Tải bản đầy đủ
Vai trò của tri thức

Vai trò của tri thức

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Triết học
Khoa học vừa là hệ thống những tri thức, vừa là sự sản xuất tinh thần ra
những tri thức cũng nh hoạt động thực tiễn dựa vào những tri thức đó. Khoa học
với tính cách là một hình thái ý thức xã hội là hệ thống tri thức chân thực
về thế giới đã đợc kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tợng nhận thức của khoa học
bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và t duy. Đó là một trong những sự
khác biệt giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội.
Nguồn gốc sâu xa của sự hình thành khoa học là do nhu cầu phát triển sản
xuất, cùng với sự phát triển của sản xuất và thực tiễn xã hội, khoa học không
ngừng phát triển. Trong quá trình đó vai trò của khoa học trong đời sống xã hội
ngày càng tăng lên theo thời gian.
Trong thời kỳ cổ đại việc sử dụng khoa học vào sản xuất còn ít ỏi, trồng
trọt, chăn nuôi và nghề nông thủ công chủ yếu dựa vào tri thức và kinh nghiệm.
Từ thế kỷ XVII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càng trở nên
quan trọng đối với sản xuất và đời sống; trở thành một tiền đề của công nghiệp
hoá, trở thành nội dung tinh thần của lực lợng sản xuất, mà trớc hết là tạo ra cơ
sở lý luận để chế tạo những công cụ máy móc ngày càng hoàn thiện, cho phép
tiêu hao lao động sống ít hơn mà đạt kết quả to lớn hơn trong sản xuất vật chất
kỹ thuật cơ giới đã làm cho con ngời thoát khỏi lao động chân tay cực nhọc, làm
cho năng suất lao động tăng lên gấp bội.
Từ thế kỷ XX trở lại đây, khoa học tiến bộ rất nhanh chóng và vai trò xã hội
của nó ngày càng gia tăng. Khoa học và kỹ thuật kết hợp với nhau thành một thể
thống nhất để đi sâu nghiên cứu cấu trúc vật chất nh cấu trúc nguyên tử, các hạt
cơ bản, cấu trúc gen và xâm nhập vào vũ trụ với quy mô ngày càng lớn. Nhờ vậy,
khoa học đã phát hiện ra những đặc tính mới, quy luật mới của tự nhiên và sự
sống, tạo ra và sử dụng những nguyên liệu mới có tác dụng nhiều mặt, những
dạng năng lợng mới cực mạnh, mở ra nhiều triển vọng to lớn để hiểu biết và phát
hiện những tài nguyên mới trong vũ trụ và quả đất; tạo ra và ứng dụng những kỹ
thuật mới để điều trị bệnh tật, lai tạo các giống loài, điều chỉnh quá trình sống
của động vật, thực vật, đề ra hàng loạt những phơng tiện kỹ thuật và quá trình
công nghệ mới. Sự thống nhất giữa khoa học và kỹ thuật đợc thể hiện trong cuộc
cách mạng khoa học- kỹ thuật: khoa học trở thành một ngành sản xuất vật chất
với quy mô lớn, bao hàm hàng loạt những viện, trờng, phòng, trạm trại và cả
nhiều xí nghiệp nữa. Đội ngũ những ngời làm công tác khoa học tăng lên nhanh
chóng và không ngừng. Ngân sách đầu t cho khoa học ngày càng lớn, có thể coi
khoa học nh một ngành kinh tế quốc dân đặc biệt, ngành sản xuất ra tri thức mới.
Do những biến đổi căn bản về vai trò của khoa học đối với sản xuất mà khoa học
trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Không chỉ có khoa học tự nhiên và kỹ thuật
mà cả các khoa học xã hội cũng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Việc áp
3

