Tải bản đầy đủ
Nội dung cụ thể của bát cương.

Nội dung cụ thể của bát cương.

Tải bản đầy đủ

Mặt khác, các bệnh do nội thương đều thuộc lý chứng. Biểu hiện lâm
sàng của lý chứng rất đa dạng, không phải chỉ có chia ra hàn nhiệt, hư
thực mà còn có biểu hiện các triệu chứng của các tạng phủ khác nhau.
Biểu hiện cụ thể giống như sự kết hợp chứng tạng của bệnh ôn nhiệt
và biện chứng tạng phủ.
Triệu chứng chung nhất của lý chứng: không sợ gió, không sợ lạnh,
mạch tượng trầm, chất lưỡi thường có biến đổi, rêu lưỡi thường vàng
hoặc đen.
Ví dụ: thời kỳ đầu của phế viêm có sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, đau
mình, mạch phù sác thuộc về chứng biểu,
Nếu như bệnh phát triển, bệnh nhân sốt cao, mặt đỏ, không sợ lạnh,
miệng khát, đau ngực, khái thấu (ho), nôn, đờm máu rỉ sắt tanh, phiền
táo, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hồng sác là triệu chứng của phế nhiệt
(thuộc lý chứng).
Lý chứng không chỉ biểu hiện có lý hàn, lý nhiệt, lý hư, lý thực
mà còn có nhiều diễn biến phức tạp.
Ví dụ: có hư đi với hàn là hư hàn, hoặc hàn đi với thực là thực hàn
và tất nhiên sẽ có hư nhiệt hoặc thực nhiệt, vì vậy lâm sàng cần phải
phân biệt đủ các chi tiết để chẩn đoán đúng.
Ngoài ra, có khi bệnh không ở biểu, cũng không ở lý mà là bán biểu
bán lý hoặc ở giữa biểu và lý, triệu chứng chủ yếu là hàn nhiệt vãng
lai, điều trị phải dùng phép hoà giải.
Biểu lý đồng bệnh:
Có khi cả biểu và lý đều mắc bệnh. Ví dụ: thời kỳ đầu của lỵ cấp tính
có đau bụng, đại tiện máu mũi, miệng khát, rêu lưỡi vàng hoặc trắng
là triệu chứng của lý,
Còn sợ lạnh phát sốt, tứ chi mỏi đau, mạch phù sác là triệu chứng của
biểu. Biểu lý đồng bệnh thường gặp trong các tình huống sau; Một là
trong bệnh ngoại cảm, biểu chứng chưa giải hết, tà đã chuyển vào lý,

Hai là bệnh nhân sẵn có bệnh nội thương lại vừa bội nhiễm thêm
bệnh ngoại tà (tân cảm). Biểu lý đồng bệnh phải biểu lý song giải,
sau là ưu tiên điều trị tân cảm.
Điểm chủ yếu phân biệt biểu chứng và lý chứng: trong chứng
bệnh có sốt, có sợ lạnh, có khi không, chất lưỡi lúc đỏ lúc nhợt, rêu
lưỡi lúc trắng lúc vàng, mạch tượng khi phù khi trầm nhưng chủ yếu
là có phát sốt, sợ lạnh, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch phù là thuộc biểu
chứng,
Trái lại phát sốt, không sợ lạnh, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm hoặc
sác là thuộc lý chứng.
2.2. Hàn và nhiệt:
Hàn và nhiệt là chỉ tính chất của bệnh tật.
“dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tất hàn”,
Thực chất của hàn nhiệt là biểu hiện cụ thể của âm dương thiên thịnh
hay thiên suy. Việc phân biệt hàn nhiệt có ý nghĩa quan trọng trong
dùng thuốc ôn ấm hay dùng thuốc hàn lương.
Chứng hàn có biểu hàn và lý hàn, ở đây chủ yếu đi sâu vào
chứng lý hàn. Biểu hiện chủ yếu là:
Sợ lạnh, tay chân mát lạnh, miệng nhạt, không khát,thích uống
ấm tiểu tiện trong nhiều đái đêm,đại tiện nát ,lỏng,sắc mặt xanh,rêu
lưỡi trắng trơn,chất lưỡi nhợt,mạch trì.
Chứng lý nhiệt biểu hiện chủ yếu là:
Người nóng chân tay ấm, thích uống lạnh, tiểu tiện ngắn đỏ, đại
tiện bí kết, sắc mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô hoặc đen,
mạch sác hay gặp trong các loại bệnh có sốt cao,
Thời kỳ toàn phát của các bệnh truyền nhiễm và nhiễm trùng,
điều trị phải dùng pháp thanh nhiệt.
Hàn nhiệt giao thế:
Là chỉ chứng hàn và chứng nhiệt cùng xuất hiện.

