Tải bản đầy đủ
Lý luận chung về học nghề

Lý luận chung về học nghề

Tải bản đầy đủ

nước giao hoặc giao kết hợp đồng dạy nghề. Bài viết này xin đi sâu hơn về vấn
đề học nghề theo hợp đồng.
Căn cứ vào mục tiêu của người học, có thể chia ra làm 2 loại, đó là học
nghề để tự tạo việc làm và học nghề để tham gia quan hệ lao động.
Vì mục đích cuả người học không phải lúc nào cũng rõ ràng là học để tự
tạo việc làm hay tham gia quan hệ lao động và nhiều khi hình thức này có thể
chuyển đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể nên việc phân chia theo tiêu chí này chỉ
mang tính chất tương đối.
Căn cứ vào cách thức tổ chức dạy và học nghề, có 2 loại: học nghề được
tổ chức thành lớp học và học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh nghiệp.
+ Học nghề theo hình thức tổ chức thành lớp học thường thấy ở các cơ sở
chuyên dạy nghề (trường, trung tâm dạy nghề) với số lượng người học nhiều.
+ Học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh nghiệp thường được tổ chức ở
các cơ sở sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp với số lượng người học ít.
Đây thực chất là quá trình vừa học vừa làm của người lao động, gắn với thực
hành là chính.
Căn cứ vào trình độ nghề, có 3 loại: học nghề trình độ sơ cấp, học nghề
trình độ trung cấp và học nghề trình độ cao đẳng.
+ Học nghề trình độ sơ cấp diễn ra trong khoảng thời gian từ 3 tháng đến dưới 1
năm nhằm trang bị cho người học kĩ năng thực hành một nghề đơn giản, tác
phong công việc, tạo điều kiện cho người học tìm kiếm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc có điều kiện học lên trình độ cao hơn. Các cơ sở dạy nghề trình độ sơ
cấp như: trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có
đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp. Người học nghề trình độ sơ cấp được cấp
chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định của pháp luật.
+ Học nghề trình độ trung cấp diễn ra trong khoảng thời gian từ 1 năm đến 2
năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông, từ 3 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung
học cơ sở. Học nghề trình độ trung cấp trang bị cho người học kiến thức chuyên
môn và năng lực thực hành các công việc của 1 nghề, có khả năng làm việc độc
lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, tự tạo việc làm hoặc học có
điều kiện học lên trình độ cao hơn... Các cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp bao
gồm: trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trung
cấp; trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng
ký dạy nghề trình độ trung cấp. Khi tốt nghiệp, người học nghề được cấp bằng
tốt nghiệp trung cấp nghề theo quy định của pháp luật.
4

+ Học nghề trình độ cao đẳng: diễn ra trong khoảng thời gian từ 2 năm đến 3
năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông, từ 1 năm đến 2 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt
nghiệp trung cấp nghề cùng ngành nghề đào tạo. Mục tiêu của học nghề trình
độ cao đẳng là trang bị kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công
việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo
nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, có khả năng tự tạo việc làm
hoặc học lên trình độ cao hơn. Cơ sở dạy nghề trình độ cao đẳng bao gồm:
trường cao đẳng nghề; trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề
trình độ cao đẳng. Sau khi kết thúc khóa học, người học nghề được cấp bằng tốt
nghiệp cao đẳng nghề theo quy định của pháp luật.
1.2.

