Tải bản đầy đủ
Quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển của xã hội là quy luật quan hệ sản xuât phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, c

Quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển của xã hội là quy luật quan hệ sản xuât phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, c

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

Lực lợng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định ở
một thời kỳ nhất định. Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự
nhiên trong quá trình sản xuất, biểu hiện trình độ sản xuất của con ngời, năng lực hoạt
động thực tiễn của con ngời trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Lực lợng sản xuất bao gồm t liệu sản xuất (mà trớc hết là công cụ lao động) và ngời lao động với tri thức, phơng pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen lao động của
họ. Trong quá trình sản xuất sức lao động của con ngời và t liệu sản xuất kết hợp với
nhau tạo thành lực lợng sản xuất.
Trong các yếu tố của lực lợng sản xuất ngời lao động là chủ thể bao giờ cũng là
lực lợng sản xuất cơ bản quyết định nhất của xã hội, chính ngời lao động là chủ thể
của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình sử dụng
t liệu lao động tác động vào đối tợng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng
với quá trình lao động sản xuất, kỹ năng lao động của con ngời ngày càng đợc tăng
lên, đặc biệt là trí tuệ của con ngời không ngừng phát triển, hàm lợng trí tuệ của lao
động ngày càng cao. Ngày nay với cuộc cách mạng khoa học công nghệ lao động trí
tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu.
Cùng với ngời lao động công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lợng
sản xuất, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất. Công cụ lao động do con ngời
sáng tạo ra là sức mạnh của tri thức đã đợc vật thể hóa, nó nhận sức mạnh của con
ngời trong quá trình lao động sản xuất. Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm với
những phát minh sáng chế kỹ thuật công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến và
hoàn thiện. Chính điều đó đã làm biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất, nó là nguyên nhân
sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thớc đo
trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh
tế trong lịch sử.
Trong sự phát triển của lực lợng sản xuất khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển. Ngày nay khoa học đã phát triển đến mức trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp
. Những phát minh khoa học tạo điều kiện cho ra đời những ngành sản xuất mới,
những máy móc thiết bị mới, nguyên vất liệu mới, năng lợng mới. Sự xâm nhập ngày
càng sâu của khoa học vào sản xuất trở thành một yếu tố không thể thiếu đợc của sản
xuất và làm cho lực lợng sản xuất có bớc phát triển nhảy vọt. Yếu tố trí lực trong sức
lao động đặc trng cho hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của ngời lao
động mà là tri thức khoa học.
2.Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất.

2

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra nhng tồn tại khách quan trong quá trình sản
xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời vì quan hệ sản xuất do tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuât quy định.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất biểu hiện mối quan hệ giũa ng ời
với ngời trên ba mặt chủ yếu:

hữu)

Quan hệ giữa ngời với ngời trong việc chiếm hữu t liệu sản xuất ( quan hệ sở


Quan hệ giữa ngời với ngời trong việc tổ chức quản lý sản xuất và trao đổi
hoạt động cho nhau (quan hệ tổ chức quản lý )

Quan hệ giữa ngời với ngời trong việc phân phối và lu thông sản phẩm xã hội
(quan hệ phân phối và lu thông)
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại
lẫn nhau trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định. Quan hệ sở hữu về t liệu sản
xuât quyết định quan hệ về tổ chức quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm cũng nh các
quan hệ xã hội khác. Tuy vậy quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối cũng có
tác động trở lại quan hệ sở hữu.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có hai loại hình sở hữu cơ bản là sở hữu
t nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu t nhân là loại hình sở hữu mà trong đó t liệu sản
xuất tập trung trong tay một số ít ngời, còn đại đa số không có hoặc rất ít t liệu sản
xuất. Do đó quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất và trong xã hội là quan hệ thống
trị và bị trị, bóc lôt và bị bóc lột. Sở hữu công cộng là sở hữu mà trong đó t liệu sản
xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng. Nhờ đó quan hệ giữa ngời với ngời
trong cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuât trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến
việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy, kìm hãm quá trình sản
xuất. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải
thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên có trờng hợp quan hệ tổ chức quản lý không
phù hợp với quan hệ sở hữu làm biến dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu và quan hệ tổ
chức quản lý chi phối song nó kích thích trực tiếp tới lợi ích cuả con ngời, nên nó tác
động đến thái độ của con ngời trong lao động sản xuất, và do đó có thể thúc đẩy hoặc
kìm hãm sản xuất phát triển.
II . Nội dung qui luật quan hệ sản xuất phù hợp vối tính chất và trình độ của lực
lợng sản xuất.
1.
Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất:
3

