Tải bản đầy đủ
B. Gi¶i quyÕt vÊn ®Ò

B. Gi¶i quyÕt vÊn ®Ò

Tải bản đầy đủ

Nh vậy bản chất của sự thay thế trên là phụ thuộc vào mối quan hệ
biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất.
1. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên, là biểu
hiện trình độ trình phục tự nhiên của con ngời trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định. Lịch sử sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ giữa t liệu sản xuất
(quan hệ nhất là công cụ lao động) với ngời lao động với kinh nghiệm và kỹ
năng lao động nghề nghiệp. Lực lợng sản xuất đóng vai trò quyết định phơng thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa ngời với ngời sản xuất vật chất
thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý
trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phân phối sản phẩm. Trong quan
hệ sản xuất quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất giữ vị trí quyết định các quan
hệ khác.
Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra. Song nó đợc hình thành một cách
khách quan không phụ thuộc vào yếu tổ chủ quan của con ngời. Quan hệ
sản xuất mang tính ổn định tơng đối với bản chất xã hội và tính phơng pháp
đa dạng trong hình thức biểu hiện.
Giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất có mối quan hệ biện chứng
vơi nhau biểu hiển ở chỗ:
Xu hớng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát triển. Sự
biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lợng
sản xuất mà trớc hết là công cụ.
Công cụ lao động phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ
sản xuất hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan, phải xoá bỏ quan hệ sản
xuất cũ, thay thế bằng quan hệ sản xuất mới.
Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lợng sản xuất
(phù hợp) nhng do mâu thuẫn của lực lợng sản xuất (đông) với quan hệ sản
xuất (ổn định tơng đối) quan hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm
sự phát triển của lực lợng sản xuất (không phù hợp). Phù hợp là không phù
hợp là biểu hiện mâu thuẫn biện chứng củalực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn bao hàm mâu thuẫn. Khi phù hợp
cũng nh nếu không phù hợp với lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất luôn có
tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất thể hiện trong nội dung sự tác
động trở lại đối với lực lợng sản xuất, quy định múc đích xã hội của sản
3

xuất, xu hớng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành những yếu tố
tồn tại thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Sự tác động
trở lại nói trên của quan hệ sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật
kinh tế - xã hội đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản. Phù hợp và không phù
hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là khách quan và phổ biến
của mọi phơng thức sản xuất.
Sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
nh sự thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của sản xuất xã hội.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất đợc Mác - Anghen khái quát thành quya luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất và trình độ, tính chất của lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành và biên đổi của quan hệ
sản xuất. Khi không thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát triển
của lực lợng sản xuất, mâu thuẫn của chúng tất yếu sẽ nảy sinh. Biểu hiện
của mâu thuẫn này trong xã hội là giai cấp là mâu thuẫn giữa các giai cấp
đối kháng.
Lịch sử đã chứng minh rằng do sự phát triển của lực lợng sản xuất, loài
ngời đã bốn lần thay đổi quan hệ sản xuất gắn liền với bốn cuộc cách mạng
xã hội, dẫn đến sự ra đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
Vào giai đoạn cuối cùng của xã hội phong kiến ở các nớc Tây Âu lực
lợng sản xuất đã mang những yếu tố xã hội hoá gắn với quan hệ sản xuất
phong kiến. Mặc dù hình thức bóc lột của các lãnh chúa phong kiến đợc
thay đổi liên tục từ địa tô lao dịch đến địa tô hiện vật, địa tô bằng tiền song
quan hệ sản xuất phong kiến chật hẹp vẫn không chứa đựng đợc nội dung
mới của lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất của T bản chủ nghĩa ra đời
thay thế quan hệ sản xuất phong kiến. Trong lòng nền sản xuất t bản, lực lợng sản xuất phát triển, cùng với sự phân công lao động và tính chất xã hội
hoá công cụ sản xuất đã hình thành lao động chung của ngời dân có tri thức
và trình độ chuyên môn hoá cao. Sự lớn mạnh này của lực lợng sản xuất dẫn
đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Giải quyết
mâu thuẫn đó đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất t nhân t bản chủ nghĩa,
xác lập quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo
Mác, do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay đổi phát triển
sản xuất của mình và do đó thay đổi phát triển sản xuất làm ăn của mình,
loài ngời thay đổi các quan hệ sản xuất của mình.
4