Tiểu luận Triết học
dụng những công trình nghiên cứu của khoa học xã hội vào thực tiễn giữ một vai
trò không kém phần quan trọng. Những công trình nghiên cứu kinh tế và xã hội
học đã giúp cho việc sử dụng vật lực và nhân lực một cách hợp lý nhất, chọn
lựa những phơng hớng tiến bộ nhất trong sự phát triển sản xuất và hoàn thiện tổ
chức lao động.
Khoa học là lực lợng sản xuất hàng đầu. Ngày nay, chúng ta thờng xuyên
nghe nói đến một nền kinh tế mới đó là "nền kinh tế tri thức" mà trong đó khoa
học- công nghệ- kỹ thuật trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết
định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển tri
thức khoa học đợc vật hoá, đợc kết tinh vào mọi yếu tố của lực lợng sản xuất.
Tức là trong đối tợng lao động, kỹ thuật và quá trình cnt, và cả trong những hình
thức của tổ chức sản xuất. Tri thức khoa học còn đợc bao hàm trực tiếp trong
hoạt động của ngời lao động sản xuất, trở thành một bộ phận không thể thiếu đợc, khăng khít của mỗi ngời làm việc trong quá trình sản xuất, dần dần chiếm địa
vị chủ đạo thay cho thói quen và kinh nghiệm thông thờng. Ngời lao động sản
xuất chủ yếu sẽ không phải là đối tợng hoá sức lao động của mình mà chủ yếu là
vận dụng tri thức khoa học để điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất tự động
hoá, đề xuất sáng kiến, sử dụng hợp lý thiết bị, nguyên liệu, năng lợng và để tổ
chức hoạt động của mình một cách có hiệu quả nhất. Việc quản lý sản xuất và
các quá trình công nghệ chỉ có thể thực hiện trên cơ sở khoa học. Đồng thời hoạt
động nghiên cứu khoa học và thiết kế tham gia vào kết cấu của quá trình sản
xuất nh một khâu trực tiếp. Nh vậy khoa học không còn đứng trên cao hay bên
ngoài sản xuất mà chuyển thành một khâu của sản xuất.
Trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ là tạo ra tri thức mà cả thu nhận
sử dụng và truyền bá tri thức kinh tế tri thức không chỉ bao hàm duy nhất các
lĩnh vực hoạt động với công nghệ cao, sử dụng lao động tri thức và lao động có
kỹ năng cao là chính mà còn là quá trình tri thức xâm nhập và chi phối tất cả mọi
hoạt động kinh tế, tứclà nền kinh tế tri thức không nhất thiết có cấu trúc ngành
thuần nhất về trình độ phát triển. Nghĩa là không phải tất cả các ngành đều phải
dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật cao song điều chắc chắn là tất cả các
ngành dù ở trình độ nào, cũng hoạt động dới sự chi phối của tri thức, trong nền
kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò là lực lợng sản xuất quyết định nhất nên quy
trình thực tiễn hoá tri thứ cũng là quy trình sản xuất chủ yếu, quyết định sự phát
triển trong đó khả năng đồng hoá, sử dụng và truyền bá tri thức là khâu trực tiếp
quyết định thành công trong nền kinh tế, nhất là xét trong ngắn hạn và trung hạn.
Lịch sử phát triển hiện đại ngày càng chứng tỏ rằng, lợi thế về tài nguyên
thiên nhiên, về nguồn nhân lực càng giảm bớt. Trong khi đó trình độ khoa học
công nghệ và nguồn nhân lực kỹ năng cao (bao gồm nhân lực trí tuệ) ngày càng
4

