Tải bản đầy đủ
X. Quản lý dịch hại chổi rồng

X. Quản lý dịch hại chổi rồng

Tải bản đầy đủ

về chổi rồng. Dưới đây là một số biện pháp phòng
trừ đã được nghiên cứu và đề xuất:
-Biện pháp hóa học
+ Biện pháp này chỉ áp dụng cho việc phòng
trừ nhện ( không áp dụng đối với vi khuẩn gây
bệnh trực tiếp). Khi quản lý được nhện càng triệt
để thì biện pháp phòng trừ càng có hiệu quả cao.
+ sau khi cắt tỉa phải phun thuốc trừ nhện và
thuốc gốc đồng ngay trên tán lá giúp loại bỏ nhện
còn sót lại trên tán lá già và sát trùng vết thương
do cắt tỉa.
+ Khi cây mới vừa nhú đọt non, ra hoa phải
tiến hành phun xịt ngay bằng loại thuốc trừ nhện
và nên thay đổi gốc thuốc và định kỳ phun thuốc
trừ nhện (tùy theo thời gian cách ly của từng loại

thuốc) cho đến khi lá vừa chuyển từ lá lụa có màu
đồng sang màu xanh thì có thể ngưng thuốc.
+ Các thuốc có thể áp dụng như Kumulus
80DF. Pegasus 500ND, Ortus 5SC, Comite 75EC,
Confidor, Alfamite 15EC, Dầu khoáng SK-Enspray
99EC, và một số thuốc trừ nhện khác.
Nhiều nghiên cứu cho thấy quản lý tốt vector
của tác nhân có thể phòng trừ được bệnh do tác
nhân gây ra. Theo Kandulna và ctv, (2005), sử
dụng thuốc hóa học phòng trừ nhện vector Aceria
cajani Chann. là một biện pháp quan trọng để
quản lý bệnh SMD (Sterility Mosaic
Disease), dịch hại nguy hiểm trên đậu triều
(Cajanus cajan). Zhang và Zhang (1999) và Chen
và ctv, (2001) cho rằng chiến lược tốt nhất cho
quản lý chổi rồng trên nhãn là phòng trừ vector

lan truyền. Sử dụng chlorophos (trichlorfon) hoặc
Sumicidin cho hiệu quả tốt phòng trừ nhện (Chen
và ctv, 1999b).
Theo Feng và ctv, (2005), phun dung dịch
1:800 của 20 % dicofol và dung dịch 1:400 của
50% colloidal sulphur khi nhện xuất hiện trên hoa
nhãn giúp giảm quần thể nhện và tỷ lệ đậu quả
được cải thiện. Ở Thái Lan, Ungasit và ctv, (1999)
khuyến cáo phòng trừ với carbaryl kết hợp cắt tỉa
chồi nhiễm, 1 - 2 tháng sau bệnh không còn nữa.
Ở Việt Nam, phun thuốc trừ nhện làm giảm chổi
rồng và tăng năng suất nhãn so với không phun.
Phun cypermethrin hoặc diafenthiuron hay thuốc
trừ nhện khác phối hợp với dầu khoáng (PSO) có
hiệu quả phòng trừ tốt, hiệu quả hơn so với phun
thuốc đơn lẽ (Vũ Mạnh Hà và Mai Văn Trị, 2007);

Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv, 2011). Các khảo sát
ngoài đồng đều cho thấy vườn có phun thuốc,
mức độ chổi rồng thấp hơn nhiều so với không
phun thuốc (Mai Văn Trị và ctv, 2005).
-Sử dụng thiên địch của nhện
Nhiều nhện ăn mồi được ghi nhận là thiên
địch của nhện eriophyid. Chazeau (1985) báo cáo
các loài Phytoseiulu spp. và Amblyseius spp.
thuộc họ Phytoseiidae là thiên địch của nhiều
nhện eriophyid. Waite và Gerson (1994) đã ghi
nhận 17 loài thiên địch trên nhện E. litchii ở
Queensland (Úc), trong đó 10 loài thuộc nhện ăn
mồi phytoseiid trong khi khảo sát ở Quảng Đông
(Trung Quốc) đã ghi nhận chín loài nhóm
phytoseiid. Theo Lall và Rahaman (1975), trong
số các thiên địch ăn mồi nhện