Quy định pháp luật về học nghề

Học nghề thường được diễn ra trước khi quan hệ lao động hoặc đan xem
với quan hệ lao động, tạo điều kiện để quan hệ lao động thiết lập.
Pháp luật quy định học nghề là chế định của luật lao động, bao gồm tổng
hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, quy định về quyền học
nghề; điều kiện của người học nghề; quyền dạy nghề, điều kiện của người dạy
nghề; hợp đồng học nghề và những vấn đề liên quan tới hợp đồng học nghề;
quan hệ dạy và học nghề giữa hai bên; chính sách áp dụng đối với cơ sở dạy
nghề; vấn đề giải quyết việc làm cho người học nghề trong một số trường hợp cụ
thể. Có thể phân loại học nghề như sau:
- Theo trình độ nghề, học nghề được chia thành ba cấp độ: sơ cấp, trung
cấp vàcaođẳng.
- Theo cách thức tổ chức dạy và học nghề, học nghề được chia thành: học
nghề được tổ chức thành lớp học và học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh
nghiệp.
- Căn cứ vào mục tiêu của người học, học nghề được chia thành hai loại:
học nghề để tự tạo việc làm và học nghề để tham gia quan hệ lao động.
Chính vì đặc điểm trên, quan hệ giữa người học nghề cũng có 2 quan hệ hợp
đồng:

a. Người học nghề với cơ sở đào tạo nghề:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật Dạy nghề năm 2006, "Hợp đồng
học nghề là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa người đứng đầu cơ sở dạy
nghề với người học nghề"
b. Người học nghề với doanh nghiệp
Thường thiết lập một dạng giống hợp đồng thử việc.
5

Hợp đồng học nghề
• Đặc điểm của hợp đồng học nghề:
Đối tượng của hợp đồng học nghề là việc dạy và học nghề
Hợp đồng học nghề mang tính chất song vụ
Hợp đồng học nghề không những ràng buộc trách nhiệm của cả hai bên
trong quan hệ học nghề, trong quá trình học mà có thể cả khi người học tham gia
vào quan hệ lao động trong trường hợp đồng học nghề hợp đồng học nghề ghi
cơ sở dạy nghề cam kết đảm bảo việc làm cho người học hoặc khi người lao
động được đào tạo nghề trong cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp.
• Trong quan hệ học nghề, nếu chủ thể nào vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì
phải có trách nhiệm bồi thường.
• Phân loại hợp đồng học nghề
Dựa vào hình thức, hợp đồng học nghề được chia thành hai loại: hợp đồng
học nghề bằng văn bản và hợp đồng học nghề bằng lời nói.
Theo giá trị pháp lý, hợp đồng học nghề được chia thành hai loại: hợp
đồng học nghề hợp pháp và hợp đồng học nghề vô hiệu.
• Nội dung hợp đồng học nghề:
Theo Khoản 1 Điều 36 Luật Dạy nghề, nội dung chủ yếu của hợp đồng
học nghề gồm những điều khoản sau:
- Tên nghề, kỹ năng nghề đạt được;
- Nơi học và nơi thực tập;
- Thời gian hoàn thành khóa học;
- Mức học phí và phương thức thanh toán học phí;
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng học
nghề.
Trường hợp hợp đồng học nghề được giao kết giữa người học nghề và
doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sử dụng thì ngoài những nội dung
chủ yếu như trường hợp hợp đồng học nghề thông thường, Khoản 2 Điều 36
Luật Dạy nghề quy định hợp đồng học nghề phải có thêm những nội dung sau:
- Cam kết của người học nghề về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp;
- Cam kết của doanh nghiệp về việc giao kết hợp đồng lao động sau khi
học xong;
- Trả công cho người học nghề trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm
cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề.
Đây là những điều khoản bắt buộc mà Nhà nước đòi hỏi các bên khi xây
dựng thỏa thuận phải đưa vào hợp đồng học nghề. Ngoài ra, trong một số trường
hợp, pháp luật còn cho phép các bên có những thỏa thuận khác không trái pháp
luật và đạo đức xã hội như việc xét thưởng với những người đạt được học nghề
loại giỏi sau thời gian học nghề hay việc ăn ở của người học nghề… Nếu hai bên
1.3.

6

đã thỏa thuận và đưa những điều khoản này vào hợp đồng học nghề thì có giá trị
pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các bên.
2.