Tiểu luận Triết học
đóng vai trò quyết định thắng lợi trong cuộc đua tranh- cạnh tranh phát triển.
Khả năng vợt bỏ hay tụt hậu phát triển của mỗi quốc gia (hay của bất cứ yếu tố
cấu trúc nào) tuỳ thuộc vào vị thế của nó trong mạng kinh tế toàn cầu, tức là tuỳ
thuộc vào khả năng xác lập quan hệ với các nhân vật mới, công cụ mới để có đợc
các điều kiện phát triển (các lợi thế phát triển do thời đại tạo ra). Ngời ta thấy
rằng, trình độ phát triển càng cách xa trình độ chung của mạng thì độ rủi ro càng
lớn. Song, trong khi những rủi ro do tham gia gây ra là mang tính tình thế thì rủi
ro do không tham gia mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kỳ rủi ro nào do tham
gia mạng. Tuy nhiên, đối với những nớc chậm phát triển sự tồn tại ở vị trí thống
trị, hay chi phối của các yếu tố cơ bản thuộc cơ cấu cũ tạo nên hàng loạt ràng
buộc đối với tiến trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, đó là lực lợng lao động ít
tri thức, thiếu kỹ năng (lao động nông nghiệp lạc hậu) chiếm tuyệt đại đa số làm
cho bớcquá độ lao động diễn ra chậm, nguồn lực tài chính khan hiếm, tiềm lực
công nghiệp và khoa học yếu và thấp kém, các mối liên hệ mở hạn chế. Những
yếu tố này tự nó chứa đựng năng lực nhập mạng kinh tế toàn cầu, yếu, cản trở
trực tiếp khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển và gây ra sự chậm chạp của quá
trình biến đổi.
Đối với một đất nớc còn nghèo nh Việt Nam thì vai trò của khoa học cnt
trong sự nghiệp phát triển của đất nớc là vô cùng to lớn, quyết định tốc độ và khả
năng vơn lên ngang tầm với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Đại hội Đảng
lần thứ VI đã đề ra đờng lối đổi mới coi khoa học và công nghệ là một động lực
mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, coi những ngời làm khoa học và công nghệ
làđội ngũ cán bộ tin cậy, quí báu của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta". Còn Nghị
quyết của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành (khoá VII) trong phần về chủ trơng
phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm :khoa
học công nghệ là nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kết hợp công
nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở
những khâu quyết định".
Trong báo cáo chính trị Đại hội VIII Đảng ta lại nhấn mạnh" Khơi dậy
trong nhân dân lòng yêu nớc, ý thức quật cờng, phát huy tài trí của ngời Việt
Nam, quyết tâm đa nớc nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công
nghệ". Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vừa qua một lần nữa lại xác định rõ
vai trò to lớn của khoa học- công nghệ trong sự nghiệp xây dựng đất nớc, phấn
đấu đa nớc ta trở thành nớc công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Nh vậy, đủ thấy
rằng Đảng và Nhà nớc ta thật sự rất coi trọng khoa học công nghệ coi đó là quyết
sách hàng đầu cho sự phát triển của đất nớc.

5

Tiểu luận Triết học
Nhìn lại những thành tựu mà chúng ta đã đạt đợc sau nhiều năm đổi mới, ta
càng thấy đợc vai trò to lớn của khoa học. Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến,
công nghiệp nhẹ càng thấy rõ tác dụng của tiếp thu công nghệ mới: các sản
phẩm của ngành bia, nớc giải khát, công nghiệp dệt nhờ có các dây chuyền
công nghệ mới nh liên doanh cùng với lao động đợc huấn luyện, đã cạnh tranh đợc với sản phẩm nớc ngoài và bớc đầu xâm nhập thị trờng quốc tế. Đáng tiếc là
chúng ta cha có đủ hệ thống kế toán thống kê cần thiết để có thể đánh giá đợc
đóng góp của khoa học và sự tăng trởng kinh tế trong những năm qua. Nhờ có
khoa học mà ta đã phát triển đợc hệ thống y tế, chữa trị đợc các bệnh hiểm nghèo
mà trong vài thập kỷ trớc chúng ta phải bó tay nh: lao, sốt rét, đặc biệt là việc
chữa trị căn bệnh vô sinh và thụ tinh trong ống nghiệm đã đem lại hạnh phúc cho
nhiều gia đình Ngoài ra với sự phát triển của hệ thống các ngành công nghiệp
mới nh công nghiệp điện tử- viễn thông, tin học đã đa nớc ta không bị tụt hậu lại
quá xa so với các nớc phát triển khác.
Khi mà cả thế giới đều hớng tới nền kinh tế tri thức thì Việt Nam cũng
không thể đứng ngoài nếu nh muốn phát triển. Để có thể hội nhập và phát triển,
nớc ta phải có những điều kiện tối thiểu để nhập cuộc, đó là: Phổ cập giáo dục,
phổ cập công nghệ thông tin, trớc tiên là trong nhà trờng, kể từ cấp tiểu học, phổ
cập ngoại ngữ (ít nhất là tiếng Anh) từ cấp tiểu học rõ ràng, chỉ có "truy lĩnh
cái mới" mới bảo đảm thành công. Và còn nhiều yếu tố mới có vai trò ngày càng
lớn trong cạnh tranh nh: nghệ thuật và năng lực tiếp thị, sự đáp ứng và dự báo kịp
thời thị hiếu, mạng lới phân phối đúng thời hạn Nếu không đợc hỗ trợ bằng
một lực lợng khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới thì không thể nào giữ
vững đợc vị trí của sản phẩm trên thơng trờng quốc tế.
Nh vậy, sứ mệnh xã hội của khoa học là làm cho cuộc sống và lao động của
con ngời trở nên đỡ vất vả hơn, tăng thêm quyền lực trí tuệ của con ngời đối với
tự nhiên, góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội, hoàn thành nhân cách con ngời và trở nên phát triển hài hoà làm cho cuộc sống và hoạt động của con ngời
ngày càng dễ dàng hơn, đem lại hạnh phúc cho con ngời. Khoa học tự nó là
thành quả bất hủ của thiên tài con ngời, nó mở rộng chân trời cho sự sáng tạo
những của cải vật chất và tinh thần dồi dào. Song khoa học tự nó không đợc coi
là giá trị cao nhất của văn minh loài ngời, khoa học là phơng tiện chứ không phải
là mục đích.
2. Vai trò của tình cảm và ý chí
Việc nhấn mạnh yếu tố tri thức không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoặc coi
nhẹ vai trò của các nhân tố tình cảm và ý chí. Ngợc lại, nếu tri thức không biến
thành tình cảm, niềm tin và ý chí của con ngời hành động thì tự nó cũng không
có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý
6

