Tải bản đầy đủ
2: Tính kế thừa của phủ định biện chứng với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

2: Tính kế thừa của phủ định biện chứng với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ

nhất đất nớc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,tạo cơ sở vật chấtkỹ thuật quan trọng cho chủ nghĩa xã hội.
Thực tế mô hình chủ nghĩa xã hội này,nhất là thời kỳ 10 năm sau ngày
giải phóng miền Nam (1976 1986) đã chứng tỏ những điều không phù
hợp với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung và
sự thừa nhận chỉ có hai thành phần kinh tế ( quốc doanh, tập thể ) đã kìm
hãm sức sản xuất, làm cho nhiều năng lực của xã hội không đợc phát
huy,các vấn đề mấu chốt của đời sông nhân dân không đợc giải quyết.Vì
thế chúng ta không tạo ra những thay đổi ;không tạo ra đợc sự bứt phá
trong phơng hớng phát triển bền vững; không tạo ra nguồn sinh lực mới
cho xã hội. Tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm
trọng,nhân dân kém nhiệt tình lao động và mất đi những động lực sáng
tạo. Tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực quý giá khác chậm đợc khai
thác, sản xuất và đời sống ngày càng suy giảm dẫn đến tình trạng trì trệ
trong xã hội.
Thực tế cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nớc
đã lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng. Tuy
vậy, xét cho cùng, khi nớc ta bắt đầu bắt tay vào đổi mới, nền kinh tế
chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần gắn với thị trờng, dới sự quản lý của nhà nớc,
theo đinh hớng xã hội chủ nghĩa thì việc kế thừa và phát huy những yếu tố
tích cực hợp lý của cơ chế cũ là rất cần thiết và không thể phủ nhận.Chúng
ta đổi mới nhng không phủ định sạch trơn.
Trong sản xuất nông nghiệp, Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng
đến nhóm và ngời lao động. Đây là một hình thức quản lý tiến bộ, thích
hợp với điều kiện lao động của ta chủ yếu cồn là thủ công và là hình
thức biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất. Chỉ thị 100 có tác dụng gắn chặt trách nhiệm
và lợi ích của ngời lao động với sản phẩm cuối cùng. Các hợp tác xã và tập
đoàn sản xuất đã phát huy tốt hơn khả năng lao động, tạo ra đợc khí thế
lao động sôi nổi, tận dụng đợc điều kiện về vốn, vật t, chú trọngcác biện
pháp thâm canh,tăng năng suất,tăng thu nhập, giải quyết tốt việc kết hợp 3
lợi ích ( lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân )cho nên chỉ thị đó
nói chung đã là một động lực thúc đẩy đối với việc phát triển sản xuất
nông nghiệp. Song, do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cộng với sự yếu
kém về tổ chức, quản lý của hợp tác xã cũng ảnh hởng không tốt đến việc
thực hiện khoán sản phẩm.
Vì thế, giai đoạn đổi mới kinh tế trong sản xuất nông nghiệp kế thừa và
hoàn thiện dần chế độ khoán sản phẩm. Kinh tế hợp tác vẫn đợc giữ lại nhng hợp tác xã chỉ làm một số khâu dịch vụ đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm

6

cho xã viên.Chuyển các hợp tác xã còn hoạt động kinh doanh thành các
hợp tác xã cổ phần, hoạt động theo Luật Hợp tác xã (ban hành 1997).
Về đổi mới các công cụ và chính sách quản lý kinh tế kế hoạch hoá
trong cơ chế cũ đợc coi là công cụ chủ yếu nhất để quản lý kinh tế. Thông
qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nớc từ Trung ơng đến địa phơng
để xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế ,điều
hành, theo dõi thực hiện và xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch mà nhà nớc có thể chỉ huy đợc nền kinh tế. Việc thực hiện cơ chế đó đến đầu thập
kỷ 80 đã trở thành lực cản của sự phát triển kinh tế.
Công tác kế hoạch hoá trong thời kỳ đổi mới đợc cải tiến dần theo hơng
chuyển từ kế hoạch hoá tập trung mang tính chất pháp lệnh trực tiếp sang
kế hoạch hoá gián tiếp. Nhà nớc xây dựng chiến lợc phát triển với các mục
tiêu lớn, các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu và điều tiết kinh tế bằng các chính
sách, các công cụ kinh tế vĩ mô để dẫn nền kinh tế theo định hớng đề ra
cho từng giai đoạn
2.2.2:

Kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức,văn hoá truyền thống trong
phát triển kinh tế mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nớc, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với t cách là nền tảng tinh thần
của xã hội hiện nay đợc Đảng ta xác định là: vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Thật vậy, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc ở một nớc mà
cho đến nay, có thể nói, vẫn đang là một nớc nghèo lạc hậu thì trớc tiên
chúng ta phải chú trọng phát triển kinh tế, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu.
Song sẽ là sai lầm nghiêm trọng với những hậu quả khó lờng một khi tăng
trởng kinh tế lại không gắn liền với phát triển văn hoá, xây dựng nền văn
hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Để có một nền kinh tế phát triển
nhanh, lành mạnh và vững chắc, chung ta không thể chỉ trông chờ vào các
động lực kinh tế thuần tuý, chỉ dựa vào các động lực kinh tế thuần tuý ấy.
Bởi lẽ, thực tiễn cho thấy, môi trờng văn hoá và cùng với nó, môi trờng xã
hội,chính trị và cả bối cảnh kinh tế cũng đã trở thành những tác nhân hết
sức quan trọng đối với sự tăng trởng kinh tế nhanh, bền vững.
Với t cách là cái phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của
đời sống con ngời, của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng dân tộc, là thớc đo:
trình độ ngời trong các mối quan hệ xã hội. Văn hoá thể hiện vai trò
động lực của nó qua việc làm cho con ngời phát triển toàn diện, trở nên
phong phú về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, lối sống, mang lại cho con ngời
7

nhân cách cao đẹp, giúp con ngời thực hiện khát vọng vơn tới hệ giá trị
chân thiện - mỹ. Văn hoá làm cho chất lợng con ngời ngày một hoàn
thiện, khả năng hoạt động sáng tạo của con ngời ngày một nâng cao, phơng thức ứng xử của con ngời ngày một cao đẹp.
Cùng với đó, bằng việc tham gia có hiệu quả vào quá trình nâng cao
cả mặt bằng dân trí và đỉnh cao dân trí, bồi dỡng và phát huy nguồn lực
to lớn của con ngời,mang lại cho con ngời năng lực t duy, khả năng tiếp
thu cái mới, hiểu biết thực tiễn, văn hoá trở thành động lực không thể thiếu
cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Phát triển kinh tế thị trờng, văn hoá kinh tế là cái không thể. Nó mang
lại cho chúng ta kiến thức và sự hiểu biết về kinh tế thị trờng, tạo ra ở
chúng ta năng lực t duy kinh doanh sáng tạo, hiệu quả. Nó còn là cái tạo ra
môi trờng tâm lý thuận lợi cho các hoạt độngkinh doanh làm giàu,phát
triển các hoạt động giao tiếp xã hội về kinh tế. Văn hoá trong kinh doanh
làm xuất hiện và phát triển tầng lớp kinh doanh giỏi, văn minh, có ý chí
làm giàu, biết chấp nhận những rủi rổtng làm ăn chân chính để rồi thành
đạt hơn trong sản xuất kinh doanh. Đó chính là lý do để chúng ta phát huy,
kế thừa các giá trị đạo đức, văn hoá truyền thốngtrong đổi mới kinh tế:
_Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nớc.
Tinh thần yêu nớc là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân
tộc Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tinh thần yêu nớc
truyền thống phải đợc kế thừa và phát huy một cách cao độ hơn bao giờ
hết, nhng tinh thần đó cũng cần phải đợc bổ sung những nội dung và hình
thức mới cho phù hợp.
Đối với mỗi ngời dân Việt Nam ngày nay,yêu nớc luôn là ý thức xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Trớc tiên, phải có lòng tự hào dân tộc, có ý thức
tôn trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị vật chất cũng nh tinh thần mà
dân tộc ta đã tạo dựng đợc từ bao đời nay. Trong xây dựng kinh tế, yêu nớc chính là cố gắng phấn đấu,học tập, tu dỡng,rèn luyện, lao đọng để làm
ra ngày càng nhiêù vật chất cho xã hội. Yêu nớc thúc đẩy mỗi ngời đem
hết tài năng và trí tuệ của mình để làm giàu một cách chính đáng cho bản
thân; Dù ở cơng vị nào cũng phải cố gắng hoàn thành một cách xuất sắc
nhiêm vụ của mình; Biết hởng quyền lợi nhng đông thời cũng phải thực
hiện tốt mọi nghĩa vụ của công dân, phấn đấu góp phần đa đất nớc thoát
khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
_Kế thừa và phát huy đức tính cần cù.
Có thể nói, cần cù là một đức tính có truyền thống lâu đời của ngời Việt
Nam. Đức tính này đợc hình thành từ rất sớm, có nguồn gốc sâu xa và gắn
với điều kiện hình thành và phát triển nhân dân và lối sống dân tộc. Hầu