Ví dụ: sợ lạnh, phát sốt, vô hãn (không có mồ hôi), đau đầu, đau
mình, khí suyễn, phiền táo, miệng khát, lưỡi đỏ, rêu trắng vàng, mạch
phù khẩn gọi là biểu hàn lý nhiệt (trong nóng ngoài lạnh).
Ngoài ra còn có biểu nhiệt, lý hàn; thượng nhiệt, hạ hàn; hạ nhiệt
thượng hàn.
Ví dụ: sốt, đau đầu, ho đờm vàng, họng khô nhưng bụng chướng, đại
tiện lỏng nát là biểu nhiệt lý hàn (có thể gặp ở người sẵn có tỳ vị hư
hàn lại bị ngoại cảm phong nhiệt).
Trường hợp đau đầu, mắt đỏ, đau răng, mồm lở loét mà bụng dưới
lạnh đau là trên nhiệt dưới hàn (có thể gặp ở hạ tiêu hư hàn nhưng
tâm vị có nhiệt),
vị quản thống, ái khí thốn toan (ợ nước chua, miệng nhạt, ăn không
ngon miệng, tiểu tiện dắt, khó đi, sáp thống (đi tiểu đau, không thông)
là trên hàn dưới nhiệt, thường gặp trong chứng bệnh vị hàn nhưng hạ
tiêu thấp nhiệt.
Hàn nhiệt chân giả, trên lâm sàng thường gặp các trường hợp
bản chất bệnh là chứng nhiệt, nhưng biểu hiện ra ngoài là tượng
nhiệt, hiện tượng bệnh lý này gọi là chân hàn giả nhiệt hoặc chân
nhiệt giả hàn.
Nếu như không chú ý đến bản chất bệnh sẽ phạm sai lầm trong “ngộ
chẩn, ngộ trị” chẩn đoán và điều trị.
Ví dụ:
Bệnh sởi trẻ con, nốt ban chẩn ở ngoài da mọc thuận hay không thuận
biểu hiện sốt nóng dữ dội, nói nhảm, la hét, dãy dụa không yên,
nhưng tay chân giá lạnh, sắc mặt xanh nhợt, mạch trầm tế mà sác là
biểu hiện chứng hàn. Một số bệnh trẻ em; miệng mũi khí nhiệt (thở
nóng), ngực bụng đều nóng, miệng khát, uống nhiều, thích mát, chất
lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mà khô, mạch trầm tế sác, hữu lực, xét về bản
chất bệnh vẫn là chứng nhiệt.

