Tải bản đầy đủ
II. §Æng TiÓu B×nh - Nhµ l·nh ®¹o kiÖt xuÊt

II. §Æng TiÓu B×nh - Nhµ l·nh ®¹o kiÖt xuÊt

Tải bản đầy đủ

đã nhìn sang kinh nghiệm của người láng giềng Trung Quốc để học hỏi.
Nhưng dẫu sao họ vẫn đi trên hai con đường khác nhau.
1.Cải tổ thời Gorbachov
Tháng 12 năm 1978 khi ông Đặng đưa ra chương trình bốn hiện đại hóa,
Liên Xô dưới thời Bredjnev vẫn đang say sưa trong khẩu hiệu "hoàn thiện
chủ nghĩa xã hội chín muồi", họ nhìn sang Trung Quốc với cái nhìn đầy nghi
ngờ, thiếu thiện cảm và cho rằng đây lại là một trào lưu xét lại hậu Mao
Trạch Đông. Nhưng thực chất vào thời kỳ cuối thập kỷ 70, nền kinh tế cả hai
nước cộng sản hàng đầu, Liên Xô và Trung Quốc đều đã ở vào tình trạng
"thập tử nhất sinh". Người ta gọi Trung Quốc khi đó là con bệnh của Châu
Á, còn Liên Xô, núp sau khẩu hiệu "chủ nghĩa xã hội chín muồi" là một thời
kỳ mục ruỗng nhanh chóng. Điều khác biệt giữa hai nước chỉ là ở sự nhận
thức mà thôi. Ở Trung Quốc đã xuất hiện một thủ lĩnh dám nhìn nhận sai
lầm của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa,còn ở Liên Xô thì chưa.
Mãi đến khi Bredjnev chết, Gorbachov lên thay, Liên Xô mới dám thừa
nhận những yếu kém của chủ nghĩa cộng sản và phát động một quá trình
thay đổi với những khẩu hiệu: "cải tổ", "đổi mới". Nhưng con đường cải tổ
của Liên Xô khác với Trung Quốc, nó bắt đầu từ những cải tổ về chính trị,
và sau đó mới là kinh tế. Ở Liên Xô người ta cho phép một chút tự do ngôn
luận, còn ở Trung Quốc thì hoàn toàn nghiêm cấm ngôn luận tự do. Đó là
điểm khác biệt duy nhất trong đường lối cải tổ của hai nước.
Những điểm tương đồng giữa đường lối cải tổ của hai nước xem ra không ít.
Thứ nhất, cả hai người thủ lĩnh, Đặng Tiểu Bình và Gorbachov đều tin
rằng chủ nghĩa cộng sản có thể thay đổi mà không đánh mất bản chất của
mình. Đặng Tiểu Bình kêu gọi dân chúng "Hãy làm giầu", còn Gorbachov

4

thì cho phép nhiều hình thức sở hữu, nhưng cả hai đều không từ bỏ chủ
nghĩa cộng sản.
Thứ hai nữa, cả Đặng và Gorbachov đều nhìn thấy sự nguy hiểm của
những người Mác xít chính thống trong đảng sẽ tìm cách chống đối đường
lối cải cách, và cả hai đã tìm cách để ngăn chặn làn sóng phản đối này. Ở
Trung Quốc đó là vụ hạ bệ Đặng Litsiun, người đã chỉ trích những cải cách
của Đặng Tiểu Bình sẽ dẫn đến quá trình tư hữu hóa toàn bộ các công ty
quốc doanh, và đảng cộng sản sẽ hoàn toàn mất khả năng kiểm soát xã hội.
Còn ở Nga đó là vụ hạ bệ Egor Ligachov.
Thứ ba nữa, khi có những dấu hiệu đe dọa hệ thống chính quyền cộng sản,
cả hai nhà cải cách đều không ngần ngại sử dụng bạo lực để dập tắt. Ở Trung
Quốc đó là vụ thảm sát sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn vào năm
1989. Còn ở Liên Xô vào tháng 1 năm 1990 Gorbachov cũng không ngần
ngại đưa xe tăng vào đàn áp các cuộc biểu tình tại Baku, thủ đô của nước
cộng hòa Azerbaidjan.
Khác với Mao Trạch Đông, chủ trương cạnh tranh với Liên Xô trong hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Đặng Tiểu Bình thực tế hơn, ông chỉ chủ trương
củng cố và phát triển Trung Quốc. Chính vì thế Gorbachov đã bắt tay trở lại
với Trung Quốc trong thời kỳ của Đặng Tiểu Bình. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa
Gorbachov và Đặng Tiểu Bình tại Bắc Kinh tháng 5 năm 1989 đã trở thành
một cột mốc mới trong lịch sử ngoại giao giữa hai nước, sau một thời gian
dài đối đầu nhau.
2. Thời kỳ cải cách của Yeltsin
Nước Nga dân chủ ra đời đã tạo nên một nhiệm vụ mới cho các nhà lãnh đạo
ở đây. Làm thế nào để xóa bỏ những tàn tích của thời cộng sản, rút ngắn
khoảng cách về khoa học kỹ thuật với thế giới phương Tây và hội nhập vào
nền kinh tế thế giới. Trong suốt những năm cải tổ dưới thời Yeltsin, trong
5

