Tải bản đầy đủ
Thận và bàng quang (sinh lý, bệnh lý của thận và bàng quang).

Thận và bàng quang (sinh lý, bệnh lý của thận và bàng quang).

Tải bản đầy đủ

Cốt sinh tủy,, tủy thông với não ,não là phủ nguyên thần, thận tàng tinh, tinh
sinh tủy, như vậy thận có quan hệ chặt chẽ với não. Thận tàng tinh sung túc đầy đủ
thì xương, tủy não khoẻ mạnh,cơ thể tứ chi cường tráng, hoạt động linh hoạt, tinh
lực dồi dào, tai tinh, mắt sáng.
Khi thận tinh bất túc thường xuất hiện các triệu chứng: động tác chậm chạp,
xương cốt vô lực, thiếu máu hoặc chóng mặt hay quên, trẻ con chậm phát dục trí lực
và tài lực kém phát triển.
Ngoài ra răng là phần dư của cốt: “xỉ vỉ cốt chi dư”, răng có liên quan với cốt. Khi
thận khí hư suy, răng lung lay và rụng.
* Thận chủ mệnh môn hỏa.
Thận là tạng thuộc thủy nhưng lại tàng hỏa của mệnh môn. Thận dương là duy
trì năng lượng chủ yếu của sinh mệnh, gọi là hỏa mệnh của mệnh môn.
Hoả của mệnh môn cùng với thận thủy ,thận tinh, một âm, một dương hợp đồng
tương hỗ duy trì mọi chức năng sinh thực ,sinh trưởng và phát dục và duy trì chức
năng tạng phủ trong cơ thể được bình thường.
Khi mệnh môn hỏa suy có thể dẫn đến liệt dương, xuất tinh sớm, mất khả năng hoàn
tỳ nên hay ỉa lỏng vào sáng sớm (ngũ canh tả) ỉa chảy mãn tính. Mệnh môn hỏa
vượng hay gặp: thất tiết, di tinh...
* Thận chủ nạp khí.
Việc hô hấp do phế là chủ nhưng điều hành, điều độ lại là chức năng quan trọng
của thận. Thận có tác dụng giúp đỡ phế về hô hấp và giáng khí, gọi là nạp khí.
Nếu như thận không nạp khí sẽ phát sinh háo suyễn đoản khí, đặc điểm là thở ra
nhiều, thở vào ngắn. Trên lâm sàng điều trị phải bổ thận,bổ thận nhập tức, bổ thận
nạp khí.
Liên hệ với y học hiện đại: thận có vai trò điều hòa kiềm toan, sự tăng giảm độ
kiềm toan có liên quan đến thông khí ở phổi )
* Thận bên trên khai khiếu ở tai, bên dưới khai khiếu ở nhị âm.
-

Tai có liên quan với thận “nhĩ vi thận chi thượng khai khiếu” thận khí đầy đủ thì

thính giác bình thường, thận khí hư thì ù tai, tai điếc. Nhị âm là chỉ niệu đạo và hậu
môn là hạ khiếu của thận
- “nhị tiện vi thận chi hạ khiếu”. Bài tiết đại tiểu tiện có liên quan với thận.
- Thận khí hư dẫn đến bí đái hoặc đái dầm dề, thận âm bất túc, đại tiện bế tắc,
mệnh môn hỏa suy có thể dẫn đến ỉa lỏng sáng sớm (ngũ canh tả).
* Thận chủ lông tóc.