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

Tính chất của lực lợng sản xuất là một phạm trù dùng để chỉ tính chất của cả nền
sản xuất. Trong lịch sử xã hội, lực lợng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá
nhân lên tính chất xã hội hóa. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao
động kém phát triển, một ngời có thể đảm nhiệm tất cả các khâu sản xuất ra sản phẩm
thì lực lợng sản xuất có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hiện
đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lợng sản xuất có tính chất xã hội hóa.
Trình độ của lực lợng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ sự thay đổi về chất của tất
cả các nhân tố trong lực lợng sản xuất. Sự phát triển của lực lợng sản xuất đựoc đánh
dấu bằng trình độ của lực lợng sản xuất. Trình độ lực lựong sản xuất thể hiện ở trình
độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con ngời, trình
độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất, chúng
tồn tại không tách dời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lợng sản
xuất.
a.Vai trò của lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất :
Trong một phơng thức sản xuất thì lực lợng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất
là hình thức. Ban đầu quan hệ sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất nhng lực lợng
sản xuất thờng xuyên biến đổi và phát triển liên tục do sự thúc đẩy của quan hệ sản
xuất phù hợp. Khi đó quan hệ sản xuất cũ trở nên lỗi thời và trở thành xiềng xích của
lực lợng sản xuất, kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự
phát triển lực lợng sản xuất tất yếu dẫn tới thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ
sản xuất mới phù hợp để thúc đẩy lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển. Nh vậy có
nghĩa là phơng thức sản xuất cũ mất đi, phơng thức sản xuất mới ra đời thay thế.
b.Vai trò của quan hệ sản xuất với sự phát triển của lực lợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất biến đổi kéo theo sự biến đổi của quan hệ sản xuất không phải
một chiều mà đến lợt nó quan hệ sản xuất có tác động trở lại sự phảt triển của lực lợng
sản xuất.
Quan hệ sản xuât quy định mục đích của sản xuất, tác động đến ý thức, thái độ của
con ngời trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát
triển và ứng dụng khoa học công nghệ do đó tác động đến sự phát triển của lực l ợng
sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triền của lực l ợng sản xuất
thì nó thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Khi quan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu hoặc
tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất sẽ kìm
hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Khi đó theo quy luật chung quan hệ sản xuất
cũ sẽ đợc thay thế bằng quan hệ sản xuất mới và một phơng thức sản xuất mới ra đời.

4

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

Trong lịch sử loài ngời đã trải qua năm phơng thức sản xuất lần lợt từ thấp tới cao
do tác động của quy luật này.
2 .Chủ nghĩa t bản dới ánh sáng của quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chât và trình độ của lực lợng sản xuất.
Trong chủ nghĩa t bản lực lợng sản xuất rất phát triển nhng hình thức sở hữu là
hình thức chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Nh vậy chủ nghĩa t bản đã không đi đúng
quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất. Trong nó luôn chứa đựng
sự mâu thuẫn gay gắt giữa tính chất xã hội của quá trình sản xuất với hình thức chiếm
hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là chủ nghĩa t bản trở thành phản động
kìm hãm sự phát triển của xã hội. Những cuộc khủng hoảng về kinh tế xã hội những
năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hai cuộc chiến tranh thế giới, cuộc khủng hoảng
cơ cấu kinh tế t bản chủ nghĩa những năm 60-70 ... là những minh chứng đầy tính
thuyết phục cho sự bất ổn của chủ nghĩa t bản.
Nhng trên thực tế chủ nghĩa t bản lại đang chứng tỏ một sức sống mới, năng suất
lao động, nhịp độ phát triển kinh tế của chủ nghĩa t bản đang tăng lên rõ rệt, trong thời
gian tới còn hứa hẹn một sự tăng trởng mạnh mẽ hơn. Điều đó liệu có phải là một sự
phủ nhận đối với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất?
Hiện tợng trên không hề mâu thuẫn với quy luật mà có đựoc sự phát triển là do chủ
nghĩa t bản tìm ra những sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất để có thể thích ứng đ ợc
với sự phát triển của lực lợng sản xuất. Nhờ những điều chỉnh đó chủ nghĩa t bản
không những không kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất mà còn thúc đẩy, tạo
điều kiện cho nó phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Đồng thời những điều chỉnh đó cũng
làm biến đổi bản thân lực lợng sản xuât đặc biệt là đội ngũ giai cấp công nhân lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại .
Quá trình điều chỉnh của chủ nghĩa t bản đối với quan hệ sản xuất diễn ra ở tất cả
các yếu tố trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Trớc hết là sự điều chỉnh trong quan hệ sở hữu, trong các nớc t bản chủ nghĩa hiện
nay đã áp dụng chế độ sở hữu xã hội dới dạng cổ phần, cổ phiếu để dần dần thay
thế cho chiếm hữu cá thể và chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Có thể nói đây là một
trong những hình thức quan trọng nhất trong quan hệ sở hữu để phần nào phù hợp ,
thích ứng với tính chất xã hội hóa cao của lực lợng sản xuất. Những ngời lao động
công nhân làm thuê có thể đợc mua những cổ phần của một công ty và nh vậy họ đã
trở thành những ngời đồng sở hữu công ty, có thể tham dự chia sẻ lợi nhuận. Sở hữu cổ
phần là một biện pháp xã hội hóa sở hữu không để cho t liệu sản xuất tập trung trong
tay một số ít ngời hoặc một công ty độc quyền nào đó nữa.