giới lãnh đạo, luôn có một cuộc tranh cãi về hướng đi của nước Nga: theo
mô hình phương Đông kiểu Trung Quốc, hay theo mô hình của phương Tây
kiểu những chàng trai Chicago của Quỹ tiền tệ quốc tế. Nhưng có thể nói
rằng, dưới thời của Yeltsin, ông hoàn toàn không có ý định học hỏi kinh
nghiệm cải tổ của Trung Quốc, dù hàng năm Yeltsin vẫn có cuộc gặp gỡ với
Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình, và Yeltsin đã có những
cảm tưởng rất vui vẻ, tốt đẹp sau chuyến đến thăm Trung Quốc lần đầu tiên.
Những vấn đề mà nước Nga non trẻ gặp phải những năm đầu cải cách cũng
rất giống với những vấn đề mà Trung Quốc đã gặp phải: phải tiến hành tư
hữu hóa tài sản của nhà nước như thế nào? Vai trò của nhà nước trong thời
kỳ đổi mới nên thay đổi như thế nào? Làm thế nào để giải quyết những vấn
đề xã hội trong thời kỳ chuyển tiếp giữa hai nền kinh tế?...
Nhưng Yeltsin có hai lý do để không sử dụng những kinh nghiệm của
Trung

Quốc.

Thứ nhất, phong cách lãnh đạo của Yeltsin và Đặng Tiểu Bình hoàn toàn trái
ngược nhau. Phong cách của Yeltsin rất khó dự đoán, thường xuyên thay đổi
bất ngờ. Trong khi đó các chính sách của Đặng lại nghiêng về sự ổn định,
nhất

quán,

không

thay

đổi

đột

ngột.

Nguyên nhân thứ hai, cũng là nguyên nhân căn bản nhất khiến Yeltsin
không sử dụng mô hình Trung Quốc là vì Đặng Tiểu Bình mặc dù đạt được
những kết quả khả quan trong quá trình đổi mới kinh tế, nhưng về chính trị
thì ông chủ trương giữ vững mô hình cộng sản, hoàn toàn trì trệ, không có
một sự thay đổi nào. Trong khi đó, Yeltsin lại đi vào lịch sử nước Nga như
một chiến sỹ phá bỏ gông cùm cộng sản. Vấn đề ý thức hệ là một rào cản
không thể vượt qua được đối với Yeltsin. Và ông đã đi theo con đường của
mình.

6

3. Những cải tổ thời Putin
Những kinh nghiệm của Đặng Tiểu Bình bắt đầu được đánh giá cao, và
mang ra sử dụng ở nước Nga chính vào thời kỳ Tổng thống của Putin. Hôm
13 tháng 9 vừa rồi, Tổng thống Putin đã đưa ra đề nghị thay đổi hệ thống
quản lý ở Nga: Bãi bỏ hệ thống bỏ phiếu phổ thông bầu các tỉnh trưởng bằng
việc Tổng thống chỉ định các ứng cử viên, tăng cường quyền hạn của các cơ
quan an ninh, thay đổi nguyên tắc bầu hạ viện Đuma. Và như vậy có thể nói,
nước Nga đã trở về thời kỳ Liên Xô trước đây, hay đã thành một

