Tải bản đầy đủ
III. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay

III. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay

Tải bản đầy đủ

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

của mọi tầng lớp nhân dân
2. Đổi mới nâng cao nội lực điều hành của chính phủ

C - Kết luận

A - Giới Thiệu Đề Tài

3

21
22
24

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Theo ch ngha Mác Lênin thì t th s khai n nay loi ngi đã
không ngừng phát triển và đã tri qua 5 hình thái kinh t xã hi. Các hình thái kinh
t xã hi ó l: thi k Công xã Nguyên thu, thi k Chim hu nô l, thi k
Phong kiến, thời kỳ T bản Chủ nghĩa và thời kỳ xã hội Xã hội Chủ nghĩa. Trong
mỗi hình thái kinh tế đó xã hội đợc đặc trng bởi một phơng thức sản xuất nhất định.
Sự thay thế kế tiếp nhau của các phơng thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự
phát triển của xã hội loài ngời từ thấp đến cao. Trong mỗi phơng thức sản xuất lại
phải có sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất luôn tồn tại song song và tác động qua lại lẫn nhau để hình thành
lên phơng thức sản xuất. Đây là hai yếu tố quan trọng quyết định tính chất, kết cấu,
sự vận động và phát triển của xã hội.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng,
tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Trong quá trình xây dựng v phát triển đất n ớc, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa - đó chính là nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa này chịu sự tác động rất lớn của
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Kinh tế
thị trờng là thành tựu chung của văn minh nhân loại, nó là kết quả của sự phát triển
lực lợng sản xuất đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công lao
động xã hội, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, đồng thời nó là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện
nay có 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ,
kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế t bản t nhân, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Quá trình

4

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

phát triển của các thành phần kinh tế luôn luôn xảy ra mâu thuẫn, và một phần của
việc giải quyết các mâu thuẫn đó chính là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vào quá trình phát triển của nền
kinh tế nớc ta hiện nay. Mặt khác quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là một quy luật xã hội, nó mang tính khách
quan và luôn tác động ngoài nguyện vọng và ý chí của con ngời. Cho nên việc nhận
thức và vận dụng quy luật này vào các hoạt động có mục đích của mình là một
trong các nhân tố giúp con ngời làm chủ đợc tính tất yếu - nghĩa là con ngời đạt đến
tự do.
Tóm lại việc nhận thức và vận dụng quy luật sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vào thực tiễn là rất quan trọng. Vì
vậy, em chọn đề tài: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất và
sự vận dụng quy luật ở Việt Nam với mong muốn củng cố và mở rộng nhận thức
của bản thân về vấn đề này.

5

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

B - Nội Dung

I. Quan điểm và lí luận của Các- Mác
1. Quan điểm về Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất
1.1 Lực lợng sản xuất
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với giới tự nhiên
trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lợng sản xuất, thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của loài ngời. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời trong
quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của loài ngời.
Lực lợng sản xuất là sự kết giữa ngời lao động và t liệu sản xuất, trong đó
ngời lao động với tính cách là chủ thể của quá trình lao động, sản xuất đã sử dụng
sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng t liệu lao động mà trớc hết là công
cụ lao động, tác động vào đối tợng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng
với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con ngời ngày
càng đợc nâng lên, đặc biệt là trí tuệ cuả con ngời không ngừng phát triển, hàm lợng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật,
ngày nay lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu.
Cùng với lực lợng lao động, t liệu lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực
lợng sản xuất đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất. Trình độ phát triển công
cụ lao động vừa là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, vừa là tiêu
chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế kĩ thuật. Các Mác viết:
Thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ
chúng sản xuất bằng cách nào với những t liệu lao động nào(1). Cùng với sự phát
(1)

C. Mác T bản toàn tập - NXB Sự thật, trang 188

6

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

triển của khoa học kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến và hoàn
thiện. Đối với mỗi thế hệ thì những t công cụ lao động do thế hệ trớc để lại trở
thành xuất phát điểm cho thế hệ sau. Vì vậy, những t liệu lao động đó là cơ sở sự kế
tục của lịch sử. Chính sự kế thừa, cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao
động đã dẫn đến sự biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất. Và xét đến cùng thì đó chính là
nguyên nhân sâu xa cua mọi biến đổi xã hội.
Trong thời đại ngày nay khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó
vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lợng sản
xuất, đem lại sự thay đổi về chất của lực lợng sản xuất. Các yếu tố cấu thành lực lợng sản xuất tác động lẫn nhau một cách khách quan làm cho lực lợng sản xuất là
yếu tố độc nhất. Nó là yếu tố khách quan là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử
nhân loại. lực lợng sản xuất đợc kế thừa liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi
một thế hệ sinh ra đều thích ứng với trình độ lực lợng sản xuất của thế hệ trớc để lại
vì : lực lợng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời. Nhng bản
thân năng lực này bị quyết định bởi điều kiện trong đó ngời ta sống bởi lực lợng sản
xuất đã đạt đợc bởi hình thái trớc họ không phải do họ mà do thế hệ trớc tạo ra(2).
1.2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là tổng thể các mối quan hệ giữa con ngời với nhau trong
quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội), tổng thể những quan hệ đó tạo
thành hình thức kinh tế mà nhờ đó các nhân tố lực lợng sản xuất đợc kết hợp với
nhau để tạo ra sức sản xuất của xã hội. Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở
hữu đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản phẩm sản xuất,
quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra
nhng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc
ý muốn chủ quan của con ngời. C.Mác viết: Trong sản xuất, ngời ta không chỉ
quan hệ với giói tự nhiên. Ngời ta không thể sản xuất đợc nếu không kết hợp với
nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau.
Muốn sản xuất đợc, ngời ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với
(2)