5

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

Một hình thức điều chỉnh khác về quan hệ sở hữu ở các nớc t bản là việc thành lập
các hợp tác xã công nhân. Những hợp tác xã công nhân đã giải quyết đựoc một phần
vấn đề thất nghiệp tức là đã giải quyết đợc một phần mâu thuẫn giữa sự phát triển của
lực lợng sản xuất với sở hữu t nhân về t liệu sản xuất.
Đồng thời với sự điều chỉnh về quan hệ sở hữu là sự điều chỉnh về phơng thức quản
lý tổ chức nền sản xuất xã hội nh sự tăng dần tính linh hoạt của tổ chức sản xuất nhờ
áp dụng kỹ thuật mới, đặc biệt là phơng tiện điều khiển bằng điện tử. Nền sản xuất
trong chế độ t bản chủ nghĩa ngày nay đã có khả năng nhanh chóng đáp ứng mọi đòi
hỏi của thị trờng, dễ dàng thích nghi với nhu cầu của ngời tiêu dùng. Một điểm cũng
cần chú ý tới trong việc điều chỉnh quan hệ tổ chứcquản lý là sự giao kết chặt chẽ giữa
lĩnh vực sản xuất với lĩnh vực nghiên cứu, phát minh khoa học, kế hoạch hóa và thiết
kế. Những hoạt động nh cung ứng tiêu thụ hoạt động tài chính, giao thông bu điện
cũng trở thành những yếu tố, những mắt khâu quan trọng của nền sản xuất.
Một sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất nữa mà chủ nghĩa t bản đã thực hiện là sự
điều chỉnh về quan hệ phân phối. Sỡ dĩ có thể thực hiện đữợc sự điều chỉnh này là nhờ
sự phát triển của lực lợng sản xuất đã tạo ra một năng suất lao động xã hội khá cao.
Chính nhờ sự điều chỉnh quan hệ phân phối chủ nghĩa t bản có thể ràng buộc chặt chẽ
hơn nữa ngời công nhân cũng nh mọi thành viên khác của xã hội qua đó có thể ổn
định đợc chế độ t bản chủ nghĩa. Sự điều chỉnh quan hệ phân phối đợc thực hiện thông
qua việc phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ cổ phần mà ngời công nhân tham gia trong các
công ty, xí nghiệp cổ phần. Nhng sự điểu tiết chủ yếu và quan hệ phân phối đợc thực
hiện thông qua chức năng điều tiết vĩ mô của chính phủ.

