Tải bản đầy đủ
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ

Hình 4.1. Sơ đồ vị trí huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình huyện Gia Bình
tương đối bằng phẳng, Gia Bình là một trong những huyện có địa hình thấp nhất
tỉnh Bắc Ninh. Địa hình có độ dốc từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc xuống Đông
Nam. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ
(0.72%) so với diện tích tự nhiên, phân bố tại cùng núi Thiên Thai thuộc các xã
Đông Cứu, Giang Sơn, Lãng Ngâm.
Địa mạo huyện Gia Bình mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất
thuộc vùng trũng sông Hồng, bề mặt trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của
cấu trúc mỏng. Bề dày các thành tạo đệ tứ biến đổi theo quy luật trầm tích từ Bắc
xuống Nam, càng xuống phía Nam cấu trúc địa chất càng dày hơn phía Bắc, địa
chất có tính ổn định cao.
4.1.1.3. Khí hậu
Gia Bình là một huyện Đồng Bằng, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
* Lượng mưa
Lượng mưa bình quân hàng năm 1.100-1.400 mm. Thời tiết trong năm
chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

31

- Mùa mưa: thời tiết nóng ẩm, lượng mưa lớn, chiếm 80% lượng mưa cả
năm. Đặc biệt có những trận mưa rào có cường độ lớn kèm theo bão từ 3-5 ngày,
gây ngập úng cục bộ.
- Mùa khô: lượng mưa ít, có những thời kỳ khô hanh kéo dài 15 - 20 ngày,
nhiều diện tích canh tác, ao, hồ, đầm bị khô cạn.
* Gió bão
Hàng năm có hai mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng
10 năm trước tới tháng 3 năm sau và gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4
đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào.
* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm 23,4oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,7oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,6oC (tháng 1). Sự
chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC.
* Độ ẩm
Độ ẩm trung bình năm khoảng 75-86%, cao nhất vào tháng 7 và tháng 8.
* Nắng
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530-1.776 giờ, trong đó tháng
có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1.
Nhìn chung Gia Bình có kiểu khí hậu thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp. Mùa đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính
có thể trồng được nhiều cây rau ngắn ngày có giá trị kinh tế cao và xuất khẩu.
Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa
thường gây ra ngập úng các khu vực thấp trũng. Mùa đông và mùa xuân lượng
nước còn hạn chế gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích
gieo trồng.
4.1.1.4. Các nguồn tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000 toàn tỉnh
Bắc Ninh năm 1992 do viện Nông Hoá Thổ Nhưỡng tiến hành và điều tra bổ sung
năm 2000 cho thấy, đất huyện Gia Bình chủ yếu được hình thành bởi quá trình bồi
tụ các sản phẩm phù sa của hệ thống Sông Hồng, bao gồm 8 loại đất chính sau:

