Tải bản đầy đủ
.3 1. Tâm và tiểu trường.

.3 1. Tâm và tiểu trường.

Tải bản đầy đủ

Tâm và mồ hôi có quan hệ mật thiết, cổ nhân cho rằng “hãn vi tân dịch” người bệnh
dùng thuốc phát hãn quá độ hoặc do nguyên nhân khác dẫn đến ra mồ hôi quá nhiều
làm tổn hại tâm dương, thậm chí xuất hiện chứng nguy kịch “đại hãn vong dương”.
* Phụ.
Tâm bào còn gọi là tâm bào lạc, là ngoại về của tâm.
Do tâm là tạng quan trọng, tâm chủ chi quan. Nếu “tâm suy thập nhị quân đều nguy”
nên còn có một cơ quan ngoại vệ để bảo vệ nó.
Nếu như ngoại tà phạm tâm trước tiên vào tâm bào.
Trong bệnh ôn nhiệt, sốt cao mê sảng (loạn ngôn) là biểu hiện nhiệt nhập tâm bào,
tâm bào ở đây chủ yếu là chỉ một phần của hoạt động thần kinh cao cấp và thần kinh
thực vật
* Bệnh lý, sinh lý của tiểu trường.
Chức năng sinh lý của tiểu trường là tiếp thu thức ăn từ vị truyền đạt xuống để tiếp
tục quá trình tiêu hoá phân biệt thanh trọc.
Thanh là chỉ tinh hoa của thức ăn “thủy cốc chi tinh” từ tiểu trường sau khi hấp thu
vận chuyển lên phế.
Trọc chỉ chất thô của vật chất từ tiểu trường đưa xuống đại trường hoặc vận chuyển
qua bàng quang.
- Khi tiểu trường có bệnh, không những ảnh hưởng đến chức năng tiêu hoá hấp thu
mà còn xuất hiện tiểu tiện thất thường.
- Tâm liên hệ với tiểu trường thông qua kinh lạc tạo thành liên hệ biểu và lý.
- Nếu như tâm hỏa qúa vượng có thể thấy đầu lưỡi đau, hồng, miệng rộp loét, tiểu
tiện ngắn đỏ, thậm chí đái ra máu. Bệnh lý như vậy gọi là “tâm đa nhiệt vu tiểu
trường”. Tâm trong đông y, trên cơ bản gồm: tạng tâm của y học hiện đại và một bộ
phận thần kinh trung khu hệ thống thần kinh thực vật…cả về chức năng sinh lý bình
thường và khi phát bệnh.
2. Can và đởm.
Sinh lý và bệnh lý của can.
* Chủ sơ tiết.
Can có tác dụng thăng phát, thấu tiết, chủ quản về thư thái điều đạt khí cơ của toàn
cơ thể.

Nếu như can mất điều đạt, sơ tiết thất thường, khí cơ không thăng dẫn đến nhiều
chứng bệnh.
Nếu như can khí uất hay sinh giận dữ, đau đầu, ngực sườn đau chướng, kinh nguyệt
không đều…Trái lại can khí thăng phát quá làm cho can dương thượng nghịch hóa
hỏa sẽ dẫn đến trúng phong, thấy đau đầu dữ dội hoặc mắt đỏ, mắt đau, tai ù, tai
điếc.
Can khí không thăng phát – sinh huyễn vựng, mất ngủ dễ giật mình, tinh thần hoảng
hốt.
* Chủ tàng huyết.
Can có chức năng tàng huyết và điều tiết lượng huyết, khi hoạt động huyết dịch trữ
tàng ở can cung cấp cho các cơ quan tổ chức, khi nghỉ ngơi hoặc ngủ huyết lại dồn
về can,
Tàng huyết còn có nghĩa là có khả năng dự phòng chảy máu. Nếu chức năng tàng
huyết kém sẽ sinh ra chảy máu: thổ huyết, nục huyết…
* Khai khiếu ở mắt.
Can và mắt có liên quan mật thiết với nhau, can có bệnh thường ảnh hưởng đến sự
tinh tường của mắt.
Can hư tất thị lực giảm (quáng gà),
Can hoả vượng hay có mắt đỏ.
* Can chủ cân, vinh nhuận ra móng tay chân.
Can chủ quản hoạt động của cân, chi phối khớp xương và hoạt động cơ nhục của
toàn cơ thể.
Can nhờ vào sự nuôi dưỡng của can huyết.
Nếu như can huyết bất túc không dưỡng được cân sẽ phát sinh đau cân, tê mỏi, co
duỗi khó khăn hoặc có khi nhiệt cực dẫn đến can phong nội động cũng có thể sinh
co giật.
Móng tay, chân là phần dư của cân, móng tay, chân và can có quan hệ mật thiết, can
huyết xung túc thì móng ngón tay hồng nhuận. Can huyết bất túc, móng tay khô sác,
bạc trắng, y học xưa cho rằng: “ký hoa tại qúa”.
* Sinh lý bệnh của đởm.
Đởm là một trong sáu phủ nhưng chức năng của nó khác các phủ khác nên gọi là
phủ kỳ hàng.
Tác dụng chủ yếu của đởm là trữ tàng dịch mật. Dịch mật là dịch thể màu xanh.
Người xưa gọi mật (đởm) là “trung thanh chi phủ”.