Y học cổ truyền cho rằng: “tà nhiệt nội uất việt thân, chi thể mạt đoạn
việt lương” tức là nhiệt càng cao, lạnh càng nhiều “nhiệt thâm quyết
cũng thâm” những trường hợp nêu trên là chân nhiệt giả hàn.
Trong chứng bệnh sốt (nhiệt thắng), khi tuần hoàn ngoại vi không
tốt thường có biểu hiện chân nhiệt giả hàn, khi điều trị chủ yếu vẫn
phải dùng thuốc hàn lương để thanh nhiệt giải độc.
Một số bệnh mãn tính kéo dài, người gầy, cảm giác mình nóng, hai
gò má đỏ về chiều hay phiền táo, rêu lưỡi đen, mạch phù đại, bên
ngoài thấy gần như có nhiệt; nhưng bệnh nhân thích uống nước ấm,
ăn nóng, nằm co quắp, đa số thích mặc áo, đắp kín, chất lưỡi trắng
nhợt, rêu lưỡi đen mà nhuận, mạch phù đại nhưng vô lực vì vậy bản
chất vẫn là chứng hàn gọi là chân hàn giả nhiệt, phải dùng thuốc ôn
nhiệt để ôn dương trừ hàn.
Tiêu chuẩn chủ yếu phân biệt chứng hàn và chứng nhiệt.
Chứng hàn

Chứng nhiệt

- Miệng không khát
- Miệng khát
- Thích uống ấm nóng
- Thích uống mát
- Tiểu tiện trong dài
- Tiểu tiện ngắn đỏ
- Đại tiện lỏng nát
- Đại tiện khô kết (táo)
- Sắc mặt trắng xanh
- Sắc mặt đỏ
- Chất lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận
- Lưỡi đỏ, rêu vàng khô
- Mạch trì
- Mạch sác
Chú ý: không phải đem chứng nhiệt so với bản tạng thiên nhiệt
(thân nhiệt tăng). Chứng nhiệt là chỉ một nhóm chứng trạng có trạng
thái nhiệt, còn thân nhiệt tăng cao là chỉ một triệu chứng trong chứng
nhiệt. Không phải cứ thân nhiệt thiên thắng là có chứng nhiệt, trái lại
tất cả các chứng nhiệt đều có thân nhiệt tăng cao.
Ví dụ: chứng biểu hàn tuy thân nhiệt của người bệnh cao hơn bình
thường nhưng lại có sợ lạnh nhiều, miệng không khát, rêu lưỡi trắng
nhuận đều thuộc chứng hàn, vì vậy vẫn có thể chẩn đoán là chứng lý
Tóm lại: khi biện chứng về hàn nhiệt hoặc hàn nhiệt chân giả,
khó khăn đa phần là bệnh tình phức tạp, về chẩn đoán phải chú ý đến

mạch và lưỡi, phải tham khảo quá trình bệnh sử, yếu tố bản tạng thiên
hàn hay thiên nhiệt, phân biệt hàn nhiệt chân giả để có hướng điều trị
chính xác.
2.3. Hư và thực:
Trạng thái hư và thực là chỉ sự thịnh suy của chính khí và tà khí, nói
chung hư là chỉ chính khí của cơ thể bất túc, sức đề kháng cơ thể
giảm sút, thực chứng là chỉ bệnh tà, khí thịnh tà chính đấu tranh quyết
liệt.
Chứng hư thường gặp trong bệnh nặng, sau khi bị bệnh lâu
ngày sức đề kháng cơ thể giảm sút, chính khí bất túc, cơ thể hư
nhược. Biểu hiện chủ yếu: sắc mặt trắng bủng, tinh thần mệt mỏi, gầy
gò vô lực, tâm quí, khí đoản, tự hãn, tư hãn, lưỡi mềm bệu không rêu,
mạch tế nhược, vô lực, điều trị chủ yếu dùng bổ pháp. Hư chứng có:
âm hư (hư nhiệt), dương hư (hư hàn), khí hư, huyết hư và ngũ tạng
hư.
Thực chứng đa phần thuộc bệnh mới mắc, tà khí còn thịnh. Ví
dụ: ngoại cảm tà thịnh; đàm ẩm thủy thấp nội đình, khí trệ huyết ứ,
thực tích, trùng tích…Mặt khác do sức đề kháng cơ thể mạnh, kết quả
là tà chính đều mạnh nên đấu tranh quyết liệt hơn. Đặc điểm lâm sàng
của thực chứng là.
- Quá trình diễn biến bệnh ngắn.
- Tà khí, chính khí đều mạnh, đấu tranh quyết liệt, triệu chứng
lâm sàng rầm rộ.
- Tinh thần hưng phấn, âm thanh cao, khí thô hoặc sốt cao, mặt
đỏ hoặc không sốt, mặt xanh, hoặc đàm nghịch tích thịnh hoặc đau dữ
dội, cự án, rêu lưỡi thường đầy, mạch hồng có lực.
Trong thực chứng cũng có thực hàn, thực nhiệt. Ví dụ: áp xe
phổi thì phát sốt, miệng khát, suyễn khái, hung thống do đàm mủ tích
tụ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch hoạt sác, có lực là chứng