Phù hợp có thể hiểu ở một số nội dung chủ yếu là: cả ba mặt của quan
hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất.
Quan hệ sản xuất phải tạo đợc điều kiện sản xuất và kết hợp với tối u
giữa t liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm trách nhiệm từ sản xuất mở
rộng.
Mở ra sau những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh
thần với ngời lao động.
Vậy quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của ngời sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội. Do tác
động của quy luật này xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao
của các phơng thức sản xuất hay chính alà của các hình thái kinh tế - xã
hội. Dới những hình thức và mức độ khác nhau thì con ngời có ý thức đợc
hay không và quy luật cốt lõi này nh sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy tiến
hoá của lịch sử không chỉ những lĩnh vực kinh tế mà cả các lĩnh vực ngoài
kinh tế, phi kinh tế.
2. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng mỗi hình thái kinh tế - xã
hội
Không chỉ đặc trng bằng quan hệ sản xuất mà nó còn đặc chng bởi
một kiến trúc thợng tầng xây dựng trên những quan hệ sản xuất của chính
nó.
Kiến trúc thợng tầng là toàn bộ những t tởng xã hội, những thiết chế tơng ứng và những quan hệ nội tạng của thợng tầng, đó là những quan điểm
t tởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học và các
thể chế tơng ứng nh Nhà nớc Đảng phái, giáo hội và các đoàn thể quần
chúng.
Kiến trúc thợng tầng đợc hình thành trên tổng hợp toàn bộ những quan
hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định ngời
ta gọi đó là cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng bao gồm những quan hệ sản xuất đang giữ địa vị thống
trị nền kinh tế nhóm những quan hệ sản xuất tàn d và những quan hệ sản
xuất mới là quan hệ mầm mống của xã hội sau.
Bất kỳ một cơ sở hạ tầng nào cũng bao gồm những thành phần kinh tế
khác nhau, mỗi thành phần kinh tế này đều gắn liền với một kiểu quan hệ

5

sản xuất trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi
phối các thành phần kinh tế khác. ở xã hội có giai cấp đối kháng giai cấp
này nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, từ những mâu thuẫn và xung đột kinh tế. Đó
chính là cơ sở nẩy sinh giai cấp đối kháng trong kiến trúc thợng tầng, giai
cấp thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị
về mặt t tởng đối với xã hội, trong đó hệ t tởng chính trị và bộ máy quản lý
nhà nớc có vị trí quan trọng nhất.
a) Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng. Vai trò quyết định của
cơ sở hạ tầng với kiến trúc thợng tầng đợc thể hiện ở một số mặt:
Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thợng tầng đó (giai cấp nào giữ vị trí
thống trị về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là giai cấp thống trị xã hội về tất
cả các lĩnh vực khác).
Quan hệ sản xuất nào thống trị cũng sẽ tạo ra kiến trúc thợng tầng tơng ứng. Mâu thuẫn giai cấp mâu thuẫn giữa các tập đoàn trong xã hội và
đời sống tinh thần của họ đều xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ mâu thuẫn
kinh tế, từ những quan hệ đối kháng trong cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng thay đổi thì nhất định sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay
đổi về kiến trúc thợng tầng. Quá trình đó diễn ra ngay trong những hình thái
kinh tế xã hội cũng nh khi chuyển tiếp từ hình thái này sang hình thái kinh
tế xã hội khác trong các xã hội có giai cấp mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng đợc biểu hiện là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị.
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp mâu thuẫn của cơ sở hạ tầng đợc biểu hiện là mâu thuẫn của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Khi hạ
tầng cũ bị xoá bỏ thì kiến trúc thợng tầng cũ cũng mất đi và thay thế vào đó
là kiến trúc thợng tầng mới đợc hình thành từng bớc thích ứng với cơ sở hạ
tầng mới.
Sự thống trị của giai cấp thống trị cũ đối với xã hội cũ bị xoá bỏ, thay
bằng hệ t tởng thống trị khác và các thể chế tơng ứng của giai cấp thống trị
mới. Đơng nhiên không phải "khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì lập tức sẽ dẫn
đến sự thay đổi của kiến trúc thợng tầng". Trong quá trình hình thành và
phát triển củ kiến trúc thợng tầng mới, nhiều yếu tố của kiến trúc thợng
tầng cũ còn tồn tại gắn liền với cơ sở kinh tế đã nảy sinh ra nó. Vì vậy giai
cấp cầm quyền cần phải biết lựa chọn một số bộ phận hợp lí để sử dụng nó
xây dựng xã hội mới.
6