Tiểu luận Triết học
chí, hoạt động thực tiễn sẽ diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn
ra đợc. Nhờ ý chí và tình cảm, ý thức quy định tốc độ và bản sắc của hoạt động
thực tiễn. Tinh thần dũng cảm dám nghĩ, dám làm lòng nhiệt tình, chí quyết tâm
tình yêu, niềm say mê đối với công việc, khả năng sáng tạo và vợt qua khó khăn
nhằm đạt tới mục tiêu xác định đều có ảnh hởng to lớn đến hoạt động thực
tiễn, quy định tính đặc thù và bản sắc riêng của những hoạt động cụ thể nhất
định. Nói một cách khác, t tởng có vai trò không kém phần quan trọng trong đời
sống xã hội so với khoa học.
Vai trò của t tởng
Khi nói đến tính tích cực, năng động của ý thức có nghĩa là nói đến con ngời, đến hoạt động có mục đích của con ngời. Sức mạnh của ý thức (t tởng) tuỳ
thuộc vào mức độ thâm nhập, phổ biến của nó vào con ngời, vào trình độ tổ chức
hoạt động thực tiễn và vào các điều kiện vật chất và hoàn cảnh khách quan, trong
đó ý thức đợc thực hiện. Tính tích cực của ý thức có thể là thúc đẩy và cũng có
thể là kìm hãm ở một mức độ nhất định của sự phát triển của tồn tại. Những t tởng khoa học, lý luận cách mạng có vai trò to lớn, thúc đẩy sự phát triển của tồn
tại. Tầm quan trọng của lý luận cách mạng đợc Lênin khái quát "không có lý
luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng". Những t tởng
khoa học, lý luận khoa học có vai trò thúc đẩy sự phát triển tồn tại vì chúng trang
bị cho con ngời những tri thức đúng đắn về các quy luật khách quan trên cơ sở
đó con ngời vận dụng và hành động phù hợp.
Việc thực hiện cách mạng trong lĩnh vực t tởng- văn hóa là một trong những
quy luật phổ biến của sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. C.Mác và sau
này là V.I.Lênin đã chỉ ra rằng cách mạng t tởng văn hoá có vai trò rất quan
trọng, góp phần làm biến đổi toàn bộ đời sống tinh thần xã hội, xây dựng mối
quan hệ t tởng, tình cảm của con ngời với t cách là chủ thể xây dựng đời sống
tinh thần làm cho quần chúng nhân dân trở thành ngời trực tiếp tham gia vào quá
trình sáng tạo lịch sử một cách tự giác có ý thức, làm chủ mọi giá trị tinh thần,
văn hoá và tạo ra đợc những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con ngời.
Do đó, công tác t tởng- văn hóa nhằm biến t tởng văn hoá tiến bộ thành lực lợng
vật chất để cải tạo xã hội, xây dựng chế độ mới, làm cho hệ t tởng của Đảng, của
giai cấp công nhân, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, trở
thành hệ t tởng và các giá trị nhân văn, khoa học, chiếm địa vị chủ đạo trong đời
sống tinh thần của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
T tởng xác định lập trờng, thái độ cho con ngời từ đó mà có những hoạt
động thích hợp để cải tạo, xây dựng xã hội. Nhờ có lòng dũng cảm, lòng nhiệt
tình, chí quyết tâm mà những công việc trở nên dễ dàng hơn. Trong giai đoạn
hiện nay thì vai trò của t tởng ngày càng đợc khẳng định. Với sự chống phá của
7