Tải bản đầy đủ
Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

triển của đất nớc đợc mở ra _ thời kì tăng cờng sự kết hợp giữa tăng trởng kinh tế
với phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh. Sự kết hợp đó dựa trên một hệ quan
điểm. Một là, thúc đẩy sự kết hợp ấy ngay trong từng bớc đi ngay ở giai đoạn đầu
của quá trình phát triển. Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục đích phát triển
xã họi hoàn thiện mối quan hệ giữa nguời với ngời. Mỗi chính sách xã hội đều phải
có ý nghĩa thúc đẩy tăng trởng kinh tế xã hội. Hai là, bảo đảm cho mọi ngời dân
đều đợc làm chủ TLSX, đợc hởng nền giáo dục cơ bản, đợc bồi dỡng về nhân cách
đợc chăm sóc y tế, đợc hớng dẫn và đào tạo nghề nghiệp. Đặt mỗi cá nhân vào "bệ
phóng" bình đẳng trong những điều kiện ban đầu để vơn lên tự khẳng định mình. Ba
là, xã hội hoá mọi hoạt động nhằm huy động tối đa nguồn lực tạo sức mạnh vật chất
và tinh thần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống QHSX mới theo định hớng xã hội chủ
nghĩa cũng có nhiều chuyển biến: . . . Chế độ sở hữu cơ chế quản lí và chế độ
phân phối gắn kết với nhau giải phóng sức sản xuất, tạo ra động lực phát triển
mạnh mẽ thúc đẩy tăng trởng kinh tế thực hiện công bằng xã hội (3). Cả trong nhận
thức và hành động thực tế chúng ta đã dứt khoát chuyển hẳn nền kinh tế hiện vật
thuần nhất công hữu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế
Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Chức năng trực tiếp quản lí kinh doanh đợc chuyển
giao cho các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế theo kế hoạch định
hớng vĩ mô, phù hợp với cơ chế thị trờng. Ap dụng chế độ phân phối theo lao động
hết hợp với phân phối theo vốn, tài sản đóng góp vào kết quả quá trình kinh doanh
phân phối phúc lợi đã khuyến khích hớng làm giàu hợp pháp đồng thời bảo đảm lợi
ích chính đáng của ngời lao động.
Những kết quả đạt đợc mới chỉ là bớc đầu còn rất khiêm tốn, song mấy năm
qua Nhà nớc và nhân dân ta sớm xây dựng đợc ý thức t duy mới và có nhiều hành
động thực tế kết hợp tăng trởng kinh tế với phát triển mối quan hệ giữa con ngời với
con ngời hớng tới sự tiến bộ bình đẳng và công bằng xã hội.
(3)

Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

16

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

4. Những điều còn tồn tại trong việc vận dụng quy luật
Trong nền kinh tế nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện
nay, Đảng và Nhà nớc đã đa ra các đòng lối chính sách vận dụng quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp trình độ phát triển lực lợng sản xuất trong phát triển kinh tế và đã
đạt đợc những thành tựu bớc đầu quan trọng. Tuy nhiên, là một mô hình kinh tế
hoàn toàn mới, thời gian đa vào thực hiện cha đợc bao lâu nên còn nhiều tồn tại
trong việc vận dụng quy luật để phát triển kinh tế.
Tốc độ và chất lợng phát triển kinh tế cha xứng với tiềm năng. Các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh có mức tăng trởng cao và hoạt động có hiệu quả nhất nhng vẫn cha khai thác hết tiềm năng. Doanh nghiệp nhà nớc có nguồn vốn lớn, đội
ngũ cán bộ lao động có trình độ tay nghề cao nhng hiệu quả sản xuất kinh doanh
thấp, tốc độ tăng trỏng cha cao, cha tơng xứng với nguồn vốn và lao động mà nhà
nứoc đầu t. Kinh tế tập thể mặc dù đã đựoc cải tổ và có những khởi sắc sau Nghị
quyết TW III - khoá IX nhng lực lợng sản xuất vẫn còn yếu, số Hợp tác xã làm ăn
khá còn ít, số làm ăn trung bình và yếu chiếm tỉ lệ lớn.
Hầu hết các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều đang phải đối mặt với
sự yếu kém, cũ kỹ lạc hậu của thiết bị công nghệ. Phần lớn công nghệ mà các doanh
nghiệp đang sử dụng có nguồn gốc từ những năm 60 70 của thế kỷ XX, thậm chí
còn có cả công nghệ của những năm đầu thế kỷ XX vẫn còn đựoc sử dụng. Vì lực lợng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con ngời với tự nhiên, biểu
hiện trình độ sản xuất của con ngòi, năng lực hoạt động thực tiễn của con ngòi trong
quá trình sản xuất ra của cải vật chất, nên trong thời đại ngày nay, khoa học công
nghệ là lực lợng sản xuất chủ yếu. ở nớc ta hiện nay, khoa học công nghệ còn kém
phát triển, máy móc lạc hậu, mạng lói thông tin còn cha đợc phát triển và chi phí
cao so vói mức thu nhập bình quân đầu ngòi ở Việt Nam. Các chỉ số tiêu thụ điện,
công cụ lao động cơ khí, phơng tiện thông tin tính theo đầu ngời còn thấp. Đối tọng
lao động chủ yếu vẫn là đồng ruộng với những tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên
nớc ta. Ngời lao động, yếu tố quyết định nhất của lực lợng sản xuất thì điều kiện tái