b) Tính độc lập tơng đối và sự tác động trở lại của kiến trúc thợng
tầng với cơ sở hạ tầng.
Các bộ phận của kiến trúc thợng tầng không phải phụ thuộc một chiều
vào cơ sở hạ tầng mà trong quá trình phát triển, chúng có những tác động
qua lại với nhau và ảnh hởng lớn đến cơ sở hạ tầng cũng nh các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội.
Vai trò của kiến trúc thợng tầng đối với cơ sở hạ tầng đợc thể hiện trên
các mặt sau:
Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thợng tầng là thực hiện nhiệm
vụ đấu tranh thủ tiêu cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng cũ, xây dựng bảo
vệ củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng mới. Kiến trúc thợng tầng chính là
công cụ của giai cấp thống trị, các bộ phận khác của kiến trúc thợng tầng
cũng có tác dụng mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng nhng thờng những tác
động ấy phải thông qua hệ thống chính trị, pháp luật hay các thể chế tơng
ứng khác.
Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thợng tầng không giảm
đi, mà ngợc lại tăng lên và tác động mạnh đến tiến trình lịch sử. Trái lại
kiến trúc thợng tầng xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa
nhằm xây dựng xã hội mới, chính mục đích đó quyết định tính tích cực
càng tăng của kiến trúc thợng tầng của xã hội chủ nghĩa.
Tác động của kiến trúc thợng tầng đến cơ sở hạ tầng đợc thể hiện trong
hai trờng hợp trái ngợc nhau nếu kiến trúc thợng tầng phù hợp với quan hệ
kinh tế tiến bộ thì sẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội. Ngợc lại nếu kiến trúc
thợng tầng là cơ sở của những quan hệ kinh tế lỗi thời thì sẽ kìm hãm sự
phát triển của kinh tế xã hội, những sự tác động kìm hãm đó chỉ là tạm thời
sớm muộn cũng sẽ bị cách mạng khắc phục về cơ bản, bản chất giữa cơ sở
hạ tầng và cơ sở thợng tầng chính là bản chất giữa kinh tế và chính trị trong
đó kinh tế đóng vai trò quyết định còn chính trị là biểu hiện tập trung của
kinh tế và có tác dụng mạnh mẽ trở lại. Cần tránh khuynh hớng quá thổi
phồng hoặc hạ thấp vai trò của kiến trúc thợng tầng. nếu tuyệt đối hoá vai
trò của kiến trúc thợng tầng thì sẽ rơi vào tả khuynh còn ngợc lại sẽ rơi vào
hữu khuynh.
II. Sự vận dụng hình thái kinh tế xã hội vào sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam

7

Dựa trên cơ sở những lý luận chung trên đây, phần tiếp theo của đề tài
xin phép đợc đi sâu vào vấn đề "hình thái kinh tế xã hội với sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam". Tính tất yếu của mục tiêu và thực
trạng ở nớc ta trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế xã hội - xã hội
chủ nghĩa.
1. Tính tất yếu
Loài ngời đã phải trải qua 5 hình thái kinh tế. Mỗi hình thái sau tiến
bộ hơn, văn minh hơn hình thái trớc.
Đầu tiên là hình thái kinh tế tự nhiên (cộng sản nguyên thuỷ) con ngời
chỉ biết săn bắn hái lợm, ăn thức ăn sống cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn
toàn vào thiên nhiên. Có thể nói đây là thời kỳ sơ khai một thời kỳ mông
muội của loài ngời. Sau đó đến hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ
con ngời đã văn minh hơn họ không còn ăn tơi sống và đã biết lao động tạo
ra của cải, xã hội chế độ t hữu. Xã hội bắt đầu phân chia thành kẻ giầu ngời
nghèo. Hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, quan hệ giữa hai giai cấp đó
là quan hệ bóc lột hoàn toàn của cải vật chất và con ngời. Nô lệ biến thành
công cụ lao động. Vấn đề giai cấp khi lên đến xã hội phong kiến bản chất
vẫn là quan hệ bóc lột những sự bóc lột thể hiện qua sự cống nạp. Ngời
nông dân, tá điền phải làm thuê và nộp tô thuế cho quan lại, địa chủ, song
họ có một chút quyền lợi là đợc tự do.
Hình thái kinh tế xã hội: T bản chủ nghĩa ra đời đa loài ngời lên nấc
thang cao hơn của nền văn minh. Xã hội đã phong phú hơn về giai cấp. Giai
cấp thống trị là giai cấp cơ bản. Thủ đoạn bóc lột của chúng tinh vi hơn rất
nhiều lần so với sự bóc lột trớc đó trong các xã hội chiếm hữu nô lệ và
phong kiến. Ngời công nhân làm thuê bị bóc lột sức lao động qua giá trị
thặng d, sự làm việc quá sức... Mặc dù t bản xã hội chủ nghĩa tạo ra một lợng của cải vật chất rất lớn cho xã hội, nhng bản chất bóc lột cùng những
mâu thuẫn khác là không thể điều hoà. Phần đông con ngời trong xã hội t
bản chủ nghĩa đều bị mất quyền lợi mất bình đẳng. Cả ba chế độ nô lệ,
phong kiến, t bản chủ nghĩa có những đặc điểm riêng nhng nó đều là chế độ
có khác những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà giữa giai cấp bóc
lột và giai cấp bị bóc lột, và dựa trên sự t hữu về sản xuất. Giai cấp bóc lột
là giai cấp thống trị, mọi hoạt động về mặt kinh tế chính trị xã hội đều chỉ
phục vụ cho quyền lợi của chính họ.