Phần II
Vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển
của LLSX trong quá trình phát triển kinh tế thị trờng
định hớng XHCN ở Việt Nam
I. Những sai lầm của Đảng và nhà nớc ta trong việc vận dụng quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Thực tế lịch sử chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế nếu không vận
dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất thì nền
kinh tế không thể phát triển.
Trong giai đoạn trớc năm 86, chúng ta đã mắc sai lầm khi xóa bỏ chế độ t hữu xác
lập chế độ công hữu về t liệu sản xuất trong khi lực lợng sản xuất còn lạc hậu. Nh vậy
quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất mà tiến bộ hơn
6

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

một cách giả tạo so với trình độ của lực lợng sản xuất. Kết quả là lực lợng sản xuất bị
kìm hãm, nền kinh tế trì trệ không phát triển, đời sống nhân dân khó khăn. Đến đại hội
VI của Đảng với t duy mới, chúng ta nhận ra rằng quan hệ sản xuất là vật cản của lực
lợng sản xuất không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất đi sau mà còn cả trong trờng
hợp vựợt lên trớc, tách dời lực lợng sản xuất. Chính vì vậy, từ sau đại hội VI của
Đảng đến nay chúng ta luôn cố gắng thiết lập sự đồng bộ giữa các yếu tố trong quan
hệ sản xuất, trong lực lợng sản xuất và giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất.
Điển hình nhất là sự thay đổi trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Cơ chế Khoán
100 và Khoán 10 đã làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất thúc
đẩy sự tiến bộ vợt bậc của nền nông nghiệp nớc ta.

II. Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất trong nền kinh tê thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
hiện nay.
1.Thực trạng của lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay.
Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện nay còn ở trình độ thấp, bên cạnh một số lĩnh vực, một
số cơ sở kinh tế đã đợc trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại, trong nhiều ngành kinh tế
máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP Việt Nam đang ở trình độ công nghệ
lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ(có lĩnh vực đến 4-5 thế
hệ). Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội.
Cơ sở vật chất kỹ thuật ở trình độ thấp cũng làm cho phân công lao động kém phát
triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nớc ta cha thoát khỏi nền kinh
tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ. Nông nghiệp sử dụng khoảng 70% lực lợng lao động nhng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kỹ thuất công nghệ cao chiếm tỷ trọng
thấp.
2.Giải pháp phát triển lực lợng sản xuất trong thời kỳ quá độ hiện nay
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nớc ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH không qua
chế độ t bản chủ nghĩa là phải xây dựng cơ sỏ vật chất cho CNXH. Muốn vậy nhất
thiết phải thực hiện CNH, HĐH. Mỗi bớc tiến của quá trình CNH HĐH là một bớc
tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triền mạnh mẽ lực lợng sản xuất và góp phần
hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện đợc điều đó chúng ta
cần phải tạo dựng những tiền đề sau:

7

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

a.Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
Vốn để công nghiệp hóa hiện đại hóa có 2 nguồn: nguồn vốn trong nớc và nguồn
vốn ngoài nớc. Con đờng cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nớc là tăng
năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật khoa học công nghệ
hợp lý hóa sản xuất. ở nớc ta hiện nay để tăng năng suất lao động xã hội trớc hết phải
khai thác và sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung sức phát triển nông nghiệp, công
nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu ... Nguồn vốn trong nớc còn phụ
thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm, vì vậy chúng ta phải triệt để tiết kiệm, coi tiết kiệm là quốc
sách, đấu tranh triệt để với tham nhũng lãng phí. Ngoài ra, cần xây dựng chính sách
kinh tế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển.
Tuy nhiên, tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu làm
cho việc làm cho việc tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế hết sức khó khăn. Vì vậy để
thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, tích lũy thấp thì tăng tr ởng
kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo ... Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu
hút các nguồn vốn từ bên ngoài. Đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng, không
những giúp các nớc nghèo khắc phục một phần khó khăn về vốn mà còn góp phần
nâng cao trình độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho ngời lao động ... Vì thế tranh
thủ nguồn vốn bên ngoài là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH
HĐH đất nớc.
Để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn xây dựng và phát triển thị trờng vốn là giải pháp có ý nghĩa quan trọng. Nhờ có thị trờng vốn, ngời sở hữu vốn nếu
nhờng quyền sử dụng vốn cho ngời khác sẽ có thu nhập. Đồng thời khi có thị trờng
vốn, đồng vốn sẽ dễ dàng chuyển dịch từ nơi có hiệu quả thấp tới nơi cớ hiệu quả cao.
Do đó để đáp ứng nhu cầu vốn cho CNH HĐH, xây dựng và phát triển thì trờng vốn là
rất cần thiết.
b.Đào tạo nguồn nhân lực
Công nghiệp hóa hiện đại hóa không chỉ đòi hỏi phải có vốn kỹ thuật mà cần phải
phát triển một cách tơng xứng năng lực của con ngời sử dụng phơng tiện đó. Nguồn
nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa bao gồm những con ngời có
đức có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, cần cù ... đã đựoc chuẩn bị tốt về kiến
thức văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp năng lực sản xuất kinh doanh .... Để có nguồn nhân
lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa phải coi giáo dục đào tạo trở
thành quốc sách hàng đầu. Phải đào tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các
lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, công
nhân kỹ thuật...Đi đôi với việc đào tạo bồi dỡng, phải bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân
lực đã đợc đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ.