8

hết các từ điển Hán Việt đều giải thích cần cù,có nghĩa là,dốc hết
sức, chăm chỉ,siêng năng. Khi bàn về cần,Bác Hồ trả lời: cần tức là
tăng năng suất trong công tá, bất kỳ công tác gì. Còn theo GS. Trần Văn
Giàu: cần trớc hết là làm việc. Phải làm việc siêng năng, làm việc có
năng suất cao thì mới gọi là cần. Cần có nghĩa là siêng .Nh vậy khi nói
đến khái niệm: cần cù, cần chú ý đến mấy khía cạnh:
Thứ nhất, cần là khái niệm chỉ sự làm việc của con ngời trong lĩnh vực
sản xuất vật chất cũng nh hoạt động tinh thần.Bác Hồ từng nói: cần trong
vô luận nghề nghiệp, chức trách gì xa gọi là cần nghiệp; cần trong lao
động sản xuất xa gọi là cần lao; Cần trong việc học hành xa gọi là cần
học.
Thứ hai,cần chỉ sự chịu khó làm việc, chăm chỉ, siêng năng, và đạt hiệu
quả cao. Do vậy không nên hiểu cần chỉ là hoạt động lao động sản xuất
hay làm việc đơn thuần bởi lẽ nếu làm việc mà ít hiệu quả thì cha gọi là
cần. Do vậy cần cù là một phẩm chất riêng có của con ngời, nó mang tính
ngời. Trong Kinh Dịch, cần trớc hết là đức lớn của trời đất chứ không
phải chỉ là nghĩa, là bổn phận và đức tính của con ngời.
Nh vậy cần cù là một phẩm chất không phải chỉ dân tộc Việt Nam mới
có.Tuy nhiên, mỗi dân tộc đêù có đặc điêm tâm lý, điều kiện kinh tế- xã
hội khác nhau nên thái độ cần cù cũng khác nhau. Từ buổi bình minh của
lịch sử dân tộc, con ngời Việt Nam đã vừa phải chống chọi với thiên tai, lũ
lụt, hạn hán vừa phải chống giặc ngoại xâm. Chính hoàn cảnh này đã góp
phần hình thành nên những nét độc đáo riêng cho đức tính cần cù của dân
tộc , nó không giống với bất kỳ dân tộc nào khác.
Đất nớc bình yên, cả nớc đi vào công cuộc xây dựng đất nớc. Nhiệm vụ
cách mạng trong xây dựng con ngời Việt Nam giai đoạn mới phải có 5 đức
tính cơ bản mà hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ơng đảng khoá 8 đã
đề ra, trong đó cần cù lao động và học tập là những đức tính lớn: lao động
chăm chỉ với lơng tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật , sáng tạo, năng suất cao
vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội Th ờng xuyên học tập,
nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lc.
Trong điều kiện của một xã hội thông tin nh hiện nay cần cù trong lao
động đòi hỏi phải đi đôi với cần cù trong học tập. Bởi lẽ con ngời không
có tri thức đặc biệt là tri thức khoa học thì khó có thể lao động đạt hiệu
quả, đáp ứng yêu cầu cuả thời đại, của sự phát triển xã hội. Có lẽ câu nói
của ông cha ta: học ăn, học nói, học gói, học mở đủ cho thấy rằng nhân
dân ta có nhân sinh quan và thái độ đúng đắn, toàn diện trong cuộc sống.
Nếu nh, V.I. Lê Nin có quan niệm rất hay là: học, học nữa, học mãi thì
ông cha ta từ lâu đã có một quan niệm để đời, thấm sâu vào tâm trí của ngời Việt là: học đến già. Rõ ràng đức tính cần cù là một đức tính lớn của
dân tộc Việt Nam góp phần làm nên bản sắc của nền văn hoá.
9

Trong những năm qua, có thể nói đức tính cần cù đợc nhân dân ta kế
thừa và phát huy một cách tích cực. Điều này đợc thể hiện rõ nét trong lối
sống của những cá nhân trong cộng đồng xã hội. Khi nớc ta chuyển sang
nền kinh tế thị trờng, nhà nớc cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn
tại, đặc biệt là kinh tế t nhân thì đức tính cần cù, đặc biệt là lao động cần
cù đợc nhân dân ta xem là một phẩm chất quý nhất và đợc kế thừa phát
huy cao độ.
Theo số liệu điều tra xã hội học của Viện nghiên cứu Văn học - Nghệ
thuật và Trung tâm Công nghệ - Thông tin của Văn phòng Bộ Văn hoáThông tin về phẩm chất đáng quý của con ngời đối với 1120 công nhân và
498 nông dân với câu hỏi:
xin ông(bà) cho biết phẩm chất nào ở con ngời là đáng quý.
Kết quả thể hiện ở bảng sau:
Phẩm chất