8

Một hình thái kinh tế xã hội tồn tại đợc thì nó phải có những mặt tốt
nhất định của nó chúng ta cũng không thể phủ nhận những thành quả mà
các hình thái kinh tế xã hội nói trên đã đạt đợc. Xã hội cộng sản nguyên
thuỷ là chế độ xã hội đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của loài ngời.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp thống trị bắt đầu tích luỹ của cải cho
xã hội, quan trọng nhất là nó đa con ngời ra khỏi thời kỳ mông muội hoang
dã. Hình thái kinh tế xã hội là chế độ xã hội bớc đầu vừa phát huy thừa kế
những thành quả của chủ nghĩa t bản, đồng thời khắc phục những mâu
thuẫn những hạn chế của t bản chủ nghĩa. Một xã hội mà quyền lực nằm
trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động - một tầng lớp đông đảo
của xã hội. Mọi hoạt động kinh tế - văn hoá - chính trị phục vụ lợi ích
chung của toàn xã hội. Không còn tình trạng bóc lột, mọi ngời đều bình
đẳng, sinh hoạt lao động dới sự quản lý của Nhà nớc thông qua pháp luật
thực hiện chế độ công hữu về t liệu sản xuất, chế độ tập chung dân chủ
công bằng xã hội. Quan hệ sản xuất đợc xây dựng trên cơ sở của lực lợng
sản xuất và trình độ phát triển cao cơ sở hạ tầng phù hợp với kiên trúc thợng
tầng.
Đây là hình thái kinh tế xã hội u việt một đỉnh cao của văn minh loài
ngời.
Từ hai con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, một con đờng t bản chủ nghĩa
và con đờng đi từ tiến t bản chủ nghĩa.
Việt Nam từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát ra khỏi nghèo nàn
lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ một nớc phát triển bằng con đờng
đi lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc.
2. Mục đích:
Mục tiêu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay nh Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định là: Xây dựng nớc
ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu
kinh tế lập hiến, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an
ninh vững chắc dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn minh, và nớc ta đã
chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đây là những nhận định rất quan trọng đối với những bớc đi
tiếp theo trong sự nghiệp đổi mới.

9

Công nghiệp hoá là một quá trình nhằm đa nớc ta từ một nền công
nghiệp lạc hậu thành một nớc công nghiệp hiện đại.
Hiện đại hoá là một mục tiêu cơ bản của văn minh hiện đại, thể hiện
xu hớng lịch sử tiến bộ và phát triển.
Đó là nhiệm vụ quan trọng có tầm cỡ to lớn, đòi hỏi phải đi từ cái cụ
thể đến cái tổng thể. Trớc hết cần hiểu rõ thực trạng và những định hớng
trung của Việt Nam trình độ lực lợng sản xuất ở mức thấp, quá độ lên chủ
nghĩa xã hội lại không phải từ chủ nghĩa t bản mà từ bớc quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa t bản với t cách là một chế độ xã hội. Vì vậy
cần phải nhận thức đầy đủ và sáng tạo các quy luật khách quan, trong đó
quy luật sản xuất phù hợp với tính chất trình độ lực lợng sản xuất là quy
luật cơ bản nhất nhằm cải tạo các thành phần kinh tế khai thác mọi tiềm
năng sản xuất. Phát huy tính chủ động sáng tạo của chủ thể các thành phần
kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế quốc doanh phải phát
triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự có tác dụng chủ đạo với các thành
phần kinh tế khác.
Chúng ta phải khắc phục quan niệm bỏ qua chủ nghĩa t bản một cách
giản đơn. Phải khai thác sử dụng tối đa chủ nghĩa t bản làm khâu "trung
gian" để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội nh Lênin đã chỉ ra.
Chủ trơng phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việc sử dụng
các hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nớc ta mà Đại hội VI vạch ra là đúng đắn. Đại hội VII của Đảng
cũng đã chỉ rõ "... phù hợp với sự phát triển lực lợng sản xuất thiết lập từng
bớc quan hệ sản xuất từ xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về
hình thức sở hữu phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng sản xuất chủ nghĩa tiên hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
Nhà nớc". Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng của kinh tế quốc doanh. Thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Đó là một trong những phơng
hớng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nớc ta.
Hơn nữa sự vận dụng đúng đắn của các quy luật quan hệ sản xuất, phải phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là cần thiết.
Bên cạnh đó từng bớc cơ sở xây dựng hạ tầng và cơ sở thợng tầng. Đặc biệt
là xây dựng Nhà nớc của dân, do dân, vì dân.