Thực trạng về học nghề ở nước ta
2.1.
Học nghề tại cơ sở đào tạo nghề

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong phát
triển kinh tế- xã hội. Đóng góp vào những thành công đó có vai trò to lớn của
các doanh nghiệp. Với xu thế mở cửa, hội nhập hiện nay để tăng sức cạnh tranh,
mở rộng thị trường thì một yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp là phải đầu
tư công nghệ, trang thiết bị hiện đại và điều đặc biệt quan trọng là phải nâng cao
chất lượng của lực lượng lao động, phải có đội ngũ công nhân kỹ thuật, công
nhân lành nghề đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của doanh nghiệp. Xuất phát
từ những yêu cầu đó, công tác đào tạo nghề giữ vị trí quyết định nhất, không chỉ
đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ việc xuất khẩu lao động,
nâng cao hiệu quả của công tác xuất khẩu lao động ở nước ta.
Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển một hệ thống đào tạo
nghề có khả năng cung cấp cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình
độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi
biến đổi của môi trường có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao. Đồng thời có
khả năng thường xuyên cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ
lao động của đất nước. Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ
thống đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong những năm qua, do sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo
của Chính phủ và sự cố gắng của các cấp, các ngành công tác dạy nghề đã từng
bước được đổi mới và phát triển đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ
thuật trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Hệ thống và mạng lưới dạy nghề đã bắt đầu được đổi mới và phát triển,
chuyển từ hệ thống dạy nghề trình độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ
thống dạy nghề với ba cấp trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao
đẳng nghề. Các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên
toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo. Đến nay trong cả
nước có 2052 cơ sở dạy nghề (trong đó có 62 trường cao đẳng nghề, 235 trường
trung cấp nghề. Số lượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng nhanh, đã có một số cơ sở
dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện có 789 cơ sở dạy nghề ngoài công lập.
7

Quy mô đào tạo nghề tăng nhanh, giai đoạn 2001-2006 dạy nghề cho 6,6
triệu người (tăng bình quân hàng năm 6,5%), trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14
triệu người, dạy nghề ngắn hạn đạt 5,46 triệu người. Năm 2007 cả nước tuyển
sinh được 1.436.500 người, trong đó trung cấp nghề là 151.000 và cao đẳng
nghề là 29.500 người. Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh đã
nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm 2001 lên khoảng 24% năm
2007, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao
động có nhu cầu. Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các doanh nghiệp,
khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề
phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải
quyết việc làm cho người lao động. Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt trên
95%; trong đó loại khá giỏi chiếm 29%; khoảng 70% học sinh tìm được việc
làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở
dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90%. Qua điều tra thị trường lao động của Tổng cục
dạy nghề tại gần 3000 doanh nghiệp, đa số lao động qua đào tạo nghề đang làm
việc trong các doanh nghiệp đã được sử dụng có hiệu quả. Đa số lao động qua
đào tạo nghề được các doanh nghiệp sử dụng phù hợp hoặc rất phù hợp với trình
độ được đào tạo của họ (khoảng 85% so với số lao động qua đào tạo nghề đang
làm việc tại doanh nghiệp, nghĩa là chiếm khoảng 70% so với số học sinh học
nghề tốt nghiệp). Theo đánh giá của người sử dụng lao động về kỹ năng nghề
của lao động qua đào tạo nghề: 30,4% đạt loại khá và giỏi .
Dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trực tiếp trong
sản xuất của thị trường lao động. Trong nhiều doanh nghiệp liên kết, liên doanh
với nước ngoài hoặc doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn công nghệ kỹ thuật
tiên tiến, hiện đại lao động Việt Nam đã đảm nhiệm được hầu hết những vị trí
quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công
nghệ phức tạp, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của
sản phẩm hàng hóa.
Việc dạy nghề được phát triển với các mô hình dạy nghề năng động, linh
hoạt gắn đào tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thị trường lao động
để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng,
từng địa phương. Có nhiều mô hình dạy nghề đã được thực hiện như dạy nghề
tại doanh nghiệp, dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho thanh niên
dân tộc nội trú, dạy nghề cho xuất khẩu lao động, dạy nghề cho người tàn tật...
2.2.

Dạy nghề tại doanh nghiệp
8