Trung

Quốc ở châu Âu.
Có rất nhiều sự trùng lặp giữa đường lối cải cách của Putin và chính sách cải
cách của Đặng Tiểu Bình trước đây. Những sự trùng lặp thật khó có thể giải
thích là ngẫu nhiên. Năm nay Tổng thống Putin đưa ra chương trình tăng
gấp đôi tổng sản lượng thu nhập quốc dân trong vòng 10 năm, cũng như
trước đây Đặng Tiểu Bình đưa ra chương trình đến năm 1990 tăng gấp đôi
tổng sản lượng quốc nội. Tổng thống Putin cũng lấy sự ổn định chính trị làm
nền tảng cho quá trình cải cách, thậm chí sự dụng cả bàn tay sắt để giữ ổn
định trong nước, đưa ra mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tăng cường phát triển
khoa học, lôi kéo đầu tư ngoại quốc. Thậm chí cả những chiến dịch ồn ỹ
chống lại các nhà tài phiệt, chống các quan chức tham nhũng vừa qua ở Nga
cũng đã một thời xảy ra ở Trung Quốc. Có thể thấy kinh nghiệm của Trung
Quốc, đang được sử dụng sâu rộng ở nước Nga. Nhưng liệu các cải cách
theo mô hình của Đặng trong môi trường xã hội Nga có hiệu quả không thì
chưa ai có thể đoán trước được.
Có nhiều nhà kinh tế ở Nga cho rằng cần phải đặt mục tiêu phát triển kinh
tế lên hàng đầu, như mô hình Trung Quốc, thì mới có thể phát triển được
nền kinh tế đang trì trệ của nước Nga. Nhưng những ý kiến này đã nhanh
7

chóng bị đả kích và bị chìm vào im lặng. Nguyên nhân thật dễ hiểu, trước
đây Lênin cũng đã đưa ra chính sách kinh tế mới, ở đó nền kinh tế được
nhận đôi chút tự do, cởi mở, còn cả xã hội thì vẫn bị trói chặt. Kết quả là
kinh tế có phát triển, nhưng hạnh phúc như Lênin đã hứa hẹn thì người dân
Liên Xô vẫn không hề nhận được. Phát triển kinh tế chỉ có thể là phương
tiện, nhưng không thể là mục đích của phát triển xã hội, tự nó không mang
lại hạnh phúc cho dân chúng. Trên con đường phát triển, có thể một lúc nào
đó con người chấp nhận hy sinh những quyền lợi tự do cá nhân để lo những
vấn đề cơm áo gạo tiền của đời sống, đó là thời điểm mà Đặng Tiểu Bình đã
nắm được, và lái Trung Quốc vào quỹ đạo đó. Còn nước Nga đã đi vào một
quỹ đạo khác, hòa nhập vào dòng phát triển theo kiểu nhân bản của Phương
Tây, ở đó những giá trị tự do căn bản của con người được đặt lên cao nhất.
Nếu lúc này lại gò ép nước Nga theo mô hình của Trung Quốc thì chẳng
những nó không mang lại lợi ích mà là một bước thụt lùi trên con đường
phát triển.
Nước Nga cần phát triển kinh tế để giải quyết những vấn đề xã hội của
mình. Nhưng nếu đi theo con đường của Trung Quốc thì những vấn đề ấy sẽ
lại sẽ càng tăng thêmnữa

8

.

III. Mười cảnh báo của Đặng Tiểu Bình
1. Việc phân phối thu nhập quốc dân phải khiến tất cả mọi người đều
hưởng lợi
Chúng ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc phân phối thu nhập quốc dân phải
khiến tất cả mọi người đều được hưởng lợi, không có người quá giàu, cũng
không có kẻ quá nghèo, mức sống tốt đẹp phải là phổ biến. (dẫn từ vấn đề đại
đoàn kết của dân tộc Trung Hoa”, 1986)
2. Nếu đưa đến phân hoá lưỡng cực, TQ có thể xảy ra mầm loạn
Cộng đồng giàu có, đó là điều chúng ta đã nói tới ngay khi bắt đầu cải cách, rồi
trong tương lai sẽ có ngày nó trở thành vấn đề trung tâm. CNXH (chủ nghĩa xã
hội) không phải làm một thiểu số người giàu lên, mà phần lớn người thì nghèo
khó, không phải là kiểu đó.
Tính ưu việt lớn nhất của CNXH phải là cùng nhau giàu có. Đó là một thể hiện
của bản chất CNXH. Nếu làm cho lưỡng cực (hai cực giàu, nghèo-ND) phân
hoá, tình hình sẽ khác, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giữa các khu vực, và mâu
thuẫn giai cấp đều sẽ phát triển, rồi mâu thuẫn trung ương với địa phương cũng
sẽ phát triển, có thể xẩy ra mầm loạn.(“Tận dụng thời cơ giải quyết vấn đề phát
triển”,1990)
3. Nếu như cải cách dẫn đến phân hoá lưỡng cực thì cải cách đã thất bại
Hiện nay chúng ta làm bốn hiện đại hoá, đó là làm bốn hiện đại hóa của CNXH,
chứ không phải là thứ hiện đại hóa nào khác. Mục đích của xã hội chủ nghĩa là
để nhân dân cả nước cùng giàu có, chứ không phải là phân hoá lưỡng cực.
Nếu chính sách của chúng ta mà dẫn đến phân hoá lưỡng cực, thì chúng ta đã
thất bại rồi; Chúng ta đề xướng một vài khu vực giàu có lên trước, là nhằm
khích lệ và kéo theo những khu vực khác cùng giàu có lên.

