chuyên giá đánh giá đất của tố chức
FAO tham gia đóng góp, năm 1976 đề cương đánh giá đất (A Framenwork for
land Evatuation, 1976) đã ra đời. Qua những thử nghiệm ban đầu ở các nước
đang phát triển đề cương này được tiếp tục bổ sung và hoàn thiện vào các năm
sau đó để áp dụng cho từng đối tượng sản xuất nông nghiệp cụ thể như sau:
- Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời – 1983.
- Đánh giá đất cho vùng đất rừng – 1984.
- Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới – 1985.
- Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả - 1989.
- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất –
1992.
Đánh giá đất theo FAO dựa trên những nguyên tắc cơ bản:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại
hình sử dụng đất cụ thể.
- Việc đánh giá đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu
tư cần thiết trên các loại đất khác nhau ( phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, máy
móc…).
- Yêu cầu phải có quản điểm tổng hợp, nghĩa là phải có sự phối hợp và
tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học.
- Việc đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
của vùng trong khu vực đất nghiên cứu.
- Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững, các
nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được dùng để quyết định mức độ thích
hợp trong sử dụng đất đai.
- Đánh giá đất tập trung so sánh các sử dụng đất khác nhau.
Những nội dung chính trong đánh giá đất theo FAO được thể hiện trong 4
vấn đề:
- Xác định các chỉ tiêu và quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất.
- Hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai.
- Phân hạng thích hợp đất đai..
6

2.2. CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT
2.2.1. Khái niệm về loại hình sử dụng đất
Tuỳ theo mức độ và tên gọi khác nhau, nhưng trong nông nghiệp, loại sử
dụng đất đai được hiểu khái quát là những hình thức sử dụng đất đai để sản xuất
một hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kỳ một năm hoặc nhiều năm.
Đơn vị đất đai là nền, còn loại sử dụng đất là đối tượng để đánh giá, phân hạng
mức độ thích hợp của đất đai.
Trên thế giới, học thuyết về loại sử dụng đất đã được Duddley Stamp
(thế kỷ 19) xây dựng và sau này được Kostrowiky và các đồng sự của ông phát
triển. Gần đây Beek và Bennerma đã hoàn chỉnh và được Brinkman và Smyth sử
dụng trong đề cương đánh giá đất đai (1976).
Đề cương đã giới thiệu:
- Loại sử dụng đất đai chính dùng trong đánh giá khái quát, ví dụ như:
Nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp có tưới, đồng cỏ, rừng hoặc bảo tồn tự
nhiên….
- Loại sử dụng chi tiết hơn là một loại hoặc một nhóm cây trồng được
sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế kĩ thuật hiện hành. Ví dụ: Trồng mía
quy mô nhỏ, quảng canh hoặc trồng mía quy mô lớn có thâm canh; trồng cà phê
gia đình, bán thâm canh…
Loại hình sử dụng đất có một ý nghĩa quan trọng không thể bỏ qua được
trong công tác đánh giá phân hạng thích hợp đất đai. Đây là đối tượng bắt buộc
phải xác định trong hầu hết các công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn tốt
nghiệp… về đánh giá đất đai. Bởi nó cung cấp các thông tin, những chỉ tiêu xác
định về hiệu quả sử dụng đất, chỉ ra cần duy trì và phát triển những loại cây gì
trên loại đất gì ít mang lại hiệu quả mà không bền vững. Từ đó đưa ra kế hoạch,
quy hoạch cho chiến lược phát triển quy hoạch ở địa phương hay mỗi vùng miền
(Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp).
Loại sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng
đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế, xã hội
và kế hoạch được xác định. Những loại hình sử dụng đất này có thể hiểu theo
nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn
với khái niệm là các loại hình sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông, lâm
nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng
7