Thông minh, sáng tạo
lao động chuyên cần
chính trực, thật thà
trọng chữ tín, giữ lời hứa
tiết kiệm, giản di
đoàn kết, rộng lợng
lo việc chung
hay thơng ngời, giúp ngời khác
cởi mở, hoà nhã
dũng cảm

Số ngời chọn phẩm chất quý nhất
công nhân
nông dân
số lợng
tỷ lệ
số lợng
tỉ lệ
619 55.26
236 47.4
552 49.28
313 62.9
543 48.48
232 46.5
536 47.85
167 33.5
287 25.62
155 31.1
267 22.83
184 36.9
264 23.57
122 24.5
271 24.19
142 28.5
111
9.91
81 16.3
112
10
66 13.3

Ta thấy trong bảng trên giá trị lao động cần cù chiếm tỉ lệ cao nhất
62.58%
Trong lao động sản xuất, kinh doanh ngời ngời thi đua nhau làm ăn, không
ngại khó khăn nhằm tăng thêm thu nhập chính đáng, tích luỹ tiền của, xây
dựng cuộc sống ổn định. Ngay cả những cán bộ, công nhân viên chức nhà
nớc, ngoài giờ làm việc ở cơ quan, họ tranh thủ làm kinh tế phụ, mở thêm
dịch vụ để tăng thu nhập cho gia đình, ngoài nguồn lơng chính.
Trong học tập hay lao động trí óc nói chung cũng có không ít ngời cần cù
nghiên cứu, làm việc tận tâm, học hành nghiêm túc, cầu tiến nhằm tích luỹ
kiến thức, đảm dơng công việc trong thời đại mới. Nhìn vào trờng học, ở
10

các thành phố lớn và các tỉnh đâu đâu ta cũng thấy tinh thần học tập hăng
say cần mẫn. Có sinh viên tranh thủ học hai hay ba trờng đại học cùng lúc.
Không chỉ sinh viên, học sinh mà cả cán bộ, công nhân viên cũng đều ý
thức đợc việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Họ nhận
ra rằng trong quá trình hội nhập toàn cầu hôm nay việc nâng cao kiến thức
là rất quan trọng.
Đất nớc ta bớc vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá bên cạnh những
mặt tích cực của việc kế thừa phát huy đức tính cần cù, nhân dân ta cần
phat huy tính năng động sáng tạo, chống lại lối sống xa hoa, lãng phí đua
đòi, thực dụng.
Tóm lại, cần cù là một trong giá trị văn hoá truyền thống đáng quý của
dân tộc Việt Nam. Nó đợc hình thành từ rất sớm, đợc kế thừa và phát huy
trong lối sống của bao thế hệ đi trớc.Ngày nay,trong công cuộc đổi mới
kinh tế, đức tính cần cù phải đợc mỗi cá nhân kê thừa và phát huy trong
xây dựng lối sống của mình để góp phần đa đất nớc nhanh chóng tiến theo
kịp sự phát triển của nhân loại.

2.2.3.
Kế thừa những yếu tố tiến bộ của nền kinh tế
TBCN
Khi thực hiện những t tởng chiến lợc của Đảng cộng sản Việt Nam,
tiếp thu những thành tựu mà loài ngời đã đạt đợc trong CNTB, thực hiện
nhất quán chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện
đa phơng hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập
với thế giới, đã nảy sinh các khuynh hớng sai lầm:
Thứ nhất, chỉ ca ngợi một chiều không nhận thấy những khuyết
tật,những mâu thuẫn nội tại không thể khắc phục đợc của CNTB, từ đó đi
đến sùng bái CNTB, không thấy sự cần thiết phải phủ định nó với t cách
một chế độ xã hội.
Thứ hai, chỉ nhìn nhận CNTB một cách đơn giản coi nó nh là một
cái gì đó lỗi thời, xấu xa nhất hoặc bao gồm những cái: không thể chấp
nhận đợc. Do đó, khồng thể phát hiện ra những yếu tố tích cự, hợp lý cần
phải kế thừa của CNTB.
Cả hai khuynh hơng sai lầm đó đều trái với nguyên lý phát triển, trái
với quan điểm phủ định biện chứng của chủ nghĩa Mác. Để khắc phục
những sai lầm mắc phải, theo tôi cần nhận thức rõ hơn về các vấn đề sau
đây:
Phải khẳng định CNTB đã phát triển đến đỉnh cao và chính
nó đã tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cho sự ra đời
của CNXH.
CNTB cũng chứa đựng những yếu tố tiến bộ so với các nớc
cha phát triển, đặc biệt là các nớc cha qua giai đoạn CNTB
khi tiến lên chủ nghĩa xã hội nh Việt Nam.
11