9

Đề xướng một bộ phận người trong dân giàu có lên trước, cũng là với lẽ tương
tự. (“Phải có lý tưởng, có kỷ luật mới có đoàn kết thật sự”,1985)
4. Cuối thế kỷ 20 là thời điểm phải nỗ lực thực hiện giải quyết vấn đề phân
hóa lưỡng cực. Đi theo con đường chủ nghĩa xã hội tức là từng bước thực
hiện cộng đồng giàu có.
Đi con đường CNXH tức là phải từng bước thực hiện cộng đồng giàu có. ý
tưởng cùng nhau giàu lên được đề xuất như thế này: Một số vùng miền có điều
kiện cứ phát triển trước, một số vùng miền khác thì phát triển chậm đi một chút,
những khu vực phát triển trước kéo theo những khu vực phát triển sau, để rồi
cuối cùng đạt tới sự giàu có chung.
Nếu để giàu cứ càng giàu, mà nghèo thì ngày một nghèo, sẽ sản sinh phân hoá
lưỡng cực, lẽ ra chế độ xã hội chủ nghĩa phải, và có thể tránh được phân hoá
lưỡng cực…
Có thể, đến cuối thế kỷ(thế kỷ 20-ND), khi đạt tới mức sống khá giả là phải đưa
ra và làm nổi bật việc giải quyết vấn đề này.(“Bài nói chuyện ở Thẩm Quyến và
các thành phố duyên hải”,1992)
5. Đô thị có phồn hoa bao nhiêu đi nữa, mà khu vực nông thôn không ổn
định là không thể được
TQ có tới 80% nhân khẩu sống ở nông thôn, TQ có ổn định hay không, trước hết
phải nhìn vào cái 80% này có được ổn định hay không. Thành phố có đẹp đến
đâu đi nữa, mà không có được nông thôn ổn định này là không thể được.(“Xây
dựng CNXH mang màu sắc TQ”, 1984)
6. Ngành tư tưởng văn hoá, giáo dục, y tế, phải lấy hiệu ích xã hội làm
chuẩn mực duy nhất cho mọi hoạt động
Cái khuynh hướng “hướng tất cả lên đồng tiền”(đồng âm với “hướng tất cả lên
phía trước”trong tiếng TQ-ND), đem thương mại hoá các sản phẩm tinh thần,
cũng đã xuất hiện ở các mặt của sản xuất tinh thần rồi. (Trích dẫn từ “nhiệm vụ
bức thiết của Đảng trên mặt trận tổ chức và mặt trận tư tưởng”, 1983).