A. litchii,

Amblyseius spp. là phổ biến nhất. Ở Việt Nam,
những loài nhện thiên địch thuộc họ Phytoseiidae
đã được nghiên cứu nhân nuôi bao gồm A.
idaeus, A. anonymus và P. persimilus (Dinh và
ctv, 1988 và Nguyễn Văn Đỉnh và ctv, 1991). Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nhằm sử
dụng chúng trong phòng trừ nhện eriophyid và
cũng chưa có nghiên cứu về thiên địch của nhện
E. dimocarpi ở Việt Nam.
Nấm Hirsutella thomsonii (Fisher), phân bố
khá rộng rãi và gây hại một số loài nhện bao gồm
nhóm eriophyid, đã được phân lập từ nhện dừa
Aceria guerreronis Keifer ở nhiều nước. Theo
Gopal và Gupta (2001) H. thomsonii là tác nhân
phòng trừ sinh học có nhiều triển vọng. Việc sử
dụng thuốc hóa học để phòng trừ dịch hại trên

nhãn như hiện nay có thể tác động xấu đến quần
thể nhện thiên địch trên vườn nhãn. Do đó, vai
trò của nhên thiên địch có thể nhỏ hơn so với
nấm thiên địch H. thomsonii. Rất tiếc là chưa có
nghiên cứu nào sử dụng nấm thiên địch này để
đối phó với nhện E. dimocarpi ở nước ta cũng như
trên thế giới.
-Vệ sinh vườn cây, tiêu hủy nguồn hại
Là biện pháp đơn giản, an toàn nhưng có hiệu
quả trong quản lý chổi rồng (Chen và ctv, 2001;
He và ctv, 2001; Coates và ctv, 2003). Tỉa tiêu
hủy nguồn dịch hại là biện pháp đầu tiên cần áp
dụng (Feng và ctv, 2005). Các khảo sát ngoài
đồng đều cho thấy tiến hành tỉa tiêu hủy thường
xuyên các bộ phận bị hại làm giảm chổi rồng (Mai
Văn Trị và ctv, 2005); nếu kết hợp tỉa tiêu hủy

nguồn hại với biện pháp phun thuốc hóa học hiệu
quả phòng trừ sẽ cao (He và ctv, 2001; Vũ Mạnh
Hà và Mai Văn Trị, 2007; Nguyễn Văn Hòa và ctv,
2011; Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv, 2011). Cần lưu ý
là lá nhãn còn đính trong những chùm quả thu
hoạch hay lá nhãn sử dụng lót chùm quả trong
thùng chứa để vận chuyển ra chợ cũng có nguy
cơ gây lây lan nhện E. dimocarpi.
-Sử dụng vật liệu trồng an toàn
Sử dụng vật liệu trồng an toàn (sạch dịch hại)
là chiến lược quản lý quan trọng vì vật liệu trồng
bị nhiễm là nguyên nhân chính làm lây lan dịch
hại qua khoảng cách lớn đến nơi mới. Các khảo
sát từ năm 2004 cho thấy rất nhiều cây con trong
vườn ươm có triệu chứng chổi rồng và nhện E.
dimocarpi tạo nguy cơ cao trong lây lan qua

khoảng cách xa khi sử dụng những vật liệu trồng
bị nhiễm. Do đó, sử dụng vật liệu trồng sạch là
rất quan trọng để ngăn ngừa lây lan (Mai Văn Trị
và ctv, 2005).
-Sử dụng tính kháng của giống
Sử dụng tính kháng của giống cũng được xem
là biện pháp chiến lược trong quản lý chổi rồng.
Tương quan chặt giữa giống và tỷ lệ nhiễm được
khảo sát đầu tiên ở Trung Quốc giữa thập niên
1980 (Chen và ctv, 1990a). Chen và ctv, (1998)
kết luận có sự khác nhau trong khả năng mẫn
cảm của các giống nhãn và gợi ý cần chọn tạo
giống kháng để góp phần quản lý chổi rồng.
Những giống nhãn như ‘Lidongben’ và ‘Shuinan
No. 1’ được đánh giá là có tính kháng cao, trong
khi