Vì vậy, việc kế thừa những thành tựu mà chủ nghĩa t bản đạt đợc là một
tất yếu khách quan, là một biện pháp quan trọng để các nớc đó có thể rút
ngắn con đờng phát triển của mình.Đối với những nớc đang phát triển khi
lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa phải bao
gôm cả việc loại trừ cái xấu, kế thừa những yếu tố hợp lý, tiên bộ .Tuy
nhiên, hai nhiệm vụ đó không ngang nhau. Cốt yếu cơ bản của quá trình
đó chính là sự kế thừa, phát huy những thành tựu mà loài ngời đạt đợc
trong chủ nghĩa t bản để tạo dựng xã hội mới.Điều đó phù hợp với những
t tởng của V.I.LêNin,cho rằng: phủ định biện chứng không phải là phủ
định sạch trơn, không phải là sự phủ định không suy nghĩ, không phải là
sự do dự, hay nghi ngờ.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chế đôax hội chủ nghĩa,khoa học
công nghệ là tài sản của toàn nhân chỉ không phải của riêng một nhóm ngời nào. Dới chủ nghĩa t bản, khoa học chịu sự chi phối, thao túng của các
nhà t sản, tài phiệt.Vì thế, nó trở thành những công cụ làm giàu cho thiểu
số ngời giàu,co quyền lửctong xã hội, đồng thời, trở thành phơng tiện áp
bức, bóc lột nhân dân lao động một cách ngày càng tinh vi,xảo quyệt hơn.
Ngợc laị, trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, tiến bộ của khoa học công
nghệ hớng về con ngòi bởi vì mục đích cao cả và đầy tính nhân văn của
chủ nghĩa xã hội là giải phóng con ngời, phát triển con ngời toàn diện.
Hơn nữa, xu thế toàn cầu hoá cùng với sức mạnh nh vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật có tác dụng rút ngắn khoảng cách ngoại giao.
Mặt khác, chúng ta cũng không hề phủ nhận những thành công trong
quản lý của chủ nghĩa t bản, kể từ hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nớc
đến hoạt động quản trị doanh nghiệp. Tôi chỉ xin đa ra một số vận dụng
điển hình trong hoạt động quản lý kinh doanh có hiệu quả cao:
Trong điều kiện hiện nay, để tồn tại và cạnh tranh có hiệu quả trên thị
trờng Việt Nam cũng nh trên thị trờng quốc tế, tất cả các doanh nghiệp nói
chung và các doanh ghiệp Việt Nam noi riêng đêu cần coi trọng hoạt động
quản trị nhân lực,hoạt động nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Quản trị kinh doanh,xét cho
cùng, cũng là quản trj con ngời. Con ngời chính là yếu tố quan trọng nhất,
quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp và là nguồn lực quý giá
nhất của doanh nghệp đó. Phát huy có hiệu quả nguồn lực này là yếu tố
dẫn đến thành công của mọi doanh nghiệp.
Thật vậy,yếu tố giúp ta nhận biết đợc một doanh nghiệp có hoạt động
tốt hay không tốt, thành công hay không thành công chính là nguồn nhân
lực của doanh nghiệp đó,những con ngời có lòng nhiệt tình và óc sáng tạo.
Mọi thứ còn lại : may moc,thiết bị, của cải, vật chất, công nghệ,kĩ thuật