8

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

CNH- HĐH đòi hỏi ngời lao động phải có sức khỏe thể lực tốt. Muốn vậy phải
đảm bảo dinh dỡng, phát triển y tế, cải thiện môi trờng sống nhằm chăm sóc tốt sức
khỏe cho ngời lao động.
c.Phát triển khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đợc xác định là động lực của CNH- HĐH. Khoa học và công
nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung,
CNH- HĐH nói riêng của các quốc gia. Là một nớc quá độ lên CNXH từ một nền kinh
tế kém phát triển lên tiềm lực về khoa học công nghệ của nớc ta còn kém. Muốn tiến
hành CNH- HĐH thành công thì phải xây dựng một tiềm lực khoa học công nghệ
thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Muốn thực hiện đợc những việc trên cần phải xây dựng và thực hiện tốt cơ chế và chính sách đồng bộ
cho phát triển khoa học và công nghệ. Để khoa học và công nghệ trở thành động lực
của sự phát triển thì trớc hết phải tạo ra động lực cho sự phát triển của chính bản thân
khoa học công nghệ.
3.Quan hệ sản xuất ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay
a.Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần
Xuất phát từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất của trình độ lực lợng
sản xuất, trong nền kinh tế cha thực sự phát triển cao, lực lợng sản xuất luôn tồn tại ở
nhiều trình độ khác nhau, tơng ứng với mỗi trình độ của lực lợng sản xuất sẽ có một
kiểu quan hệ sản xuất phù hợp. Do đó cơ cấu của nền kinh tế xét về phơng diện kinh tế
xã hội phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lực lợng sản xuất tồn tại ở nhiều thang
bậc khác nhau do đó sẽ có nhiều hình thức về sở hữu t liệu sản xuất tức là nền kinh tế
sẽ có nhiều thành phần. Chỉ có nh vậy chúng ta mới khai thác đợc mọi nguồn lực kinh
tế, nâng cao hiệu quả kinh tế, phát huy đợc tiềm năng của các thành phần kinh tế vào
phát triển chung nền kinh tế của các nớc.
b.Thực trạng quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
ở nớc ta hiện nay.
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng chúng ta cần phát triển lực lợng sản
xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở
hữu, quản lý, phân phối.
*Về các hình thức sở hữu :
Để phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, Đảng ta chủ trơng đa dạng hóa các hình
thức sở hữu trong đó công hữu phải giữ vai trò chi phối. Điều đó cho phép phát triển
mạnh mẽ lực lợng sản xuất, đồng thời giữ vững đựợc bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa. Các hình thức sở hữu cơ bản là: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu t

9

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

nhân. Từ các hình thức sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế: kinh tế
nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà
nớc, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Để
đạt đợc điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều làm bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo để đảm bảo định hớng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
*Về chế độ phân phối
Chế độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trớc hết là quan hệ sở hữu quyết
định. Phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, nhiều chế sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở
hữu cá nhân và các hình thức sở hữu do kết quả của sự xâm nhập giữa chúng. Mỗi chế
độ sở hữu có nguyên tắc phân phối tơng ứng với nó, vì thế trong thời kỳ quá độ tồn tại
cơ câú đa dạng về hình thức thu nhập.
Trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sau:
phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đóng góp, phân phối theo giá
trị sức lao động, phân phối theo các quỹ phúc lợi xã hội.
Sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với kinh tế
thị truờng t bản chủ nghĩa là ở chỗ xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối
theo lao động. Phân phối theo lao động là đặc trng bản chất của kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu.
Vì thế phân phối theo lao động đợc xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
*Về quan hệ quản lý
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa cũng nh nền kinh tế thị trờng ở
các quốc gia khác đều có sự quản lý của nhà nớc để sữa chữa ở mức độ nào đó những
thất bại của thị trờng. Tức là cơ chế vận hành của nền kinh tế của tất cả các nớc đều là
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Nhng điều khác biệt trong cơ chế vận hành
nền kinh tế của nớc ta là ở chỗ nhà nớc quản lý nền kinh tế không phải là nhà nớc t sản
mà là nhà nớc xã hội chủ nghĩa, nhà nớc của dân, do dân và vì dân đặt dới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam. Sự quản lý của nhà nớc xã hội chủ nghĩa nhằm sửa chữa
những thất bại của thị trờng , thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân
cơ chế thị truờng không thể làm đợc, đảm bảo cho kinh tế thị trờng phát triển theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Vai trò quản lý của nhà nớc xã hội chủ nghĩa hết sức