‘Pumingyan’,

‘Youtanben’,

‘Dongbi’,



‘Honghezgi’ thì mẫn cảm nhiều hơn. Ở Thái Lan,
giống nhãn ‘Biew Kiew’, ‘Deang Klom’ và ‘Ma
Teen Klong’ nhiễm chổi rồng nghiêm trọng
(Ungasit và ctv, 1999; Visitpanich và ctv, 1996).
Tuy nhiên giống ‘Daw’ (nay gọi là Do) và ‘Heaw’
thì nhiễm nhẹ (Visitpanich và ctv, 1996). Tuy
nhiên, chưa có giống nào ở Trung Quốc hoặc Thái
Lan được xem là miễn nhiễm chổi rồng.
Ở Việt Nam, các khảo sát ngoài đồng cho
thấy mức độ nhiễm chổi rồng của các giống nhãn
ở Nam Bộ rất khác nhau. Có giống nhiễm nặng;
nhiễm nhẹ hơn và có giống chưa thấy triệu chứng
(Mai Văn Trị và ctv, 2005). Kết quả đánh giá của
Mai Văn Trị và ctv, (2008) cho thấy có 3 giống
nhãn không xuất hiện triệu chứng, đó là nhãn
Long, Super và Xuồng Cơm Vàng. Kết quả thí

nghiệm ghép các giống lên gốc Tiêu Da Bò nhiễm
của Nguyễn Văn Hòa và ctv, (2011) cũng hỗ trợ
cho kết quả nghiên cứu trên. Do đó, có thể sử
dụng tính kháng của giống như là một trong
những giải pháp trong quản lý tổng hợp chổi
rồng.
- Quản lý tổng hợp chổi rồng
Theo Coates và ctv, (2003), phòng trừ chổi
rồng theo hướng tổng hợp là chiến lược tiếp cận
thích hợp nhất cho quản lý chổi rồng theo hướng
bền vững. Từng lúc, từng nơi mỗi biện pháp sẽ
đóng vai trò khác nhau nhưng việc áp dụng tổng
hợp và đồng bộ nhiều biện pháp phòng trừ thích
hợp là cần thiết. Dựa trên những hiểu biết về tác
nhân, cơ chế lan truyền, vector và những nguyên
lý trong phòng trừ côn trùng, sáu biện pháp được

khuyến cáo (Chen và ctv, 1999b; Chen và ctv,
200) cho quản lý tổng hợp gồm: Kiểm dịch chặt
chẽ; sử dụng giống kháng; thiết lập vườn ươm
sạch; phòng trừ định kỳ vector; tỉa tiêu hủy cành,
phát hoa, những cây từ vườn ươm và vườn trồng
nhiễm chổi rồng; bón phân thích hợp kết hợp
quản lý đất và tưới nước để cải thiện sức khỏe và
nâng cao tính chống chịu của cây đối với chổi
rồng (Chen và ctv, 2001). Gần đây, quy trình
quản lý tạm thời của Viện cây ăn quả miền Nam
đã được khuyến cáo trong Hội thảo ‘Tình hình
bệnh chổi rồng hại nhãn ở các tỉnh, thành phía
Nam và biện pháp quản lý’ tổ chức tại Tiền Giang,
ngày 17/08/2011 ((Nguyễn văn Hòa và ctv,
2011). Quy trình đã cập nhật các kết quả nghiên
cứu và những khảo sát thực tế để hỗ trợ cho các
địa phương trong khống chế chổi rồng.