“Kỳ hoa tại phát” lông tóc, dài, tốt xanh hay dễ rụng, dễ bạc đều có liên quan
đến thận khí thịnh hay suy.
- Thận khí vượng thì lông tóc đen óng mượt. Thận khí hư suy thì lông tóc dễ
rụng, bạc nhanh.
* Sinh lý, bệnh lý của bàng quang.
Chức năng của bàng quang chủ yếu là chứa đựng và bài tiết nướctiểu.
Khi bàng quang có bệnh xuất hiện đái dắt, đái bí hoặc đái đau. Thận liên hệ với
bàng quang thông qua kinh lạc, tạo thành mối quan hệ biểu lý, chức năng bài tiết của
bàng quang thất thường có khi liên quan với bệnh tật của thận.
Khi thận hư bất năng cố nhiếp sẽ xuất hiện tiện bế hoặc di niệu.
Từ sinh lý và bệnh lý trên, đông y coi thận về cơ bản bao gồm những chức năng và
bệnh tật của hệ thống sinh dục, tiết niệu của tây y và một bộ phận tạo máu, hệ thống
nội phân tiết và hệ thống thần kinh của tây y. Bàng quang của đông y gần như bàng
quang của tây y.
.6. Tam tiêu.
“Tam tiêu thuộc lục phủ chi nhất”. Bao gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.
Về chức năng và hình thái của tam tiêu, đại đa số các tác giả cho rằng:
Thượng tiêu chỉ tâm phế, tương đương các chức năng của vùng ngực.
Trung tiêu chỉ tỳ vị, tương đương các chức năng của cơ quan vùng bụng trên.
Hạ tiêu chỉ can, thận, bàng quang, đại tiểu trường tương đương các chức năng của cơ
quan vùng bụng dưới. Chức năng của tam tiêu:
- Thượng tiêu như “vụ” chỉ tác dụng quản lý xuất nhập, phân bố chuyên chở các
vật chất dinh dưỡng của tâm và phế ,vụ còn có ý nghĩa như xương mù.
- Trung tiêu như âu ,bọt nước trắng như sữa, chỉ tác dụng vận hóa của tỳ vị.
- Hạ tiêu như độc ,rãnh nước chỉ tác dụng bài tiết của bàng quang và thận.
Trong học thuyết “ôn bệnh” phần biện chứng tam tiêu là lấy tam tiêu làm cương lĩnh
cho biện chứng luận trị và phân loại chứng hậu.
- Thượng tiêu bệnh-thời kỳ đầu của bệnh truyền nhiễm
- Trung tiêu bệnh-thời kỳ toàn phát, khí phận chứng hậu, triệu chứng của khí
phận
- Hạ tiêu bệnh-xuất hiện triệu chứng, huyết phận chứng hậu, tác nhân gây bệnh
là tà khí vào huyết phận.
Tóm lại: chức năng của tam tiêu là chỉ tổng hợp các chức năng sinh lý của nhóm
tạng phủ nào đó trong khoang ngực, bụng. Bệnh tật của tam tiêu có liên quan đến sự
chuyển vận các chất dinh dưỡng ở tạng phủ.

Chú ý hệ bạch mạch, hệ thống dưỡng chấp chi phối cho các tạng phủ và cơ quan
7. Tử cung .
Gọi là bào cung, bao gồm tử cung và phần phụ , tác dụng chủ về kinh nguyệt và
sinh sản, có liên quan mật thiết với thận và đặc biệt là hai mạch xung, nhâm.
Ba bộ phận bảo đảm cho thai sản, kinh nguyệt và sinh dục được bình thường. Thận
tinh đầy đủ, mạch xung nhâm thịnh, kinh nguyệt, sinh dục bình thường.
Thận tinh hư tổn, mạch xung nhâm hư, kinh nguyệt không điều hòa, thậm chí không
có thai.
.4. Sự liên quan của ngũ tạng với nhau:
Giữa tạng với tạng và giữa phủ với tạng có liên quan chặt chẽ với nhau. Trên lâm
sàng thường biểu hiện chủ yếu là mối quan hệ giữa tạng với tạng.
4.1. Tâm.
Liên quan giữa tâm và phế:
Tâm chủ huyết, phế chủ khí, “tâm phế tương hữu” cả hai đều làm nhiệm vụ tuần
hoàn huyết dịch trong cơ thể “tâm huyết túc, tắc phế khí xung bái”, phế khí thịnh
vượng thì tuần hoàn bình thường, trái lại phế khí bất túc ảnh hưởng đến tuần hoàn
huyết dịch, chức năng của tâm không tốt sẽ ảnh hưởng đến hô hấp.
- Liên quan giữa tâm và thận: “Tâm cư thượng tiêu thuộc hỏa. Thận cự hạ tiêu
thuộc thủy”. Trong điều kiện bình thường hai tạng liên hệ hỗ căn, duy trì mối quan
hệ hiệp đồng. “Tâm thận tương giao, thủy hỏa tương tế”. Nếu như quan hệ đó bị phá
vỡ sẽ phát bệnh lý, tâm phiền thất miên, đầu choáng tai ù, tai điếc, lưng gối đau mỏi,
đó là hội chứng tâm thận bất giao”.
- Liên quan giữa tâm và can: tâm chủ huyết mạch toàn thân, can có chức năng
trữ tàng điều tiết huyết dịch, hai tạng liên quan mật thiết, nếu như tâm huyết bất túc
thì huyết hao can hư, huyết bất dưỡng, cân, đau cân cốt, co quắp, co giật…
- Liên quan giữa tâm và tỳ: sự vận hoá của tỳ nhờ vào sức huy động của tâm
dương và tư dưỡng của tâm huyết, còn chức năng của tâm cũng nhờ vào sự chuyển
vận, vận hóa thủy cốc tinh vi của tỳ để tư dưỡng.
+ Tâm chủ tuần hoàn (vận hành) huyết dị. Tỳ có chức năng thống nhiếp huyết
dịch.