thực nhiệt, phải dùng thuốc tả phế thanh nhiệt để điều trị. Nếu như
đau bụng dữ dội, từng cơn, âm thanh cao, khí thô, mặt xanh, chi lạnh,
rêu lưỡi trắng đầy, mạch trầm khẩn, có lực đó là chứng lý thực hàn,
khi điều trị phải dùng thuốc ôn trung tán hàn.
Hư thực thác tạp: trên lâm sàng thường có hư chung hiệp thực,
trong thực có hư, trong diễn biến bệnh đều tồn tại cả hư và thực. Ví
dụ: người bệnh xơ gan cổ chướng; toàn thân gầy gò, thiếu máu, xanh
vàng, mệt mỏi, vô lực, chán ăn, ăn kém, vì vậy bản chất của bệnh là
thuộc chứng hư nhưng đương nhiên tồn tại lượng nước trong ổ bụng
(cổ chướng), có gan to hoặc lách to, sườn bụng đau, đây là thuộc
chứng thực, về điều trị phải công bổ kiêm dùng (kiêm trị) hoặc trước
bổ sau công hoặc trước công sau bổ.
Hư thực chân giả: bản chất của bệnh là chứng hư nhưng biểu
hiện lâm sàng lại thuộc thực. Triệu chứng của giả thực biểu hiện;
bụng chướng nhưng không giống như chướng bụng trong thực chứng
(chướng kéo dài không giảm) mà ở đây lúc chướng lúc giảm, tuy có
đau bụng nhưng đau thiện án, không đau cự án, tuy có vẻ sốt nhưng
lưỡi mềm, mạch hư. Biểu hiện thứ hai bản chất bệnh thuộc thực
chứng nhưng biểu hiện lâm sàng là hư chứng nên gọi là giả hư. Triệu
chứng của giả hư tuy không thất ngôn nhưng âm thanh cao, khí thô,
tuy không muốn ăn nhưng khi ăn có thể ăn được, tuy tiết tả nhưng sau
tả cảm giác đau lại mau hơn, tuy ngực bụng chướng đầy nhưng có
đau khi ấn hoặc đau cố định không nhiều.
Điểm chủ yếu để phân biệt chứng hư và chứng thực là: bệnh
lịch dày hay ngắn (thời gian mắc bệnh lâu hay mới), âm thanh, khí
thở mạnh hay yếu, chỗ đau khi ấn thiện án hay cự án (đau tăng hay
không đau tăng), chất lưỡi thô ứng hay mền bệu, mạch có lực hay vô
lực.
Chứng thực:

- Quá trình bệnh ngắn, mới mắc

Chứng hư:

- Nói to, thở thô
- ấn chỗ đau cự án (đau tăng)
- Lưỡi cứng khô, mạch có lực.
- Quá trình bệnh kéo dài
- Nói nhỏ nhẹ, khí đoản
- Chỗ đau thiện án (ấn vào dễ chịu)
- Chất lưỡi mềm bệu, mạch vô lực.