10

Thực hiện đa dạng hoá về tình hình sản xuất quản lý và phân phối theo
lao động.
3. Thực trạng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
Trớc đây trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nớc chúng
ta đã xác định công nghiệp hoá "là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội" song nớc ta vẫn mắc phải sai lầm bằng cách nhận
thức về công nghiệp hoá.
Từ cuối những năm 70, đất nớc đã lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội
với những khó khăn gay gắt lạm phát.
Khi đó do t duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có khoảng
cách quá xa t duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu,
bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản xuất, chế độ bao cấp dẫn
đến tình trạng trì chệ trong công việc: ỷ lại lời nhác, phụ thuộc vào Nhà nớc. Không năng động sáng tạo bằng công tác đợc giao, không cần quan tâm
đến kết quả đạt đợc.
Trong sản xuất sản phẩm làm ra không đủ chất lợng lạm phát càng
tăng. Kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nớc đời sống xã hội thấp kém,
nghèo khó. Trớc đây chúng ta do không thấy đợc quy luật lực lợng sản xuất
phát triển sẽ kéo theo quan hệ sản xuất phát triển nên chúng ta đã đi ngợc
lại quy luật này và muốn áp đặt một quan hệ sản xuất để kéo theo sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Sau khi tiến hành đổi mới chúng ta đã tuân theo
đúng quy luật, chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế nhiều thành phần hoạt
động trên cơ chế thị trờng làm cho năng suất lao động tăng, lực lợng sản
xuất phát triển do đó quan hệ sản xuất càng phát triển theo. Mặt khác phải
tạo ra yếu tố tích cực biến các yếu tố chủ quan vì nó có tính độc lập tơng
đối vì rằng ý thức có tính vợt trớc nên quan hệ sản xuất có khả năng vợt so
với sản lợng sản xuất vợt trớc ở đây là sự vợt trớc có tính phù hợp, vợt trớc
dựa trên cơ sở suy luận khoa học lôgic, dựa trên các quy luật và cao hơn là
sự vợt trớc kiến trúc thợng tầng so với cơ sở hạ tầng. Nó cũng phải dựa trên
sự phù hợp với quy luật và cơ sở lý luận khoa học logic.
Đáng tiếc là chúng ta vì muốn rút ngắn thời kỳ quá độ chúng ta đã
tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan và chính trị cho rằng chỉ cần nội dung và sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản thì chúng ta có thể làm cho quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.

