Tải bản đầy đủ
XI. Những khó khăn trong tổ chức-triển khai phòng trừ

XI. Những khó khăn trong tổ chức-triển khai phòng trừ

Tải bản đầy đủ

đồng loạt trong từng khu vực để thuận lợi cho
việc quản lý các đợt chồi non và chồi hoa. Điều
đó cho thấy tầm quan trọng của công tác tổ chức
triển khai phòng trừ trong cộng đồng.
Khó khăn nữa là, hiện nay nhãn không chỉ
được trồng cho sản xuất thương mại, mà còn
được trồng trong vườn nhà, là cây cảnh quan và
che mát xung quanh nhà và trong đô thị. Hầu hết
các cây nhãn này không được áp dụng các biện
pháp phòng trừ. Trong tình hình chổi rồng xuất
hiện rộng rãi và còn sử dụng rộng rãi giống mẫn
cảm cao hiện nay, đây là nguồn tái lây nhiễm sau
các chiến dịch phòng trừ.
Những khu vực có mùa đông lạnh (phía Bắc)
sẽ giới hạn sự lây lan và gây hại của chổi rồng
cũng như mùa vụ tập trung hơn khiến việc phòng

trừ thuận lợi hơn. Những vùng ấm áp quanh năm
như ở Nam bộ, việc quản lý sẽ khó khăn hơn.
III.

TỒN TẠI VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Vẫn còn nhiều bất đồng trong các kết quả
nghiên cứu. Những tranh cãi về các kết quả
nghiên cứu trên chổi rồng không chỉ xảy ra trong
cộng đồng khoa học quốc tế, mà còn xảy ra giữa
các nhóm nghiên cứu trong cùng một quốc gia,
thậm chí trong cùng một cơ sở nghiên cứu. Một
trong những nguyên nhân gây những bất đồng về
các kết quả nghiên cứu có thể là:
1.

Chổi rồng xảy ra chủ yếu ở một số nước ở châu Á
(chủ yếu ở Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan),
nơi mà tiềm lực nghiên cứu khoa học (đội ngũ,
phương tiện, kinh phí) có hạn chế. Trong 3 nước
trên, Trung Quốc là nước có vẻ có nhiều tiềm lực

nhất. Tuy nhiên, chúng ta cũng lưu ý rằng, bệnh
Greening (Huanglongbin) được ghi nhận đầu tiên
ở Trung Quốc, nhưng những nghiên cứu mang
tính đột phá về bệnh này không phải ở nước phát
hiện đầu tiên này!
2.

Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong
nghiên cứu chổi rồng chưa đồng nhất, chưa đầy
đủ và chưa thật sự nhận được sự đồng thuận
chung. Thí dụ, khi nghiên cứu vi sinh gây bệnh
cần phải sử dụng quy tắc Kock (Koch's postulate)
để trắc nghiệm nhằm tăng độ tin cậy. Rất tiếc là
phương pháp kinh điển này thiếu vắng trong
nhiều nghiên cứu được công bố. Một lý do nữa là
nhiều nghiên cứu chưa được lặp lại, chưa được
kiểm chứng và khẳng định bởi một phòng thí
nghiệm có uy tín khác.

3.

Những dịch hại có liên quan đến nhóm nhện
eriophyid khá phức tạp. Trường hợp bệnh chổi
rồng trên cây hoa hồng trên là một ví dụ. Mặc dù
đội ngũ nghiên cứu về phân loại học không thiếu,
tuy nhiên nhìn chung nhân lực cho nghiên cứu
nhóm nhện này còn mỏng, đặc biệt là các nghiên
cứu về vai trò và cơ chế mang nguồn bệnh (như
là một vector) và triệu chứng gây hại của chúng
sau khi ký sinh trên cây trồng.
Những định hướng nghiên cứu cần ưu tiên trong
thời gian sắp tới:

1.

Về mặt phương pháp, cần hoàn thiện và thống
nhất các phương pháp nghiên cứu, tạo khả năng
cho việc lặp lại thí nghiệm từ một phòng thí
nghiệm khác nhằm kiểm định các kết quả nghiên

cứu. Chú ý ứng dụng công nghệ sinh học phân tử
nhằm rút ngắn thời gian nghiên cứu.
2.

Tập trung nghiên cứu và làm rõ vai trò của những
tác nhân tiềm năng, tiếp tục nghiên cứu khẳng
định tác nhân và cơ chế lây lan và vai trò của
nhện E. dimocarpi đối với chổi rồng.

3.

Nghiên cứu đặc điểm phát sinh phát triển, xác
định các vector và ký chủ tiềm năng.

4.

Hoàn thiện gói biện pháp quản lý tổng hợp chổi
rồng theo hướng hiệu quả và bền vững, trong đó
quan tâm biện pháp giống kháng.

5.

Nghiên cứu về cơ chế tổ chức- triển khai phòng
trừ, cần tiến hành xây dựng các mô hình quản lý
chổi rồng quy mô lớn, đồng bộ để áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.

XII.KẾT LUẬN
Qua bảy thập kỷ kể từ khi được ghi nhận năm
1941, nhiều nghiên cứu trên chổi rồng đã được
triển khai góp phần khống chế chổi rồng ở các
vùng sản xuất nhãn. Tuy nhiên kết quả thu được
vẫn chưa đáp ứng được mong đợi; vẫn còn nhiều
điểm cần được tiếp tục làm sáng tỏ. Để đẩy
nhanh tiến độ nghiên cứu và ứng dụng kịp thời
những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, cần tiếp tục
tăng cường tiềm lực nghiên cứu (đội ngũ, trang
thiết bị, kinh phí) cho các cơ quan nghiên cứu liên
quan, đồng thời tăng cường trao đổi, hợp tác
quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước phát
triển về công nghệ, nhân lực.
Mặc dù còn nhiều điều cần được làm sáng tỏ,
tuy nhiên giải pháp quản lý chổi rồng được đề

xuất hiện nay ở nước ta đã phát huy hiệu quả góp
phần giảm thiểu thiệt hại và từng bước không chế
được đợt bộc phát. Cần tổ chức việc phòng trừ
tập trung, đồng bộ trên diện rộng để cải thiện
hiệu quả phòng trừ. Trong các biện pháp quản lý,
biện pháp giống kháng có nhiều tiềm năng cần
được quan tâm.