12

đều có thể mua đợc, học hỏi đợc,sao chép đợc,nhng con ngời thì không thể
.
Trong những năm qua, công tác quản trị nhân lực đã đợc cac doanh
nghiệp Việt Nam quan tâm hơn trớc. Mặc dù con nhiều bỡ ngỡ nhng họ đã
đạt đợc một số tiến bộ đáng khích lệ. Tuy vậy, để có thể xây dựng đợc một
chiến lợc quản trị nguồn nhân lực tối u, phù hợp với điều kiện thực tiễn
của một doanh thì việc tham khảo các mô hình quản trị nhân lực của các
tập đoàn lớn, những mô hình đẫ đi vào lịch sử đợc coi là nghệ thuật quản
trị nhân lực của thế giới, là một việc làm hết sức cần thiết. Vẫn biết rằng,
không có mô hình nào là hoàn hảo và có thể áp dụng thành công ở tất csr
mọi doanh nghiệp nhngcác doanh ngiệp Việt Nam hoàn toàn có thể thu
thập những u điểm từ những mô hình quản trị nhân lực ấy, để từ đó xác
định cho mình một hớng đi thích hợp. Việc áp dụng có chọn lọc,có cải tiến
một số phơng pháp sao cho phù hợp nhất với tình hình của doanh nghiệp
mình có thể đợc xem là cách thức hữu hiệu nhất khi các doanh nghiệp Việt
Nam bắt đầu tiếp cận với nền kinh tế thị trờng.
Trong bài viêt này, tôi muôn giới thiệu kinh nghiệm của một mô hình
quản trị nhân lực thành công,là mô hình quản trị của tập đoàn nổi tiếng
General electrics trên cơ sở đó đa ra một số đề xuất cho các doanh nghiệp
Việt Nam.
General electrics (GE) là một tập đoàn lớn của Hoa Kỳ. Trong năm liên
tiếp từ 1996 2001, GE luôn là công ty đứng đầu danh sách những
công ty đợc ngỡng mộ nhất do tạp chí Fortune bình chọn,đồng thời cũng
đứng đầu danh sách nay của tạp chí Financial Times trong 4 năm liên tiếp.
Có đợc thành tích đó có phần đóng góp không nhỏ của công tác quản trị
nhân sự vốn đã trở thành nghệ thuật của công ty này.
Nói đến nghệ thuật quản trị nhân sự của GE, không thể không nhắc đến
cựu Tổng giám đốc điều hành Jack Welch, ngời đợc coi là một trong
những CEO tai ba nhất thế giới. Trong hơn hai thập kỷ nắm giữ vai trò
CEO của GE, Welch đã làm tăng giá trị thị trờng của GE từ 13tỷ USD lên
gần 500 tỷ,ông cũng là ngời có công xây dựng những phơng pháp quản trị
nhân lực mới và đã áp dụng rất thành công tại GE một tập đoàn khổng
lồ với hơn 300,000 ngàn nhân viên ở nhiều nớc trên thế giới.
Nghệ thuật quản trị nhân sự của Jack Welch bắt đầu từ sự nhận biết
điểm khác biệt giữa các nhân viên . Theo ông, đây là điểm cơ bản trong
nghệ thuật quản trị nhân sự. Với việc nhận biết điểm khác biệt trong hoạt
độngu của các thành viên, công ty có thể khen thuêỏng nhnngx ngời giỏi,
sa thải những ngời làm việc không có hiệu quả. chính điều này đã giúp GE
phát hiện những tài năngvà những tài năng này đã góp phần xây dụng
nênmột GE vĩ đại.
13