cỏ, rừng, động vật hoang dã và công nghệ được dùng đến như tưới nước, cải
thiện đồng cỏ (Giáo trình: Thống kê nông nghiệp).
Nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất qua các loại hình sử dụng đất chính thì
chưa đủ cho quá trình đánh giá đất vì mỗi loài, mỗi giống cây trồng khác nhau sẽ
đòi hỏi những điều kiện đất đai khác nhau. Đôi khi việc sử dụng phân bón cho
cây trồng không hợp lý còn lam giảm độ phì của đất hoặc làm ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất đó (Giáo trình: Đánh giá đất). Do đó, cần
có những mô tả chi tiết hơn trong việc sử dụng đất. Vì vậy một khái niệm loại
hình sử dụng đất đã được đề cập đến trong đánh giá đất.
Loại hình sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định, các
thuộc tính đó bao gồm: Quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như
sức kéo làm đất, đầu tư vật tư kĩ thuật và các đặc tính về kinh tế kĩ thuật như định
hướng thị trường, vốn thâm canh, lao động, vấn đề sử dụng đất đai (Giáo trình:
Đánh giá đất, 1998).
Loại hình sử dụng đất là tổ hợp cây trồng hoặc phương thức canh tác trên
một vạt đất với những phương thức quản lý trong điều kiện kinh tế - xã hội và kĩ
thuật được xác định.
2.2.2. Nguyên tắc xác định loại hình sử dụng đất bền vững
Năm 1991, FAO đã nêu ra 5 nguyên tắc cho việc xác định loại sử dụng
đất bền vững như sau:
- Duy trì và nâng cao sản lượng.
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất.
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn thoái hoá đất.
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế.
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội.
Vận dụng nguyên tắc trên ở Việt Nam đã đề ra 3 yêu cầu đối với việc xác
định và lựa chọn loại sử dụng đất:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận.
- Bền vững về môi trường: Bảo vệ được đất và môi trường tự nhiên.
- Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội.
8

2.3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG ĐẤT
Trong thực tế, các thuật ngữ “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không
có hiệu quả” hay là “sản xuất kém hiệu quả” thường được sử dụng phổ biến
trong sản xuất. Vậy hiệu quả là gì? Đến nay, các nhà nghiên cứu xuất phát từ
nhiều góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể khái
quát như sau:
- Hiệu quả theo quan điểm của C. Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối
một cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh
tế thông qua tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao
nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và
được viết trong cuốn Nông nghiệp nông thôn Việt Nam hai mươi năm đổi mới
quá khứ và hiện tại của Nguyễn Văn Bích (2007).
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không
thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác. Một nền
kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn
đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc “Khi sản
xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả
năng sản xuất” .
Ta có thể thấy bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất
và phát triển kinh tế - xã hội là đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu đời sống vật
chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Cho nên mỗi cá nhân và tổ
chức đều phải có bổn phận nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của
việc làm mang lại.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính
chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con
người mà ta phải xem xét kết quả đó dược tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là
bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá kết
quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải
đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh
giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả.
9

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới (Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001). Nó không chỉ thu hút sự quan tâm
của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật
nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên
cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó
là một trong những điều tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về
xuất khẩu có tính ổn định và bền vững.
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông
nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã hội và
môi trường. Sử dụng đất có hiệu quả là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó.
2.3.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản xuất hợp lý để đạt
được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được quan tâm hàng đầu,
khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác. Có khả năng lượng hoá bằng các
chỉ tiêu kinh tế, tài chính.
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà khoa học kinh tế Samuel – Norhuas
“hiệu quả có nghĩa là không lãng phí”. “Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến
chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại
hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”. Theo các
nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là
chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và
mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp
phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền
sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế
hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

10

- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm
thời gian”.
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống.
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết
quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so
sánh tuyệt đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Đạt được
một trong hai yếu tố đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để
đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kĩ
thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là: Với một diện tích đất đai sản xuất ra một khối lượng của cải vật
chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.
Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu:
Hiệu quả tính trên 1ha đất nông nghiệp:
• Tổng chi phí: Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng
tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong
quả trình sản xuất.
• Tổng thu nhập: Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất được tạo ra trong
một thời kỳ nhất định (thường là một năm) và tính bằng sản lượng cây trồng
nhân với giá bán sản phẩm tại thời điểm hiện tại.
• Thu nhập thuần: Là giá trị sản phẩm được tạo ra thêm trong thời kỳ sản
xuất đó, tính bằng hiệu số giữa tổng chi phí và tổng thu nhập.
11

• Giá trị ngày công lao động: Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao
động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, bằng thu nhập thuần chia
cho tổng số công đầu tư trên một đơn vị diện tích.
• Hiệu quả đồng vốn: Được tính bằng thu nhập thuần chia cho tổng chi phí.
2.3.2. Hiệu quả xã hội
Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người,
có tác động tới mục tiêu kinh tế. Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu
định tính hoặc định lượng.
Theo Nguyễn Thị Vòng và cs. (2001) thì hiệu quả xã hội là mối tương
quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau,
chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất. Việc lượng hoá các chi
tiêu còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như tạo
công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, lành mạnh xã hội.
Theo Nguyễn Duy Tính (1995): Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông
nghiệp chủ yếu được xác định được bằng khả năng tạo việc làm trên một diện
tích đất nông nghiệp.
Đánh giá hiệu quả xã hội thông qua các chỉ tiêu:
Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân.
• Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng.
• Thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân.
• Tăng cường sản phẩm hàng hoá.
2.3.3. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường: là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường
trong sản xuất và xã hội. Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại
quan tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật.
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá
học, sinh học, vật lí…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của
các loại vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân
gây nên gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu
quả sinh vật môi trường. Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do
các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường
dẫn đến. Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý
12