5.2.2.4. Âm và dương.
Âm và dương có thể gọi là tổng cương của bát cương bới vì
khái quát: biểu thực nhiệt là thuộc dương còn lý hư hàn là thuộc âm.
Tất cả các chứng bệnh đều có thể quy nạp thành hai loại âm chứng và
dương chứng.
- Âm chứng: có những biểu hiện như tinh thần uỷ mị, sắc mặt
xám tối, chân tay lạnh, toàn thân mát thích nằm co, đoản khí, nói nhỏ
nhẹ, thích yên tĩnh, không khát hoặc thích uống ấm nóng, bụng đau
thích xoa bóp, đại tiện lỏng nát, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt bệu,
rêu lưỡi nhuận trơn, mạch tượng đa phần trầm trì tế nhược.
- Dương chứng: biểu hiện tinh thần thường hưng phấn, sắc mặt
hồng đỏ, mình nóng, tay chân ấm nóng, thích nằm ngửa duỗi, khí thô,
nói nhiều, thích động, miệng khát hoặc thích uống nước mát, bụng
đau không thích xoa ấn (cự án), đại tiện khô táo, tiểu tiện ngắn đỏ,
chất lưỡi hồng ráng, lưỡi cứng rêu lưỡi vàng khô, mạch tượng đa
phần hồng sác vô lực.
- Âm hư: chỉ phần âm bất túc “âm hư sinh nội nhiệt” thường
gọi tắt là hư nhược, biểu hiện chủ yếu là lòng bàn tay, bàn chân nóng
ấm, hay có nóng vào buổi chiều, gầy gò tự hãn, miệng ráo họng khô,
tiểu tiện ngắn và đỏ, đại tiện khô ít, chất lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không có
rêu, mạch tế sác vô lực.
- Dương hư: là dương khí bất túc dương hư tắc sinh hàn nói
chung là trạng thái hư hàn biểu hiện chủ yếu là mệt mỏi vô lực thiếu
khí lưỡi nói sợ lạnh, tay chân lạnh, tự hãn, sắc mặt trắng mềm, rêu

trắng, mạch trì nhược hoặc đại mà vô lực. Dương hư thường gặp ở
người già, các loại bệnh chuyển hoá cơ bản thấy công năng của cơ thể
suy giảm. Ngoài ra lâm sàng còn có hai hội chứng vong dương và
vong âm là chỉ các trạng thái cơ thể khi sốt cao đại hãn tả hạ hoặc nôn
mửa nhiều hoặc mất máu quá nhiều. Khi vong âm vong dương là
triệu chứng nguy kịch, điều trị cần phải tích cực khẩn trương cấp cứu.
Vong âm biểu hiện chủ yếu là hãn xuất (mồ hôi nóng) vị mặn
không dính, tứ chi còn ấm, khí thở thô, miệng khát thích uống, sắc
mặt hơi đỏ, lưỡi đỏ khô mạch hư đại sác vô lực.
Vong dương chủ yếu mồ hôi lạnh vị nhạt mà dính mồ hôi chảy
lâm li không ngừng, tứ chi quyết lạnh, khí thở yếu, miệng không
khát, sắc mặt trắng xám, lưỡi nhợt, rêu nhuận, mạch nhược muốn
tuyệt.
Trên lâm sàng thường sau khi ra mồ hôi quá nhiều (đại hãn),
nôn mửa (đại thổ), ỉa chảy mất nước (đại hạ) bệnh nhân có triệu
chứng vong âm và cũng có thể xuất hiện triệu chứng vong dương,
bệnh sốt cao tổn thương âm dịch hoặc mất máu quá nhiều thường dẫn
đến vong âm còn do hàn tà thương dương có thể dẫn đến vong dương
vì âm dương luôn luôn hỗ căn, triệu chứng và chuyển hoá lẫn nhau
cùng song song tồn tại nên khi vong âm tất sẽ dẫn đến vong dương,
ngược lại vong dương cũng sẽ dẫn đến vong âm nhưng tùy theo mức
độ nặng nhẹ, chủ thứ. Nhìn chung đi từ vong âm dẫn đến vong
dương chiếm tỷ lệ nhiều hơn là vong dương mở đầu, nên phương
pháp điều trị là cứu âm sinh tân, nếu vong dương xảy ra cấp tính phải
hồi dương cứu nghịch.
5.2.3. Chú ý khi vận dụng biện chứng bát cương.
Biện chứng bát cương là một loại phương pháp dựa trên tám
mặt diễn biến khác nhau của bệnh mà tiến hành phân tích chẩn đoán,
tuy nhiên còn phải phối kết hợp với biện chứng tạng phủ mới có thể