Welch đã dần biến GE thành một công ty của con ngời theo cách gọi
của ông.Welch luôn mong muốn đa con ngời trở thành trung tâm của
GE,ông coi đay là nguồn lực quý giá cua công ty. Việc đanh giá các nhân
viên của GE dợc tiến hành hết sức nghiêm túc.
Ngoài ra, GE cũng là một công ty không ngừng khuyến khích các ý tởng mới từ phía nhân viên. Đối với một tập đoàn lớn, đa dạng nh GE ,ý tởng mới là yếu tố đảm bảo sự thành công.Một châm ngôn của GE là:
mỗi ngời một ý kiến .GE luôn tạo cơ hội cho nhân viên đợc nói lên tiếng
nói của mình, lắng nghe,tôn trọng những ý kiến đó và sẵn sàng biến bất kì
những ý tởng, giấc mơ nào có tính khả thi thành hiện thực.
GE cũng xây dựng trong tập đoàn mình một môi trờng học tập không
biên giới. GGE tận dụng lợi thế về quy mô và sự phân tán trong các ngành
kinh doanh khác nhau nh một nguồn không giới hạn cơ hội học tập, một
kho kiến thức ý tởng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu mà khó một công ty
nào khác có thể có đợc.Trung tâm của môi trờng này là sự nhận thức rõ
ràng rằng, công ty luôn mong muốn học hỏi không ngừng và sẵn sàng đa
ra các ý tởng đó vào thực tiễn một cách mau chóng. Đây chính là lợi thế
cạnh tranh rất lớn của GE.GE luôn khuyến khích mọi nguời nghĩ rằng, ở
đâu đó đang có một ngời có những ý tởng hay hơn và họ phải tìm cho ra
ngời đó và đa chúngvào thực hiện. Một công ty toàn cầu, kinh doanh đa
dạng tất nhiên có thể có nhiều kinh nghiệm cũng nh ý tởng; nhng những
kinh nghiệm ,ý tởng này chỉ có thể chuyển thành lợi thế cạnh tranh quan
trọng của công ty đó luôn khao khát có đợc ý tởng ,có trách nhiệm chia sẻ
chúng và nhanh chóng đua chúng vào thực hiện.
Có thể nói, quản trị nhân lực luôn là một công việc hết scs khó khăn và
phức tạp của mọi nhà quản trị, bởi lẽ nó gắn vơi những con ngời cụ thể
,với những hoành cảnh cụ thể, nguyện vọng,sở thích,năng lực và cảm xúc
riêng biệt. Muốn lôi cuốn, đọng viên và khai thác khả năng của những con
ngời nay,nhà quản lý phải tìm hiểu thế giới nội tâm của họ, phải nhạy cảm
và tế nhị trong giao tiếp, phải biết cách lắng nghe,biết đánh giá con ngời
một cách chính xác,khách quan và phải biết đối xử thật công bằng.
Mô hình quản trị của GE cho thấy, con ngời chính là nguồn lực quý giá
nhất của doanh nghiệp nói riêng, của đất nớc nói chung.Vì vậy, muốn xây
dựng đát nớc, đổi mới kinh tế trớc hết cần quan tâm xây dựng con ngời
mới xã hội chủ nghĩa ,hội tụ đầy đủ những yếu tố cần thiết nh đã nêu trong
Đại hội của ban chấp hành trung ơng Đảng lần 5.
Trong vài năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam bớc đầu đã quan
tâm đén hoạt động quản trị nhân lực. Tuy nhiên, để xây dựng đợc một
chiến lợc quản trị nhân lực thì trớc hết, các doanh nghiệp Việt Nam cần
14

phải tiến hành cải cách chế độ tiền lơng.Rất nhiều doang nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp nhà nớc vẫn tănglơng cho nhân viên của mình sau
một thời gian nhất định, theo một bảng lơng quy định sẵn. Điều này, xét ở
một khía cạnh nào đó, không khác mấy so với mức tăng tiêu chuẩn của
GE trong thập niên 60 mà Jack Welch đã phê phán. Chế độ tăng lơng nh
vậy đã phần nào làm giảm động cơ phấn đấu của nhân viên, vì họ biết rằng
sau một thời gian nhất định họ sẽ đợc tăng lơngnếu chỉ cần đảm bảo thực
hiện công việc theo đúng yêu cầu, cho dù có làm việc tốt hơn thì họ cũng
không thể có mức lơng cao hơn trong bảng lơng đã quy định sẵn.Nh vậy,
vấn đề đặt ra là, các doanh ngiệp phải đa tiền lơng thực sự trở thành động
cơ làm việc của nhân viên. Muốn làm đợc điều đó, tiênf lơng nên đợc gắn
liền với năng lực, với kết quả công việchơn là thâm niên công tác hay
quyền lực. Hệ thống tiền lơng, tiền thởngnên đợc trình bày một cách rõ
ràng, minh bạch, bảo đảm tất cả các nhân viên có thể hiểu và nắm đợc
những tiêu chuẩn để họ có thể phấn đấu đạt đợc mức lơng, mức thởng đó.
Thứ hai là, các doang nghiệp cần khuyến khích phát huy tinh thần sáng
tạo của đội ngũ nhân viên, có chế đọ khen thởng nhanh chóng, kịp thời,
điều này góp phần tạo dựng đựơc một môi truờng không ngừng phấn đấu
vơn lên trong công việc.Các doanh nghiệp cũng cần cung cấp cho nhân
viên mình những cơ hội học tập và rèn luyện để nâng cao hơn nữa kỹ năng
và kinh ngiệm của mình. Hiện nay, công tác đào tạo và đào tạo lại ở các
doanh nghiệp Việt Nam vẫn cha đợc quan tâm đúng mức. Đa số các
doanh nghiệp,việc đào tạo nhân viên mới chỉ đợc tiên hành đối với đội
ngũ nhân viên mới, còn việc đào tạo, bồi dỡng đội ngũ nhân viên hiện có
vẫn cha đợc chú trọng. Trong các doanh ngiệp, các nhân viên có tay nghề
cao tuy vẫn cha có ý thức truyền nghề cho những nhân viên tay nghề thấp,
song điều này vẫn chủ yếu mang tính tự phát, cha đợc tổ chức một cách có
quy củ và hiệu quả. Việc nâng cao tay nghề của nhân viên vẫn hầu hết là
tự đào tạo. Trong điều kện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nh
hiện nay, việc coi nhẹ công tác đào tạo có thể khiến các doanh nghiệp Việt
Nam trở nên tụt hậu, khó có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả trên thị
trờng.
Thứ ba là, các doanh nghiệp cần chú ý đến công tác đào tạo cán bộ
quản trị. Có một thực tế ở các doanh nghiệp Việt Nam là, một số nhân
viên trong các bộ phận, đặc biệt là bộ phận sản xuất, sau một thời gian
công tác tốt đợc đề bạt làm quản lý, nhân viên này thờng không có những
kiến thức về quản trị, nhng lại không đợc qua một lớp bồi dỡng cán bộ
quản lý nào. Và đơng nhiên, sau một thời gian công tác, họ có thể tự bổ
túc kiến thức, tích luỹ thêm kinh nghiệm cho mình, nhng điều này cần
nhiều thời gian và nhiêu khi không hiệu quả. Sẽ là tốt hơn, nếu các doanh
ngiệp quan tâm đào tạo những nhân viên này về mặt quản lý, điều nay sẽ
giúp họ nhanh chóng làm quen với các công việc mới cũng nh nhanh
chóng xây dựng đợc nhng phơng pháp quản trị phù hợp với bộ phận của
15