32

*Bãi cát ven sông (Cb).
Diện tích 96,0 ha, chiếm 0,89% so với diện tích tự nhiên. Phân bố ở ngoài
đê sông Đuống thuộc các xã Cao Đức, Vạn Ninh, Thái Bảo, Đại Lai, Song
Giang, loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, hàng năm thường bị ngập nước
vào mùa mưa nên hầu như chỉ bố trí được 1 vụ canh tác trong năm.
* Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng (Phb).
Diện tích 665,0 ha chiếm 6,17% so với diện tích tự nhiên. Loại đất này
cũng được phân bố ngoài đê sông Đuống (ở các xã Cao Đức, Đại Lai, Vạn Ninh,
Thái Bảo, Song Giang, Lãng Ngâm, Giang Sơn); hàng năm vào mùa mưa lũ
thường được bồi đắp phù sa. Hình thái phẫu diện đất thường có màu nâu tươi,
thành phần cơ giới thịt nhẹ, đất ít chua, pH:5,5 - 6,5, hàm lượng mùn trong đất
khá: 1,5 - 2,1 %, đạm và lân tổng số từ trung bình đến khá, lân và kali dễ tiêu
nghèo, cation kiềm trao đổi trong đất khá. Đất có độ phì khá, nhưng phân bố
ngoài đê, về mùa mưa lũ hay bị ngập lụt, đất phù hợp với trồng cây hoa màu và
cây công nghiệp ngắn ngày.
* Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng (Ph).
Diện tích 1.516,0 ha, chiếm 14,06% so với diện tích tự nhiên, phân bố ở
các xã: Song Giang, Lãng Ngâm, Đại Lai, Thái Bảo. Đất được hình thành do sự
bồi đắp của phù sa sông Đuống, hình thái phẫu diện thường có màu nâu hoặc
màu xám. Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất ít chua, pH: 5,0
- 6,0, mùn từ trung bình đến giàu (1,5 - 2,1%). Đạm tổng số trung bình đến giàu,
lân dễ tiêu rất nghèo, lượng cation kiềm trao đổi khoảng 9 - 12 meq/100g đất.
Loại đất này có độ phì khá, thích hợp với nhiều loại cây trồng. Hướng sử
dụng: trồng 2 vụ lúa, 2 lúa - 1 màu (cây vụ đông) hoặc trồng cây ăn quả ở những
nơi gần dân cư có điều kiện canh tác thuận lợi.
* Đất phù sa glây của hệ thống sông Hồng (Phg).
Diện tích 2.184,0 ha, chiếm 20,26 % diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã:
Xuân Lai, Bình Dương, Đại Bái, Quỳnh Phú, Đông Cứu... Đất được hình thành
trên sản phẩm phù sa ở địa hình vàn, vàn thấp là chủ yếu.
Hình thái phẫu diện đất bị phân hoá khá rõ rệt, ở tầng đế cày và tầng dưới
có màu xám xanh biểu hiện của quá trình glây. Thành phần cơ giới từ thịt trung

33

bình đến thịt nặng hoặc sét nhẹ nên khả năng giữ nước, giữ phân khá. Phản ứng
của đất chua, pHKCL: 4,4 - 5,0, hàm lượng mùn khá từ 1,5 - 2,0 %. Đạm tổng số
trung bình đến khá 0,1 - 0,15%, lân tổng số trung bình 0,06 - 0,1%, lân dễ tiêu
nghèo < 5mg/100g đất, kali tổng số trung bình 0,175%, Kali dễ tiêu nghèo <
5mg/100g đất, lượng cation kiềm trao đổi khá từ 10 - 12meq/100g đất.
Đây là loại đất có độ phì khá, thích hợp với trồng 2 vụ lúa, các chân ruộng
địa hình vàn có thể trồng 2 vụ lúa - 1 vụ màu.
* Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Hồng (Phf).
Diện tích 962,0 ha, chiếm 8,92 % diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã: Đại
Bái, Lãng Ngâm, Đông Cứu, Vạn Ninh.
Đất được hình thành trên sản phẩm phù sa sông Đuống, nhưng do ở địa
hình cao và thiếu nước trong mùa khô tạo cho đất có quá trình oxy hoá tích luỹ
sắt, nhôm hình thành tầng loang lổ đỏ vàng.
Hình thái phẫu diện đất tầng mặt có màu xám hoặc xám nâu, xuống các
tầng dưới có màu vàng hoặc loang lổ đỏ vàng. Thành phần cơ giới của đất
thường là thịt trung bình, càng xuống sâu tỷ lệ cấp hạt sét càng tăng. Phản ứng
của đất chua, pHKCL: 4,5 - 4,8, hàm lượng mùn trung bình từ 1,3 - 1,5 %, đạm và
lân tổng số trung bình đến nghèo, lân và kali dễ tiêu nghèo, lượng cation kiềm
trao đổi thấp.
Loại đất này có độ phì trung bình phù hợp với việc sử dụng trồng 2 lúa + 1
màu, 1 lúa + 1 màu hoặc đất chuyên màu ở những nơi có địa hình cao. Cần
nghiên cứu có thể trồng cây ăn quả hoặc rau hoa cao cấp.
* Đất phù sa úng nước mùa hè (Pj).
Diện tích 191,0 ha chiếm 1,77 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các
xã: Quỳnh Phú, Cao Đức, Xuân Lai, Đại Bái, Đông Cứu. Đất được hình thành ở
dạng địa hình thấp trũng, tình trạng ngập úng lâu ngày đã làm đất glây mạnh.
Hình thái phẫu diện đất thường có màu nâu xám, xuống các tầng dưới
thường có màu xám xanh hoặc xám đen. Phản ứng dung dịch đất chua, pHKCL<
4,5, mùn giàu > 3,0%, đạm tổng số giàu 0,16 - 0,20%, lân tổng số trung bình và