10

Các ngành tư tưởng văn hoá, giáo dục, y tế đều phải lấy hiệu quả xã hội làm
chuẩn mực duy nhất cho mọi hoạt động, các đơn vị trong ngành cũng phải lấy
hiệu quả xã hội làm chuẩn mực tối cao.(Trích dẫn từ phát biểu tại đại hội toàn
quốc Đảng cộng sản TQ1985)
7. Nếu như không giải quyết tốt vấn đề giáo dục, là hỏng mất việc lớn, sẽ
phải chịu trách nhiệm với lịch sử
Chúng ta đã nói nhiều lần rằng, đến ngày kiến quốc trăm năm (năm 2049-ND),
nền kinh tế TQ có thể tới gần mức của các quốc gia phát triển. Chúng ta nói vậy,
một trong những căn cứ là trong đoạn thời gian ấy, chúng ta hoàn toàn có thể
đưa nền giáo dục đi lên, nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật của ta, đào tạo được
đến trăm triệu nhân tài các cấp, các loại.
Sự cường nhược của quốc gia, quốc lực và tầm cỡ phát triển của kinh tế chúng
ta, càng ngày càng quyết định bởi tố chất người lao động, quyết định bởi số
lượng và chất lượng của đội ngũ trí thức.
Một nước lớn trên tỷ người, nền giáo dục được đưa lên, ưu thế to lớn của nguồn
lực nhân tài là không có quốc gia nào bì nổi. Khi có được ưu thế nhân tài, cộng
với chế độ xã hội chủ nghĩa tiên tiến, mục tiêu chúng ta cầm chắc sẽ đạt được.
Trung ương đề xuất phải nắm giáo dục với sự nỗ lực cực lớn, và phải nắm ngay
từ cấp tiểu và trung học, đấy là một chiêu có tầm nhìn chiến lược. Nếu giờ đây
không đề xuất nhiệm vụ này với toàn Đảng, là hỏng mất việc lớn, sẽ phải chịu
trách nhiệm với lịch sử.
Vẫn còn một bộ phận đồng chí kha khá, bao gồm cả một số cán bộ cao cấp, nhận
thức không đầy đủ, thiếu cảm giác bức xúc đối với tính tất yếu của phát triển và
cải cách giáo dục, hoặc ngoài miệng thì thừa nhận giáo dục là quan trọng, nhưng
đến khi giải quyết vấn đề thực tế thì lại thành ra không mấy quan trọng nữa.
Nhà lãnh đạo coi nhẹ giáo dục, là nhà lãnh đạo thiếu tầm nhìn, thiếu chín chắn,
sẽ không lãnh đạo nổi công cuộc xây dựng hiện đại hoá. Đối với công tác giáo
dục, các cấp ủy đảng và chính quyền không những phải nắm, mà phải nắm chặt,

11

nắm tốt, ít nói suông, phải làm nhiều việc thực. (“Phải nắm cho tốt công tác giáo
dục”1985)
TQ có xẩy ra vấn đề gì, vẫn sẽ là xẩy ra trong nội bộ Đảng cộng sản. (Trích dẫn
từ bài nói chuyện ở Thâm Quyến và các tỉnh duyên hải 1992)
8. Tất cả mọi cải cách rốt cuộc có thành công hay không, vẫn là quyết định
ở việc cải cách thể chế chính trị
Nếu không làm cải cách thể chế chính trị thì không thể thích ứng với tình hình
được. Cải cách, là phải bao gồm cả cải cách thể chế chính trị, và cũng nên lấy nó
làm một tiêu chí của sự thúc đẩy công cuộc cải cách tiến lên. (Dẫn bài nói
chuyện sau khi nghe báo cáo tình hình kinh tế 1986)
Cải cách thể chế chính trị với cải cách thể chế kinh tế phải dựa vào nhau, phối
hợp với nhau. Chỉ làm cải cách thể chế kinh tế, không làm cải cách thể chế
chính trị, thì không thể làm được, bởi vì sẽ gặp phải trở ngại trước hết đến từ
con người.
Công việc phải do con người làm, anh đề xướng trao quyền, nhưng chỗ khác lại
giữ quyền không buông, anh làm thế nào được? Từ góc độ này mà nói, mọi cải
cách của chúng ta rốt cuộc có thành công hay không, vẫn là quyết định bởi việc
cải cách thể chế chính trị. (“Phải xác lập quan niệm pháp chế trong toàn dân”,
1986)
Muốn có được phát triển, nhất thiết phải giữ vững hướng đi đối ngoại mở cửa,
đối nội cải cách, bao gồm cả cải cách trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc, và
thể chế chính trị. (“Kiên trì chính sách cải cách mở cửa”, 1987)
9. Việc cải cách thể chế chính trị sẽ đụng tới lợi ích của rất nhiều người, sẽ
vấp phải rất nhiều trở ngại
Khi đề xuất cải cách, là bao gồm cả cải cách thể chế chính trị. Nay trong mỗi
bước tiến của cải cách thể chế kinh tế, chúng ta đều cảm nhận sâu sắc tính tất
yếu của việc cải cách thể chế chính trị.