17

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

sản xuất sức lao động còn nhiều hạn chế, lao động theo kỹ thuật và công nghệ tiên
tiến còn cách xa nhiều nớc trên thế giới. Trình độ lực lợng sản xuất kém phát triển,
năng suất lao động thấp lại hạn chế tận dụng sức lao động dồi dào, cha tạo đợc sự
thay đổi nhảy vọt căn bản đời sống nhân dân, do đó cũng cha tạo đợc thuận lợi cho
việc củng cố quan hệ sản xuất mới đã đựoc xây dựng trên phạm vi cả nớc trong 20
năm qua.
iii. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay

1. Những khó khăn trên con đờng phát triển đất nớc
Khó khăn thứ nhất là tiềm lực kinh tế nớc ta còn quá nhỏ bé, đầu t cho phát
triển còn ít Chất lợng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu còn
lớn . Kết cấu hạ tầng cha đáp ứng đợc yêu cầu hiện tại còn cách xa yêu cầu phát
triển kinh tế hiện đại. Trình độ thiết bị máy móc công nghệ lạc hậu chắp vá, không
đồng bộ. Vốn và vấn đề huy động vốn đang và sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn. Khả
năng cạnh tranh hàng hoá của ta do nhiều nguyên nhân vẫn trong tình trạng thấp,
cán cân xuất nhập khẩu mất cân đối.
Khó khăn thứ hai là việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần
lúng túng vừa buông lỏng, vừa nhiều bất hợp lí trong đIều tiết và phân phối thu
nhập.
Khó khăn thứ ba là tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực làm tổn hại nghiêm
trọng đến kỉ cơng phép nớc và trật tự xã hội.
Khó khăn thứ t là sự phân hoá giàu nghèo tăng nhanh đặt mối quan hệ giữa
các tầng lớp nhân dân vào tình trạng chứa đựng nhiều cách biệt bất bình đẳng,
khoảng cách giàu nghèo biên độ ngày càng tăng. Lãnh thổ miền núi nớc ta chia làm
ba miền khu vực. Riêng khu vực ba gồm các vùng sâu vùng xa chiếm 85% diện tích
thiên nhiên, 60% dân số vậy mà mức thu nhập bình quân bằng 34% mức trung bình
cả nớc.

18

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Khó khăn thứ năm là một số giá trị cao đẹp về quan hệ xã hội về truyền thống
Việt Nam, về con ngời Việt Nam đang bị xem nhẹ. Liên minh công nông trí thức,
khối đại đoàn kết rờng cột của dân tộc cha đợc phát triển ngang tầm với yêu cầu và
nhiệm vụ mới. Đành rằng khi nền kinh tế và hàng loạt yếu tố khác đã thay đổi thì
định hớng giá trị cũng thay đổi theo, đó là điều bình thờng và là lẽ đơng nhiên.
Xong cái không bình thờng ở đây là xuất hiện các mối quan hệ thất nhân tâm chà
đạp lên đạo lí, chạy theo cái lợi vật chất, sùng bái đồng tiền. Đó là những điểm đáng
lo ngại hiện nay.

2. Bài học từ sự bất hợp lí trong mối quan hệ quan hệ sản xuất và
lực lợng sản xuất
Đã có một thời nền kinh tế luôn luôn trì trệ. Mặc dù với nội lực và tiềm năng
đất nớc dồi dào và điều kiện đất nớc là một nớc nông nghiệp nhng thờng xuyên phải
đi vay, kêu gọi viện trợ lơng thực của nớc ngoài. Đó là hậu quả của việc không hiểu
rõ quy luật quan hệ sản xuất luôn luôn phải phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất. Sau chiến tranh thứ hai, Đảng và Cách mạng đã giành đợc chính
quyền và đứng lên lãnh đạo đất nớc. Do những hạn chế về kinh nghiệm và trình độ
giai cấp lãnh đạo lúc đó đã không nhìn rõ đợc trình độ lực lợng sản xuất của đất nớc
mình, do không nắm vững nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải luôn luôn phù
hợp với tính chất và trình độ lực lợng sản xuất, dẫn đến những sai lầm về việc ban
hành và quản lí đất nớc làm cho đất nớc rơi vào thời kì tụt hậu. Thực vậy sau cách
mạng thành công đất nớc còn nghèo nàn do sự tàn phá của chiến tranh, trình độ dân
trí kém 90% dân số không biết chữ, trình độ sản xuất lạc hậu Trong hoàn cảnh
đát nớc nh vậy mà giai cấp lãnh đạo lại đặt ra phơng pháp quản lí tập trung về t liệu
sản xuất. Các mục tiêu kế hoạch phát triển đều đợc lập từ trên xuống. Bên cạnh đó
còn thực hiện cơ chế bao cấp càng làm cho đát nớc suy thoái.
Qua bài học này Đảng và Nhà nớc cần nghiên cứu kĩ hơn về nội lực của mình
đẻ tránh lặp lại những khuyết điểm đã qua. Cần xây dựng một quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.

19