34

dễ tiêu nghèo, kali tổng số trung bình và dễ tiêu dao động từ nghèo đến trung
bình, lượng cation kiềm trao đổi trong đất thấp < 10meq/100g đất.
Hướng sử dụng: Để có thể trồng 2 vụ lúa/năm cần giải quyết tốt vấn đề
thuỷ lợi để tiêu úng vào mùa mưa, cần tăng cường bón vôi cải tạo độ chua cho
đất. Các khu vực ngập sâu có thể cải tạo để trồng 1 vụ lúa chiêm và 1 vụ cá kết
hợp trồng cây ăn quả trên bờ ao.
* Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B).
Diện tích 161,0 ha, chiếm 1,49% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã : Đại
Bái, Đông Cứu, Lãng Ngâm. Đất hình thành chủ yếu trên sản phẩm phù sa cổ.
Hình thái phẫu diện đất ở tầng mặt thường có màu xám hoặc xám đen, các
tầng dưới màu xám vàng, xám sáng là chủ yếu. Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ
đến thịt trung bình. Phản ứng dung dịch đất chua, pHKCL: 4,2 - 4,5, nghèo mùn <
1,5%, đạm tổng số nghèo 0,08 - 0,09%, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo, lượng
cation kiềm trao đổi thấp. Loại đất này có độ phì nhiêu nghèo, đất chua, các chất
tổng số và dễ tiêu trong đất đều nghèo.
Hướng sử dụng : Các khu vực có địa hình vàn đến vàn thấp, chủ động
nước tưới sử dụng trồng 2 vụ lúa + 1 vụ màu, nên bón nhiều phân chuồng, lân và
vôi để cải tạo đất. Những nơi có địa hình cao có thể trồng hoa màu lương thực,
cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là trồng những cây họ đậu.
* Đất xám vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết (Fq).
Diện tích 29,0 ha chiếm 0,27% diện tích tự nhiên, phân bố ở các khu vực
đồi núi của các xã Đông Cứu và Lãng Ngâm. Đất được hình thành từ sản phẩm
phong hóa của đá cát và dăm cuội kết nên đất có thành phần cơ giới nhẹ, phản
ứng dung dịch đất chua, pHKCL : 3,8 - 4,2, hàm lượng mùn thấp < 1,4%, kali tổng
số giàu 0,2 - 0,3%, kali dễ tiêu trung bình 5 - 7mg/100g đất, lân tổng số và dễ
tiêu đều nghèo. Như vậy loại đất này có hàm lượng các chất dinh dưỡng nghèo,
tầng đất mỏng.
Hướng sử dụng: Nên dành cho mục đích lâm nghiệp, đầu tư phát triển
rừng để tăng độ che phủ và tránh sự rửa trôi tầng đất mặt.

35

Bảng 4.1. Phân loại đất chính huyện Gia Bình
Loại đất

KH

DT (ha)

1. Bãi cát ven sông

Cb

96,0

0,89

2. Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng

Ph b

665,0

6,18

Ph

1.516,0

14,09

4. Đất phù sa glây của hệ thống sông Hồng

Ph g

2.184,0

20,30

5. Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Hồng

Phf

962,0

8,94

6. Đất phù sa úng nước mùa hè

Pj

191,0

1,78

7. Đất xám bạc màu trên phù sa cổ

B

161,0

1,50

8. Đất xám vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết

Fq

29,0

0,27

Đất không điều tra

4.954,67

46,05

Tổng diện tích tự nhiên

10.758,67

100,00

3. Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng

TL (%)