10

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

quan trọng, nó đảm bảo cho nền kinh tế tăng trởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đặc biệt
đảm bảo công bằng xã hội.
Nh vậy, quan hệ sản xuất ở nớc ta hiện nay đã đợc điều chỉnh để phù hợp với trình
độ và tính chất của lực lợng sản xuất mà chúng ta có. Việc duy trì quan hệ sản xuất đó
là hoàn toàn đúng đắn để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất,
góp phần đảm bảo cho thắng lợi của CNXH.
c.Những mặt hạn chế và giải pháp khắc phục quan hệ sản xuất trong giai đoạn hiện
nay
Bên cạnh những u điểm của quan hệ sản xuất hiện nay là đã phù hợp với lực lợng
sản xuất, trong quan hệ sở hữu còn những thiếu sót, hạn chế:
- Do nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trờng nên nền kinhtế ở nớc ta có nhiều
loại hình sản xuất cùng tồn tại đan xen nhau trong đó sản xuất hàng hóa nhỏ phân tán
còn phổ biến.
- Sự quản lý của nhà nớc về kinh tế xã hội còn yếu. Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng nhận định về vấn đề này nh sau: Hệ thống luật pháp, cơ
chế chính sách cha đồng bộ và nhất quán, thực hiện cha nghiêm.
-Công tác ngân hàng tài chính, giá cả, kế hoạch hóa, quản lý đất đai còn nhiều yếu
kém. Thơng nghiệp nhà nớc bỏ trống một số trận địa quan trọng, cha phát huy tốt vai
trò chủ đạo trên thị trờng. Quản lý xuất nhập khẩu có nhiều sơ hở tiêu cực.
- Chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý. Bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn.
Lạm phát tuy đợc kiềm chế nhng cha vững chắc. Còn có sự chênh lệch lớn giữa các
vùng các miền về mức sống, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng...
Để khắc phục những yếu kém trên có thể đa ra một số giải pháp sau:
- Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, đặc biệt trong những
năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc. Muốn vậy cần tập trung
nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nớc trong những lĩnh vực trọng yếu của
nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nớc, thực hiện tốt chủ trơng cổ phần
hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nớc không cần nắm
100% vốn. Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng
công ty nhà nớc. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp
kinh doanh có vốn của nhà nớc, doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trờng, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.
- Giữ vững sự ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật
Muốn vậy cần phải giữ và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, nâng cao
hiệu lực quản lý của nhà nớc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

11

Tiểu luận triết học

Sinh viên: Lê Trọng Tuấn
Lớp: QTKD Tổng hợp 48A

- Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh
tế của nhà nớc.

kết luận
Trong phạm vi bài viết này đã đề cập đến quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất .Từ sự hiểu biết về quy luật đó , cho
chúng ta thấy sự cần thiết phải áp dụng quy luật này vầo quá trình phát triển kinh tế ở
nớc ta .Trên cơ sở đó, chúng ta hiểu đợc đờng lối của Đảng trong việc chỉ đạo phát
triển kinh tế nh hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật và góp phần
quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Việc nghiên cứu quy luật này cũng giúp ta hiểu đợc bản chất, nguyên nhân sâu xa
của các biến đổi xã hội từ thời đại kinh tế này sang thời đại kinh tế khác. Từ đó chỉ ra
tính tất yếu cuả việc tiến lên chủ nghĩa xã hội không sớm thì muộn của tất cả các quốc
gia. Nghiên cứu vấn đề này rất cần thiết cho sinh viên đặc biệt là với sinh viên kinh tế
vì nó giúp ta hiểu rõ hơn con đờng, chiến lợc phát triển kinh tế của đất nớc. Chúng ta
có thể tin tởng rằng con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa t bản của nớc
ta là đúng đắn hợp thời. Vấn đề là chúng ta cần cố gắng thực hiện tốt chiến lợc đề ra
trong việc phát triển, hoàn thiện quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất hiện nay.

12