hoàn thiện được chẩn đoán nhưng bát cương là cơ sở của biện chứng.
Mỗi hội chứng của bát cương đều có thể biến đổi ở điều kiện nhất
định chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau; bệnh từ biểu chuyển vào lý là
bệnh nặng, từ lý chứng ra biểu là tiên lượng nhẹ, bệnh có thể qua
khỏi, nhiệt chứng biến thành hàn chứng, thực chứng biến thành hư
chứng là chính khí đã suy, trái lại hàn chứng biến thành nhiệt chứng,
hư chứng biến thành thực chứng là dương khí đã dần dần hồi phục.
Những hội chứng bệnh thường gặp trên lâm sàng rất ít khi đơn thuần
mà thường kết hợp biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, thậm chí có khi còn
hàn nhiệt thác tạp và không ít khi có hiện tượng “chân giả”. Vì vậy
trong quá trình biện chứng yêu cầu phải có điều tra nghiên cứu tìm ra
mâu thuẫn chủ yếu và tập trung giải quyết, có thể mới đề ra được kết
luận chính xác. Bát cương có quan hệ với sinh lý, bệnh lý, biểu chứng
thường gặp ở thời kỳ đầu của bệnh ttruyền nhiễm, phản ứng phòng
ngự của cơ thể đối với nguyên nhân gây bệnh còn mạnh, lý chứng là
thời kỳ phát bệnh và toàn phát của các bệnh truyền nhiễm và nhiễm
trùng, thời kỳ này tác nhân gây bệnh đã ảnh hưởng đến chức năng
của các cơ quan tạng phủ, đặc trưng chủ yếu là bệnh ảnh hưởng đến
chuyển hóa năng lượng của các cơ quan tạng phủ và hệ thống thần
kinh trrung ương.
Nếu như ở thời kỳ toàn phát, khi biểu chứng chưa hết, lại xuất
hiện triệu chứng tạng phủ bị tổn thương gọi là biểu lý đồng bệnh.
Chứng nhiệt đa phần do công năng sinh lý của cơ thể vượng thịnh,
chuyển hoá năng lượng tăng cao, quá trình sản nhiệt tăng, thân nhiệt
tăng, hô hấp nhanh, nhịp tim nhanh, máu ngoại vi giãn, da đỏ, tăng
tuần hoàn, vỏ đại não hưng phấn mạnh gây sốt cao, vã mồ hôi, gây
triệu chứng tân dịch giảm.
Chứng hàn đa phần do công năng sinh lý của cơ thể giảm thấp,
chuyển hóa năng lượng giảm có quan hệ đến tính phản ứng đối với

nguyên nhân gây bệnh của cơ thể, biểu hiện quá trình sản nhiệt giảm,
thân nhiệt thấp, nhịp hô hấp và nhịp tim chậm, mạch máu ngoại vi cơ
thể co nhỏ, tính hưng phấn vỏ đại não thấp. Hư chứng nói chung chỉ
sức đề kháng cơ thể giảm thấp, công năng sinh lý giảm hoặc suy kiệt
gây nên bệnh lý. Ví dụ: chức năng của vị chướng trở ngại, chức năng
tuyến yên, tuyến giáp trạng giảm…Thực chứng là chỉ tính phản ứng
của cơ thể mạnh, công năng hoạt động của tổ chức cơ quan mạnh.
.