Bệnh đởm biểu hiện chủ yếu là đau sườn, vàng da, đắng miệng, nôn mửa ra nước
đắng.
Can đởm quan hệ với nhau thông qua kinh lạc tạo thành quan hệ biểu lý, Can đởm
tương liên, khi phát bệnh thường ảnh hưởng tương hỗ, khi điều trị thường can đởm
đồng trị.
Do những lý luận trên người xưa coi chức năng can đởm như là chức năng gan mật
của tây y (về mặt cơ bản) ngoài ra còn bao gồm cả một bộ phận hệ thống thần kinh
cao cấp, hệ thống huyết dịch và cơ quan thị giác.
3. Tỳ và vị (sinh lý và bệnh lý của tỳ và vị
* Chủ về vận hoá và chuyển hóa.
Tỳ chủ quản tiêu hóa hấp thu và vận chuyển thức ăn.
Thức ăn vào vị, sau khi tiêu hóa bước đầu, tới tỳ tiếp tục tiêu hóa thêm một bước
những vật chất tinh vi (dinh dưỡng) được hấp thu phân bố khắp toàn thân, cung cấp
dinh dưỡng cho tất cả các cơ quan tổ chức của cơ thể.
Ngoài sự vận hóa thức ăn tinh vi, tỳ còn có chức năng vận hóa thủy cốc cùng với
phế và thận duy trì sự cân bằng thủy dịch trong cơ thể.
Khi chức năng vận hóa của tỳ được bình thường thì tiêu hóa hấp thu chuyển hóa tốt,
khí huyết vượng thịnh, tinh lực khỏe mạnh.
Nếu tỳ hư vận hóa thất thường, tiêu hóa hấp thu không tốt dẫn đến bụng chướng, đại
tiện lỏng nát có thể là nguyên nhân vận hóa thủy dịch trở ngại dẫn đến thủy cốc đình
trệ phát sinh thủy thũng (phù) hoặc đàm ẩm.

* Chức năng thống huyết.
Tỳ có chức năng thống nhiếp huyết dịch của toàn cơ thể.
Nếu như tỳ hư chức năng thống nhiếp ảnh hưởng làm cho “huyết bất tuần kinh” sinh
các triệu chứng chảy máu, nôn máu, chảy máu cam, băng lậu, đại tiện ra máu…
Tỳ quan hệ với việc sinh huyết rất chặt chẽ. Tỳ hư chức năng sinh hóa huyết dịch
giảm sút dẫn đến thiếu máu.
* Tỷ chủ cơ nhục tứ chi và khai khiếu ở môi miệng.
Bình thường tỳ vận hóa thủy cóc tinh vi dinh dưỡng toàn thân, ăn uống đầy đủ,
cơ nhục to khoẻ, cơ thể cường tráng, tứ chi có lực, môi miệng hồng nhuận.

Tỳ khí hư nhược, vận hóa thất thường, ăn uống kém, cơ nhục yếu mềm, tứ chi vô
lực, sắc môi trắng nhợt hoặc vàng tối.
* Bệnh lý, sinh lý của vị.
Chức năng chủ yếu của vị là thu nạp thủy cốc và cũng có tham gia nhào trộn thủy
cốc. Người xưa cho rằng “vị vi thủy cốc chi hải”.
Khi vị bị bệnh có các triệu chứng: Bụng đau, đầu nặng, ăn uống giảm sút, buồn nôn,
nôn khan.
Tỳ và vị quan hệ biểu lý thông qua kinh lạc. Tỳ chủ vận hóa, vị chủ thu nạp cùng
hoàn thành nhiệm vụ tiêu hóa hấp thu vận chuyển dinh dưỡng, tác dụng của tỳ vị đối
với cơ thể vô cùng quan trọng. Người xưa cho rằng: “Hữu vị khí tắc sinh, vô vị khí
tắc tử”.
- Vị vi hậu thiên chi bản, tỳ và vị có đặc điểm khác nhau.
- Tỳ khí chủ thăng, sợ thấp, thích táo.
- Vị khí chủ giáng, thích nhuận, sợ táo,
Hai mặt tương phản, tương thành. Vị khí có giáng, thủy cốc mới có thể đi xuống
đường tiêu hóa, đi toàn thân và đến các tạng phủ khác.
Nếu vị khí không giáng trái lại nghịch lên sẽ buồn nôn, nôn khan, ợ hơi, ợ chua,
ách nghịch, vị thống.
- Tỳ khí bất thăng lại hạ hãm (gọi là trung khí hạ hãm) sẽ dẫn đến các triệu chứng
loạn ngôn, thiếu khí, tiết tả, thoát giang, sa các tạng.
- Tỳ thuộc âm; tỳ hư dễ sinh thấp (tỳ không kiện vận được thủy thấp) thường dễ bị
thấp tà xâm phạm.
- Nếu tỳ bị thấp tà từ ngoài xâm phạm sẽ phát sốt, nặng đầu, đau mình, thân thể
nặng nề, thượng vị đầy tức, mạch nhu hoãn, rêu lưỡi trắng dày. Điều trị phải dùng
“ôn tỳ táo thấp”.
- Vị thuộc dương: bệnh ở vị đa phần thuộc nhiệt, vị hỏa, miệng khô, thích uống,
không muốn ăn hoặc đau răng, chảy máu chân răng, thổ huyết, chảy máu cam, điều
trị phải “thanh nhiệt giáng hỏa”.
- Liên hệ đông y và tây y, vị và dạ dày tương ứng với nhau. Còn tỳ của đông y
bao gồm chức năng bệnh tật của quá trình tiêu hóa hấp thu vật chất, cân bằng chuyển
hóa dịch thể và một phần sự tuần hoàn huyết dịch. So với tây y tỳ của đông y có
chức năng rất khác biệt.
4. Phế và đại trường (sinh lý và bệnh lý của phế và đại trường)