Tải bản đầy đủ
VI.Tác nhân gây bệnh

VI.Tác nhân gây bệnh

Tải bản đầy đủ

Có những bất đồng trong các kết quả nghiên cứu
về tác nhân của chổi rồng mà cho rằng có thể là
do virus (Chen và ctv, 1996; Chen và ctv, 2001;
So và Zee, 1972; Ye và ctv, 1990) hay do
mycoplasma (Menzel và ctv, 1989; Visitpanich và
ctv, 1996) hoặc là do nhện E. dimocarpi (He và
ctv, 2001; Feng và ctv, 2005).
Một số nghiên cứu trước đó ở Trung Quốc cho
rằng tác nhân thuộc về virus. So và Zee (1972)
sử dụng kính hiển vi điện tử quan sát trên những
lát cắt siêu mỏng của lá nhiễm và tìm thấy những
cấu tử dạng sợi có đường kính khoảng 12 nm và
dài khoảng 1000 nm. Những cấu tử virus này
không xuất hiện đơn lẻ mà thường thành từng
chùm. Ye và ctv, (1990) đã làm ròng từng phần
một virus dạng sợi từ lá và vỏ của những cây

nhãn bị nhiễm và báo cáo những filamentous
virion

có đường kính chừng 15 nm và độ dài

chừng 300 - 2500 nm, mà phổ biến là từ 700 1300 nm. Chen và ctv, (1996) cũng tìm thấy
những cấu tử virus dạng sợi trong các tế bào libe
của những cây bị nhiễm. Sử dụng kỹ thuật ISEM
(immuno sorbent electron microscopy), những
cấu tử virus dạng sợi được ‘bẫy’ từ cây nhiễm và
từ tuyến nước bọt của rầy chổng cánh vân nâu
Corngenasylla sinica và bọ xít vải Tessaratoma
papillosa (Chen và ctv, 1994); từ những kết quả
này, Chen và ctv, (2000) kết luận rằng tác nhân
gây chổi rồng là một virus dạng sợi.
Do không có hình ảnh virus và kết quả thí
nghiệm không được lặp lại, kết luận virus là tác
nhân gây nhiều tranh cãi. Nhằm để làm rõ vấn

đề, một loạt dự án nghiên cứu đã được triển khai
từ năm 1986 ở Viện Hàn lâm Nông nghiệp Phúc
Kiến

(FAAS).

phytoplasma

Những


sâu

sinh

vật

đục

cành

khác

như

Hypadime

longanae cũng bị đưa vào diện nghi vấn. Tuy
nhiên, phytoplasma bị loại sau đó do việc xử lý
kháng sinh trên cây con không hiệu quả (Chen và
ctv, 1989). Sau đó, sâu đục cành H. longanae
cũng bị loại ra khỏi danh sách nghi ngờ (He và
ctv, 2001).
He và ctv, (2001), nghiên cứu ở Quảng Châu
(Trung Quốc) từ năm 1995 – 1998. Nhiều kỹ thuật
được sử dụng như quan sát với kính hiển vi điện
tử, thí nghiệm ghép, thí nghiệm lây nhiễm nhện,
tỉa cành, xây dựng thí nghiệm phòng trừ đã xác
định chổi rồng gây ra do nhện Eriophyes

dimocarpi. Khi cây con được lây nhiễm với nhện;
50 % phát triển các triệu chứng chổi rồng và bị ký
sinh bởi nhện trong khi không phát hiện nhện
trên lá của những cây không có triệu chứng.
Nhện luôn được tìm thấy trên những chồi nhiễm
và mật số nhện tương quan với mức độ hại. Tỉa
cành tạo tán và phun thuốc trừ nhện trên những
chồi nhiễm giúp phục hồi, ra hoa và giảm tỷ lệ
gié hoa nhiễm từ 80 % xuống còn 9 %. Kết quả
này được hỗ trợ bởi nghiên cứu sau đó của Feng
và ctv, (2005) mà kết luận rằng sử dụng thuốc
trừ nhện cải thiện khả năng đậu quả và năng
suất cây nhãn nhiễm chổi rồng.
Ở Thái Lan, nhện vector của chổi rồng đã được
báo cáo ở tỉnh Chiang Mai và Lam Phun, nơi nhện
E. dimocarpi được cho là truyền phytoplasma gây

chổi rồng trên nhãn ở đây (Chantrasri và ctv,
1999; Visitpanich và ctv, 1999). Sau một tháng
nhện chích hút đã gây triệu chứng xoăn lá trên
chồi cây con. Ảnh chụp từ kính hiển vi cho thấy
những tế bào phytoplasma trong tế bào chất của
mạch libe bị nhiễm và được xác nhận bằng kỹ
thuật PCR (Chantrasri và ctv, 1999). Sau đó,
Sdoodee và ctv (1999) đã không thể xác nhận sự
hiện diện của phytoplasma trong mô nhãn nhiễm
bằng phương pháp PCR mặc dù kỹ thuật DNA xác
định sự có mặt của prokaryote.
Ở Việt Nam, trong đợt khảo sát cùng với TS Eric
Boa (năm 2003-2004) tại một số vườn nhãn
nhiễm đầu tiên tại Đông Nam bộ ở Định Quán
(Đồng Nai), một số mẫu nhiễm từ nhãn Tiêu Da
Bò đã được thu thập và được gởi đến CABI để

giám định, kết quả giám định sau đó kết luận
rằng không có phytoplasma và họ khuyên nên đi
vào hướng nghiên cứu nấm hoặc vi khuẩn.
Nghiên cứu ở Việt Nam đã xác nhận vai trò quan
trọng của nhện trong lan truyền chổi rồng.
Nguyễn Huy Cường và Nguyễn Văn Hòa (2007)
đã phân lập nấm từ nhện, thu được bảy loài,
trong

đó



nấm

Colletotrichum

sp.