b. Tài nguyên nước
Huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh có nguồn tài nguyên nước dồi dào, gồm
có hệ thống nước mặt và hệ thống nước ngầm:
Nguồn nước mặt: Sông Đuống là nguồn nước mặt chủ yếu của huyện Gia
Bình, chảy qua phía Bắc và phía Đông của huyện, tổng lượng nước bình quân
31,6 tỷ m3, là nơi cung cấp nguồn nước tưới cho hệ thống thuỷ nông Gia Thuận.
Hệ thống sông ngòi, kênh mương và số lượng ao hồ dày đặc tạo điều kiện thuận
lợi cung cấp nước quanh năm cho sản xuất và sinh hoạt.
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm tuy chưa được khảo sát tính toán cụ
thể, nhưng qua thực tế sử dụng của người dân cho thấy mực nước ngầm có độ sâu
trung bình từ 3m- 6m, chất lượng nước tốt. Thời gian qua 2 xã Quỳnh Phú, Đông
Cứu đã thực hiện khai thác nước ngầm đưa vào phục vụ sinh hoạt cho nhân dân.
Nhìn chung chất lượng nước sau khi xử lý đảm bảo vệ sinh an toàn.
c. Tài nguyên rừng
Toàn huyện có 47,64 ha rừng trồng chiếm 0,72% tổng diện tích tự nhiên,
phân bố ở xã: Đông Cứu (31,44 ha), Giang Sơn (8,45 ha), Lãng Ngâm (7,75ha),
với tỷ lệ che phủ 70,0%. Ngoài ra còn có 5,82 ha đất đồi núi chưa sử dụng có khả
năng cải tạo đưa vào trồng rừng. Diện tích đất trồng rừng rất ít.

36

d. Tài nguyên khoáng sản
Địa chất Gia Bình là trầm tích trẻ nguồn gốc phù sa sông Hồng. Do đó,
địa bàn huyện có nguồn đất sét làm vật liệu xây dựng được phân bố chủ yếu tại
xã Cao Đức, Vạn Ninh và Thái Bảo, Đại Lai.
Ngoài ra tại một số xã ven đê sông Đuống có nguồn cát đen có thể khai
thác phục vụ xây dựng.
* Đánh giá chung
- Thuận lợi:
+ Gia Bình có một vị trí địa lý khá thuận lợi, cách không xa thành phố Bắc
Ninh và thành phố Hải Dương, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, đây là những trung tâm
kinh tế chính trị, khoa học công nghệ và thị trường tiêu thụ rộng lớn; cùng với hệ
thống giao thông đường bộ, đường thủy tương đối hoàn chỉnh tạo điều kiện rất
lớn cho việc giao lưu, phát triển kinh tế, văn hoá và tiêu thụ sản phẩm.
+ Tài nguyên đa dạng, địa hình đất tương đối bằng phẳng, màu mỡ, lượng
nước mặt lớn kết hợp hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh tạo điều kiện phát
triển những loại cây rau màu có giá trị kinh tế cao.
+ Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, huyện có điều kiện thuận lợi
cho phát triển đa dạng các loại cây trồng.
- Khó khăn:
Khí hậu một số năm gần đây biến đổi thất thường, hàng năm một phần đất
thấp trũng bị ngập, vào mùa khô có thể thiếu nước tưới cây trồng do khí hậu nhiệt đới gió
mùa. Nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện cho sâu bệnh phá hoại mùa màng phát
triển mạnh.
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
Đảng bộ và nhân dân huyện Gia Bình đã lỗ lực phấn đấu đạt nhiều thành tựu
quan trọng, kinh tế phát triển với tốc độ cao, diện mạo vùng nông thôn từng bước
được đổi mới, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt trên 11%.