mình. Nội dung đào tạo cũng nên đợc xây dựng phong phú, không chỉ bao
gồm những nội dung liên quan đến kỹ năng, rèn luyện tay nghề, mà nên
có cả những nội dung liên quan đến việc tạo dựng các mối quan hệ, làm
việc theo nnhóm sao cho có hiệu quả nhất
Làm tốt công tác đào tạo cũng góp phần xây dựng một môi trờng học tập
không ngừng trong doanh ngiệp, khuyến khích nhân viên liên tụcphấn đấu
vì lợi ích của doanh ngiệp và của chính bản thân họ.
Thứ t là, các nhà quản trị cũng phải lu ý rằng, mỗi con ngời là một sự
khác biệt. Nhận biết sự khác biệt đó để khai thác và phát triển có hiệu
quả là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của nhà quản trị. Tuy nhiên, làm thế
nào để nhận biêts đợc sự khác biệt ấy lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
nh môi trờng kinh doanh, đặc điểm doanh nghiệp, đặc điẻm và mối quan
hệ của nhân viên và đặc biệt là tài năng của nhà quản trị. Nhà quản trị
phải nh một nhạc rởng biết phối hợp hoạt động của đội ngũ nhân viên một
cách hài hoà nhằm đem lại hiệu quả tối u.
Vấn đề đặt ra cho các doanh ngiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh
gay gắt nh hện naylà, phải thay đổi đợc quan niệm của mình về nguồn
nhân lực, xem đây thực sự là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp của
doanh ngiệp. Con ngời Việt Nam vốn chăm chỉ, cần cù sáng tạo. Bất kỳ
doanh nghiệp Việt Nam nào biết khai thác tốt những yếu tố này của con
ngời Việt Nam thì đều có cơ hội thành công rất cao không chỉ trên thị trờng nội địa, mà cả trên thị trờng quốc tế. Điều quan trọng là, các doanh
nghiệp Việt Nam phải xây dựng đợc cho mình một chiến lợc dài hạn để có
thể tìm ra những giải pháp phát triển nguồn nhân lực phf hợp nhất với
doanh nghiệp của mình. Có đợc một cái nhìn toàn diện sẽ giúp các doanh
nghiệp Việt Nam không chỉ riêng trong các hoạt động quản trị nhân sự,
mà trong tất cả các hoạt động khác của doanh nghiệp, giúp đảm bảo sự
thành công cho doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.
Không chỉ trong hoạt động của các doanh nghiệp, biết cách quản trị
nhân lực, biết phát huy nguồn lực con ngời sẽ giúp chúng ta vững vàng
tiến lên trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thành công
trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay.

Kết luậN
Thành tựu lý luận về nền kinh tế thị trờng ở nớc ta đợc kết tinh trong văn
kiện các Đại hội Đảng. Đó cũng là sự phản ánh thành tựu chung của giới
16