Vậy nên tâm tỳ có quan hệ mật thiết, trên lâm sàng thường thấy:” hội chứng
tâmtỳ lưỡng hư, hoặc tâm tỳ suy tổn”.
Các triệu chứng: mất ngủ, hay quên, hồi hộp, sắc mặt vàng tối, ăn kém, đại tiện
nát.
.4.2. Can.
- Can và tỳ: can khí thái vượng hoặc tỳ khí hư đều dễ xuất hiện “can mộc thừa
tỳ, can vị bất hoà”; đau sườn, đau bụng, bụng chướng…
- Can và phế: bình thường phế là tạng khắc can: khi bệnh lý thông thường can
phản khắc phế.
Ví dụ: Phế khí hư không thể chế can để can khí thượng nghịch (nghịch lên) làm
cho phế khí túc giáng khó khăn, ngực đầy chướng khó chịu; mặt khác can hỏa quá
thịnh tắc chế ước phế, xuất hiện triệu chứng: dễ giận dữ, đau ngực sườn, ho khan
hoặc ho có đờm, có máu (mộc hỏa hình kim).
- Can và thận: can thận có liên quan mật thiết “can thận đồng nguyên”, can dựa
vào thận thủy (thận âm) để tư dưỡng, thận thủy bất túc, can âm bất túc, âm hư bất
năng liễm dương – can dương thượng nghịch, đau đầu chóng váng, huyết áp cao…
4.3 Tỳ
- Tỳ và phế: phế khí dựa vào sự vận hóa thủy cốc tinh vi của tỳ để tu dưỡng.
Lâm sàng đối với bệnh phế khí hư có lúc dùng pháp điều trị: “bổ tỳ ích phế”
hay “bồi thổ sinh kim”.
- Tỳ và thận: sự vận hóa của tỳ phải nhờ vào sự giúp đỡ mệnh môn hỏa của thận
thủy (thổ khắc thủy), nếu tỳ hư chức năng vận hóa kém không thể chế được thủy
phát bệnh, thủy phiếm loạn sinh chứng thủy thũng.
- Phế và thận: phế chủ khí, thận chủ nạp khí. Thận có thể giúp cho sự túc giáng của
phế khí tốt nếu thận dương hư bất năng nạp khí tất sinh khó thở. Lâm sàng có thể
thấy hen suyễn do thận hư nên phải dùng pháp bổ thận để nạp khí.
5 .Kết luận.
Về mặt tiêu hóa và hấp thụ: vi chủ thu nạp, tỳ chủ vận hóa, tiểu trường phân biệt
thanh trọc, đại trường truyền đạt tinh thô, ngoài ra còn có sự tham gia sơ tiết của can
và mệnh môn hỏa của thận.