37

+ Kinh tế nông nghiệp
Lĩnh vực kinh tế nông nghiệp của huyện vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ
cấu kinh tế của huyện, với cơ cấu là nông - lâm - thủy sản là ngành sản xuất chủ
yếu của huyện. Năm 2015 chiếm 37,9% (theo giá cố định năm 1994); giá trị sản
xuất nông - lâm - thủy sản năm 2015 đạt 333,12 tỷ đồng.
+ Kinh tế công nghiệp
Công nghiệp và xây dựng của huyện có bước phát triển nhưng còn chậm,
quy mô sản xuất nhỏ, chiếm tỷ trọng khá nền kinh tế. Năm 2015 đạt giá trị sản
xuất 333 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), chiếm 32,1% trong cơ cấu kinh tế.
+ Kinh tế thương mại – dịch vụ
Kinh tế dịch vụ tiếp tục phát triển theo cơ cấu thương mại - dịch vụ,
nhưng tốc độ phát triển chưa cao. Tổng mức luân chuyển hàng hóa và dịch vụ
năm 2015 đạt 807 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị sản xuất của
huyện; cuối năm 2015 số cơ sở cá thể kinh doanh - dịch vụ có 3.650 cơ sở.
- Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp, và tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp. Cuối năm
2015, tỷ trọng CN chiếm 32,1%, dịch vụ chiếm 30%, giảm tỷ trọng nông nghiệp
còn 37.9%.

Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh năm 2015

38

4.1.2.2. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
Hạ tầng giao thông phát triển khá mạnh. Mạng lưới giao thông phân bố
tương đối hợp lý, đồng đều và khá hoàn chỉnh, là điều kiện thuận lợi để thực hiện
nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
- Đường bộ: Tổng chiều dài đường tỉnh lộ, huyện lộ và các đường giao
thông nông thôn khác có trên 834 km, song tỷ lệ đường nhựa, đường bê tông
chưa cao. Cấp đường tỉnh lộ có 4 tuyến chạy qua dài 36,5 km, trong đó đường
nhựa, bê tông chiếm 67,71% chiều dài, còn lại là đường cấp phối.
+ Cầu Bình Than dài 2 km, rộng 18 m nối Quốc lộ 18 với TL 282.
+ Tỉnh lộ 280 dài 8,5 km, có 6 km đường nhựa bán thâm nhập và 2,5 km
đường bê tông.
+ Tỉnh lộ 282 dài 16 km kéo dài từ Đại Bái đến Cao Đức, trong đó đoạn
từ Đại Bái đến Nhân Thắng dài 9 km đã được trải nhựa. Đoạn từ Nhân Thắng
đến Cao Đức đang được cải tạo, nâng cấp đảm bảo tiêu chuẩn đường cấp IV
Đồng bằng.
+ Tỉnh lộ 284 dài 6,8km, có 2,7 km đường nhựa bán thâm nhập, còn lại là
đường trải cấp phối đất núi.
+ Tỉnh lộ 285 dài 5,2 km, đã được rải cấp phối đá dăm bằng nguồn vốn
của dự án GTNT2 nay cũng đang bị xuống cấp nghiêm trọng.
Cấp đường huyện lộ: có 11 tuyến với tổng chiều dài là 54 km, trong đó
đường trải bê tông chiếm 32,52%, còn lại là đường trải cấp phối đất núi, đá dăm.
Đường xã, thôn: đến nay toàn huyện có 74/74 thôn có đường bê tông đạt
cấp A, cấp B nông thôn (nền rồng 4-5m, mặt rộng 3m), với tổng chiều dài 199,5
km/262,3 km chiếm 76,05%, còn lại là đường cấp phối và đường đất dài 62,8 km
chiếm 23,95%.
Các tuyến đường nội thị trấn có chiều dài 9,6km đường trải nhựa, bê tông
đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật. Trên địa bàn huyện có 01 bến xe khách đặt tại thị
trấn Gia Bình.
- Đường sông: sông Đuống là tuyến giao thông thủy quan trọng của quốc
gia đang được đầu tư cải tạo để nâng cao năng lực đường thủy tại khu vực Cao