dẫn đến. Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh
thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường.
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón
và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt,
cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại
giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử
dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt
được mục tiêu đặt ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt
nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng
đất để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Trước kia, khi dân số còn thưa thớt, việc sử dụng đất ít, hệ số sử dụng
đất thấp thì đất gần như có khả năng tự phục hồi. Ngày nay, khi dân số gia tăng,
xã hội phát triển thì các hoạt động công nghiệp đã gây hậu quả môi trường không
nhỏ với đất đai. Nên việc cân nhắc phát triển kinh tế và cân bằng sinh thái, bảo
vệ môi trường đang là vấn đề được quan tâm hiện nay.
2.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.4.1. Lịch sử đánh giá đất ở Việt Nam
Đánh giá đất ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm. Từ khi biết sử
dụng đất cho mục đích trồng trọt, đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực
phẩm thì con người đã có ý thức đánh giá và phân hạng đất đai. Việc đánh giá và
phân hạng đất đai có được từ kinh nghiệm trong thực tế. Người nông dân biết
đánh giá thửa đất đó là tốt hay xấu dựa vào năng suất cây trồng, chất lượng nông
sản, hình thái đất đai, cải tạo đất…
Vào thời Lê đã biết phân hạng điền khác nhau để làm cơ sở tính thuế.
Thời Lý biết đo đạc và lập điền bạ để đánh thuế. Thời Nguyễn đã có sự phân chia
tứ hạng điền, lục hạng thổ. Thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu đánh giá đất được
tiến hành ở các vùng đất có độ phì nhiêu cao, có khả năng khai thác phục vụ cho
việc lập các đồn điền.
13

Sau năm 1954, ở miền Bắc ra đời một số cơ quan phụ trách về đánh giá
phân loại đất như: Vụ quản lý ruộng đất, Viện thổ nhưỡng nông hoá, Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp… Các cơ quan này đã có các công trình nghiên
cứu và công trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường
công tác quản lý độ màu mỡ đất và xếp hạng đất nông nghiệp.
Từ năm 1986 đến nay, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã có
nhiều thay đổi và được đấy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát
triển nông lâm nghiệp bền vững. Có rất nhiều công trình đánh giá đất được áp
dụng ở cấp quốc gia, tỉnh, huyện, xã. Công tác đánh giá đất không chỉ dừng lại ở
phạm vi phân hạng đất đai mà còn chỉ ra được các loại hình sử dụng đất thích
hợp với từng đặc tính của đất đai trong khu vực và đề ra được các biện pháp sử
dụng, bảo vệ và quản lý tốt nguồn tài nguyên đất.
Từ năm 1990 áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO trong sản xuất
nông nghiệp ở các phạm vi và mức độ khác nhau.
2.4.2. Những kết quả nghiên cứu về loại hình sử dụng đất
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình
nghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Các nhà khoa học đã chú trọng đến công
tác lai tạo và chọn lọc giống cây trồng mới năng suất cao, chất lượng tốt hơn để
đưa vào sản xuất. Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần đáng kể vào
việc tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
• Theo Nguyễn Công Pho, Lê Hồng ở ĐBSH có tới 28 loại hình sử dụng
đất với 3 vụ chính: Vụ xuân, vụ mùa và vụ đông và các loại cây trồng như lúa
nước, cây trồng cạn ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày.
• Công trình đánh giá đất toàn quốc của Viện Quy Hoạch và thiết kế nông
nghiệp (1993 – 1994) được tiến hành trên 9 vùng sinh thái, đã xác định trên toàn
quốc có 90 loại hình sử dụng đất chính, trong đó có 28 loại hình sử dụng đất đã
được lựa chọn.
• Ở vùng đồi núi Tây Bắc và trung du phía Bắc, theo Lê Thái Bạt (1995)
đã xác định được 4 loại hình sử dụng đất chính: đất ruộng, đất chuyên màu và
cây công nghiệp ngắn ngày, đẩt trồng cây lâu năm, đất rừng.
• Ở vùng Tây Nguyên đã xác định được 29 loại hình sử dụng đất hiện tại,
trong đó có 8 loại hình sử dụng đất thoả mãn với tiềm năng phát triển nông
14