12

Không cải cách thể chế chính trị, là không bảo đảm được thành quả của cải cách
thể chế kinh tế, không đưa cải cách thể chế kinh tế tiếp tục đi lên, sẽ cản trở sự
phát triển của sức sản xuất, cản trở việc thực hiện bốn hiện đại hóa…
Phải thông qua cải cách, để giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp trị và nhân trị,
xử lý cho tốt mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền. Không tiến hành cải cách
thể chế chính trị, việc cải cách thể chế kinh tế khó mà quán triệt. (“Về cải cách
thể chế chính trị”, 1986)
Nói đến cải cách là nói tới một cuộc cải cách toàn diện, bao gồm cải cách thể
chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị và cải cách ở các lĩnh vực tương ứng
khác…
Mỗi một biện pháp cải cách thể chế chính trị đều liên quan đến hàng ngàn hàng
vạn con người, chủ yếu là liên quan đến đông đảo cán bộ, chứ không chỉ là lớp
già chúng tôi. (“Phải tăng nhanh bước đi của cải cách”, 1987).

IV. TÍNH BẤT BIẾN VÀ KHẢ BIẾN TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC
Trong diễn văn đọc tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 1-10-1949 khai sinh
ra nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố rằng nhân dân
Trung Quốc cuối cùng cũng đã đứng lên. Nước Cộng hòa non trẻ được thành lập
và bắt đầu tham gia vào những mối quan hệ với các nước khác trên thế giới. Học
giả Carol Lee Hamrin đã nhận xét, hành vi xử thế của một quốc gia trong cộng
đồng quốc tế cũng giống như của một con người trong một tập thể, và cũng
mang tính mục tiêu. Do đó, một nước như Trung Quốc cũng phải theo đuổi
những mục tiêu tương xứng với tầm cỡ của dân số và lãnh thổ, cũng như chiều
sâu lịch sử và văn hóa. Các nhân tố nội tại kể trên, tuy vậy cũng chưa đủ bởi vì
các nước khác cũng có mục tiêu và tham vọng của họ. Chính vì thế, các nhân tố
bên ngoài cũng có tầm quan trọng của nó. Như vậy, chính sách đối ngoại của
Trung Quốc và của bất kỳ một nước nào khác, cũng đều là sự kết hợp của những

13

mục tiêu dài hạn mà nó tự đặt ra cho mình với những thay đổi trong hoàn cảnh
quốc tế.
Xuất phát từ cơ sở trên, bài viết này sẽ tập trung so sánh chính sách đối ngoại
của Trung Quốc trong hai giai đoạn, cụ thể là từ năm 1949 đến năm 1976 và từ
năm 1976 đến nay, để tìm ra những mục tiêu dài hạn mà Trung Quốc phấn đấu
đạt được, cũng như những chuyển hướng trong chính sách đối ngoại trong quá
trình thực hiện những mục tiêu đó, qua đó có thể góp phần thấy rõ thêm tính bất
biến và tính khả biến trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ năm 1949
đến nay. Phân tích và đánh giá chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong một
giai đoạn lịch sử gần 50 năm trong khuôn khổ một bài báo ngắn là một việc khó
khăn và chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Ngoài ra, một số điều trong
lịch sử quan hệ quốc tế vẫn còn cần phải được làm sáng tỏ thêm. Tuy nhiên, tác
giả cũng xin mạnh dạn đưa ra ý kiến riêng của mình về một chủ thể phức tạp,
qua đó mong được tiếp thu nhiều ý kiến trao đổi và phản biện. Ngũ Tu Quyền,
nhà ngoại giao kỳ cực của Trung Quốc, từng lập luận rằng “chính sách đối ngoại
của một nước là sự tiếp nối, và hơn nữa, quán triệt và phục vụ chính sách đối nội
của nước đó”. Câu nói này dường như có thể áp dụng cho chính sách đối ngoại
của một quốc gia. Tuy nhiên, nếu áp dụng câu nói này vào Trung Quốc, ta sẽ
thấy chính sách đối ngoại của Trung Quốc có những đặc điểm riêng biệt.
Trước hết, đó là Trung Quốc có nhu cầu tái khẳng định mình là một nước lớn
trên thế giới. Từ năm 1949, nước CHND Trung Hoa bắt đầu công cuộc xây
dựng đất nước nhằm thoát khỏi một chương đen tối trong lịch sử hiện đại của
mình. Theo cách đề cập của chính sử nước này, Trung Quốc là một nước vĩ đại
với một nền văn minh lâu đời, nhưng bị các cường quốc phương Tây “làm
nhục”, kìm hãm không được phát triển, do đó “lạc hậu và bị thế giới coi thường”
Thứ hai, Trung Quốc ngay từ ngày đầu lập quốc đã phải bảo vệ sự tồn tại của
mình trong một bối cảnh thù địch tạo ra bởi cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới

14