39

Đức và Song Giang ,các bến sông phục vụ xếp dỡ nguyên vật liệu xây dựng là
chính, vận chuyển hành khách đang từng bước đi vào hoạt động và được chú
trọng. Trên tuyến sông Đuống có 9 bến đò khách ngang sông đang hoạt động.
b. Thủy lợi
Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân phối hợp với các cấp,
các ngành đã thường xuyên củng cố hệ thống thủy lợi đảm bảo phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp một cách tốt nhất. Đồng thời xây dựng tương đối hoàn chỉnh hệ
thống kênh mương nội đồng.
Toàn huyện có trên 66 trạm bơm cục bộ với 94 tổ máy bơm các loại, hệ
thống tuyến kênh các loại dài 203,96km (trong đó kênh loại I chiếm 12,93%,
kênh loại II chiếm 23,8%, kênh loại III chiếm 63,5% chiều dài các tuyến kênh)
đảm nhiệm tưới tiêu kịp thời cho diện tích gieo trồng.
Tuy nhiên ở vùng trũng phía Nam của huyện (Quỳnh Phú, thị trấn Gia Bình,
Xuân Lai, Nhân Thắng, Bình Dương), về mùa lũ còn gặp khó khăn trong việc tiêu
thoát nước.
Ngoài ra, trên địa bàn có tuyến đê Hữu Đuống và Kè Lớ được bê tông
hóa toàn tuyến, giữ vai trò quan trọng trong công tác phòng chống bão lụt cho
khu vực.
Gia Bình có hệ thống kênh, ngòi dầy đặc, có con sông chính chảy qua là
sông Đuống chảy dài hết vùng giáp ranh ở phía Bắc và phía Đông của huyện.
Ngoài ra còn có sông Khoai, sông Ngụ và hệ thống thủy lợi gồm kênh, ngòi,
mương...
c. Hệ thống điện năng
Hệ thống lưới điện toàn huyện có trên 141 trạm biến áp, có trên 500,1km
đường dây truyền tải điện trung thế, hạ thế. Huyện hoàn thành 8 tuyến đường
điện chiếu sáng đô thị; số hộ sử dụng điện đạt 100% số hộ.
Đến nay ngành điện đã tiếp nhận 100% lưới điện hạ thế và tổ chức
bán điện đến từng hộ gia đình.
d. Bưu chính viễn thông.
Cơ sở vật chất kỹ thuật ngành bưu chính viễn thông trong những năm qua
đã tăng nhanh chóng. Thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt 24/24 giờ cho 14 xã, thị

40

trấn, riêng tại bưu điện huyện liên lạc quốc tế thuận tiện, nhanh chóng và thông suốt
liên tục, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý, sản xuất và đáp ứng
tốt nhu cầu về thông tin liên lạc của nhân dân. Hệ thống mạng Internet đã được kéo
đến từng thôn.
4.1.2.3. Dân số lao động và việc làm
* Dân số
Theo số liệu thống kê, năm 2015, toàn huyện có 92.238 người, mật độ
bình quân dân số là 855 người/km2, trong đó dân số thành thị (thị trấn Gia Bình)
có 6.864 người chiếm 7,4% dân số toàn huyện. Cấu trúc dân số thuộc loại trẻ,
nên tiềm năng lao động và khả năng sinh đẻ còn rất lớn. Là huyện có mật độ dân
số thấp hơn mức trung bình của tỉnh, song dân số chủ yếu phân bố ở các vùng
nông thôn với nền kinh tế thuần nông nên đời sống còn nhiều khó khăn.
* Lao động và việc làm
Năm 2015, có 53.560 người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm
58,06% dân số. Số lao động tham gia trong nền kinh tế quốc dân có 61.230
người, chiếm 66,3%. Trong những năm gần đây, mỗi năm có hàng trăm người
đến tuổi được bổ sung vào nguồn lao động và sẽ tăng lên do tỷ lệ trẻ em dưới 15
tuổi hiện nay khá cao. Đây là nguồn tiềm năng sức lao động dồi dào, nhưng đồng
thời cũng là áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm của huyện.
* Đánh giá chung:
Thuận lợi:
- Tốc độ phát triển kinh tế của huyện khá ổn định, cơ cấu kinh tế, cơ cấu
trong nông nghiệp đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Đây là những
thuận lợi và nguồn lực lớn cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hoá.
- Huyện có tiềm năng phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, có diện tích đất
nông nghiệp màu mỡ, vấn đề thủy lợi, tưới tiêu tương đối chủ động, là địa phương
có truyền thống thâm canh sản xuất… Tất cả những yếu tố trên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp chất lượng cao, cung cấp lương thực, thực
phẩm sạch cung cấp cho thị trường tiêu thụ lớn như Hà Nội.
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng được đầu tư nâng cấp và mở rộng tạo
điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.

41