Pestalotiopsis sp., sau đó tiến hành chủng nhân
tạo nhưng không gây triệu chứng chổi rồng.
Nhóm nghiên cứu cũng sử dụng chất kháng sinh
oxytetracylin 10 % (500 ppm) kết hợp với thuốc
trừ nhện Ortus 5SC (5 %) trong điều kiện nhà lưới
đã khống chế được triệu chứng trong khi áp dụng
riêng lẻ thì không hiệu quả, từ đó cho rằng nhện
có thể là yếu tố liên quan trực tiếp đối với chổi

rồng. Nghiên cứu của Vũ Mạnh Hà và Mai Văn Trị
(2007) cho thấy sử dụng thuốc trừ nhện đóng vai
trò quan trọng trong phòng trừ chổi rồng.
Kết quả nghiên cứu mới đây của một nhóm
nghiên cứu ở Viện cây ăn quả miền Nam cho rằng
tác nhân gây chổi rồng là vi khuẩn thuộc nhóm
gamma proteobacteria (Bùi Thị Ngọc Lan và ctv,
2011). Đây là vi khuẩn không thể nuôi cấy; sống
trong mạch dẫn của cây, đặc biệt trên các đọt
non và bệnh được lan truyền qua trung gian
truyền bệnh là nhện E. dimocarpi (Nguyễn Văn
Hòa, 2011). Tuy nhiên, việc xem vi khuẩn là tác
nhân của chổi rồng chỉ là kết quả nghiên cứu
bước đầu, chưa đủ cơ sở khẳng định một cách
chắc chắn và cần nhiều nghiên cứu tiếp theo để
khẳng định (Bùi Ngọc Lan và ctv, 2011)

Các kết quả nghiên cứu về tác nhân của chổi
rồng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau ngay
cả trong cùng một lãnh thổ. Các kết quả này do
từng nhóm nghiên cứu độc lập thực hiện và các
kết quả không được lặp lại dẫn đến không được
công nhận rộng rãi thậm chí trong cùng một lãnh
thổ. Sự chậm trễ và mâu thuẫn trong việc xác
định tác nhân đối với một dịch hại như chổi rồng
nhãn do tính chất phức tạp của nghiên cứu. Lịch
sử của khoa học bệnh cây đã ghi nhận trường
hợp bệnh chổi rồng trên cây hoa hồng (Rosa
spp.). Bệnh này được báo cáo đầu tiên từ những
năm 1940 ở Canada. Tác nhân đã không được xác
định rõ ràng với nhiều tranh cải mãi đến 70 năm
và vừa được Laney và ctv, (2011) của Đại học
Arkansas xác định là do virus ‘RraV’ và vector
của virus này là một nhện eriophyoid. Do đó, nỗ

lực nghiên cứu nhằm xác định chắc chắn tác
nhân của chổi rồng trên nhãn là cần thiết và cấp
bách.
Tóm lại, dù tác nhân chổi rồng chưa được xác
định (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2011) nhưng có
một nhận định chung nhện E. dimocarpi được
xem là một nhân tố quan trọng, có thể là vector
(Chantrasri và ctv, 1999; Visitpanich và ctv,
1999; Nguyễn Văn Hòa và ctv, 2011; Trần Thị Mỹ
Hạnh và ctv, 2011) hay tác nhân (He và ctv,
2001, Feng và ctv, 2005) của chổi rồng và việc
phòng trừ chúng có vai trò quyết định đến hiệu
quả phòng trừ chổi rồng trên cây nhãn.
VII.Trung gian ( môi giới) truyền bệnh
Bệnh được lan truyền qua trung gian truyền bệnh
là nhện lông nhung (Eryophyes dimocarpi), nhện

rất nhỏ không nhìn thấy bằng mắt thường, nhện
có đặc điểm là vòng đời chỉ khoảng 8-15 ngày,
trong 1 năm có thể hoàn thành 13-15 thế hệ
(lứa), chúng phát triển và gây hại mạnh nhất
trong những tháng mùa nắng, chúng tấn công
gây hại và tryền bệnh từ rất sớm của các chồi
non và nụ hoa ( khi chúng mới nhú), khi cây
không có lá non, chúng chích hút trên lá già
nhưng không lộ triệu chứng, nhưng chúng lưu tồn
và sẽ tấn công trên các đọt non mới nhú và gây
hại.
Trên vườn, nhện lông nhung còn tấn công các cây
ký chủ khác như cây bồ ngót, cây bóng nẻ (cơm
nguội) và các cây ăn trái khác như chôm chôm,
bưởi. cam, quýt, chanh. Bệnh này nhiễm và gây
hại nặng nhất trên giống nhãn tiêu da bò, kế đến