11

Kết quả cuối cùng đem lại là kinh tế quốc doanh kém hiệu quả còn
kinh tế ngoài quốc doanh lại bị kìm hãm không ngóc đầu lên đợc. Nền kinh
tế tuy đạt đợc độ tăng trởng nhất định nhng sự tăng trởng đó không có phát
triển vì dựa vào bao cấp, bởi chi ngân sách lạm phát vay nợ nớc ngoài. Con
ngời không đợc giải phóng và bị lầm vào tình trạng khủng hoảng lạc hậu trì
trệ làm tăng chi phí lớn của cải xã hội.
Đến khi áp dụng chính sách khoán đất cho nhân dân tự trồng trọt, phá
bỏ hợp tác thì nên Nhà nớc đã có những bớc chuyển mình rất rõ rệt.
Trong công nghiệp.
Trong lựa chọn bớc đi, đã có lúc chúng thiên về "u tiên phát triển công
nghiệp nặng coi đó là giải pháp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công nghiệp.
Mà không coi trọng đúng mức của phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ. công nghiệp hoá cũng đợc hiểu một cách giản đơn là quá trình xây
dựng một nền sản xuất đợc cơ khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc
dân. Chúng ta thực hiện chủ nghĩa xã hội ồ ạt với quy mô lớn. Quốc hữu
hoá toàn bộ các xí nghiệp t nhân.
Kế hoạch kinh tế của nớc ta hầu nh dậm chân tại chỗ với những viện
nghiên cứu bao cấp chỉ đạo thì làm sao không thể phát huy đợc năng lực
sáng tạo với đồng vốn ít không đủ để cho nghiên cứu không cung cấp đầy
đủ kinh phí cho các việc ứng dụng nó vào thực tiễn sản xuất. Trong khi đó
nhìn ra bên ngoài khoa học kỹ thuật của các nớc phát triển nh vũ bão và trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp thấm vào tất cả các yếu tố của con ngời.
Một hạn chế nữa là chúng ta mắc phải đó là ta đã phủ nhận quy luật
giá trị sản xuất hàng hoá kinh tế thị trờng. Thực chất ở đây cũng là do
những nhận thức sai lầm, chủ quan nóng vội mà chúng ta đã cho rằng kinh
tế nớc ta phải tuân theo quy luật giá trị sản xuất hàng hoá và cơ chế thị trờng mà không hiểu điều quy luật nhất đó là: nớc ta mới ở giai đoạn của thời
kỳ quá độ.
4. Một số biện pháp
Để thực hiện đợc mục tiêu Đảng đề ra là làm cho dân giàu nớc mạnh
xã hội công bằng văn minh, đất nớc chuyển mình lên chủ nghĩa xã hội thì
đi đôi với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất chúng ta nhất thiết phải
phát triển lực lợng sản xuất, vì không có lực lợng sản xuất hùng hậu với
năng suất cao thì không thể nói đến công nghiệp xã hội. Một lần nữa ta
khẳng định tính tất yếu của công cuộc CNH - HĐH ở Việt Nam. CNH 12

HĐH đa nớc ta vợt qua một chặng đờng dài đi lên công nghiệp xã hội tính
đợc tình trạng chung đó là sự tụt hậu ngày càng xa của các nớc đang phát
triển so với các nớc phát triển . CNH - HĐH là để xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, CNH - HĐH đất nớc thì có tránh đợc nguy
cơ tụt hậu về kinh tế và sự lạc hậu về tiến bộ xã hội.
Khó khăn:
Một vấn đề nổi cộm "chúng ta còn quá lạc hậu, cần phải trang bị mới
hiện đại".
Về nông nghiệp: cho đến nay chúng ta vẫn trong tình trạng lạc hậu về
năng suất vẫn thấp (một lao động trong nông nghiệp trung bình nuôi 2,5 -3
ngời so với ở Mỹ, một lao động nông nghiệp nuôi 30 - 40 ngời). Nông
nghiệp cha thể là chỗ dựa để nâng nhu cầu bình quân đầu ngời một cách
đáng kể nông sản hàng hoá vẫn cha trở thành nguồn chính mà ta có thể dựa
vào đó để xây dựng công nghệ và cơ cấu hạ tầng. Thuế thu nhập từ nông
nghiệp không đáng kể.
+ Do chúng ta tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong điều
kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại nên đã gặp nhiều thử thách
gay gắt.
Kết cấu kinh tế ngày càng tăng giữa các nớc giàu và nghèo. Ta mất dần
lợi thế các tài nguyên và lao động. Sự chênh lệch khá lớn về mức sống. Kết
cấu khoa học - kỹ thuật ngày càng lớn.
Thuận lợi :
Nhờ chuyển giao công nghệ nên ta chỉ việc ứng dụng những thành tựu
khoa học - công nghệ. Có thể chọn công nghệ mới, phù hợp để phát triển.
Ta có những bài học kinh nghiệm từ các nớc đi trớc, không mắc phải
sai lầm nh những nớc đó...
Dễ hợp tác để tiến hành công nghiệp hoá.
Chúng ta có lực lợng lao động dồi dào, con ngời Việt Nam thông minh
sáng tạo lại có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nớc thông qua
pháp luật.
Chính sách cụ thể của Nhà nớc ta
Sự phát triển của các nớc trên thế giới và sự nghiệp đổi mới ở nớc ta
củng cố cho chúng ta những bài học lớn về nhận thức.

13