C. Mac - Angghen tuyển tập, trang 141

7

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

nhau, và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất .Quan hệ xã hội là
hình thức xã hội của sản xuất. Ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo
thành một hệ thống mang tính ổn định tơng đối so với sự vận động, phát triển không
ngừng của lực lợng sản xuất. Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về
t liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản và đặc trng của hệ thống quan hệ sản
xuất, nó giữ vai trò quyết định đối với quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ
phân phối sản phẩm sản xuất ra.
Quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất thờng đợc phân tích trên hai
phạm vi: vi mô và vĩ mô. Vi mô ở tầm trang trại, công ty, cơ sỏ sản xuất còn vĩ
mô ở tầm điều tiết toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ này tác động trực tiếp đến quá trình
sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc
kìm hãm quá trình sản xuất. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu
quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu, tuy nhiên có trờng hợp nó
không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ về phân phối sản phẩm của quá trình sản xuất mà trong phân tích
hiện đại thờng có hai phơng thức: phân phối trực tiếp (trực tiếp cho các xí nghiệp,
doanh nghiệp) và phân phối lại (đóng thuế). Quan hệ này mặc dù do quan hệ
sở hữu về t liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý quá trình sản xuất chi phối,
song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con ngời, nên nó tác động đến thái độ
của con ngời trong lao động sản xuất và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản
xuất.

2. Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
2.1 Vị trí quy luật
Tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật về lịch sử (và đây là một tiền đề có
tính chân lý đã đợc kiểm nghiệm) là: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, và quy
luật cơ bản của sự vận động lịch sử là quy luật về mối quan hệ giữa lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất của xã hội hiện tồn.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị - Lời tựa
1859 C. Mác viết: Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con ngời ta có
những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc ý muốn của họ, tức là những
quan hệ sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất

8

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

định của lực lợng sản xuất của họ. Ngời ta thờng coi t tởng này của Mác là t tởng về Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất. Theo quan điểm duy vật, mọi quá trình vận động phát triển của xã hội
tuân theo các quy luật khách quan của xã hội chứ không phải ý muốn chủ quan, và
trong số các quy luật xã hội đó, quy luật này là quy luật quan trọng nhất về cấu trúc
phơng thức sản xuất, quá trình phát triển của phơng thức sản xuất.
2.2 Nội dung của quy luật
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy
luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài ngời, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính chất phụ
thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lợng sản xuất. Đến lợt
mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất. Quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy
luật cơ bản của sự phát triển của xã hội loài ngời. Sự tác động của nó trong lịch sử
làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã
hội khác cao hơn.
Trình độ lực lợng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của con ngời trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lợng sản xuất
biểu hiện trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động
của con ngời, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng
khoa học vao sản xuất.
Gắn liền với trình độ của lực lợng sản xuất là tính chất của lực lợng sản xuất.
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu sản xuất và lao động. Nó thể
hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và tính chất của lao
động là lao động riêng lẻ, những công cụ sản xuất nh búa, rìu, cày. . . do một ngời
sử dụng để sản xuất ra vật dùng không cần đến lao động tập thể, lực lợng sản xuất
có tính chất cá nhân. Khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm cần có sự hợp tác của nhiều ngời, mỗi ngời phải làm

9

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

một bộ phận công việc mới hoàn thành đợc sản phẩm ấy thì lực lợng sản xuất mang
tính chất xã hội hoá.

2.2.1 Những tác động của lực lợng sản xuất đến quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất hình thành,biến đổi và phát triển đều do lực lợng sản xuất
quyết định.
Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn,
con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh xảo hơn.
Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất,
thói quen lao động, kĩ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ.
Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố
tơng đối ổn định, có khuynh hớng lạc hậu hơn là sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nội dung của phơng thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là
hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì hình
thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung quyết định hình thức, nội dung thay đổi trớc,
sau đó hình thức mới biến đổi theo.
Cùng với sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng
hình thành và biến đổi phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Khi
một phơng thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất. Sự phù hợp này là một trạng thái mà trong đó quan
hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lợng sản xuất. Trong trạng thái đó tất
cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lợng sản xuất
phát triển. Điều đó có nghĩa là nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối u
giữa ngời lao động với t liệu sản xuất và do đó lực lợng sản xuất có cơ sở để phát
triển hết khả năng của nó.
Khi lực lợng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất cũ
không còn phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất

10

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

sẽ kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lợng sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lợng sản xuất để thúc đẩy lực lợng
sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới cũng có nghĩa là phơng thức sản xuất cũ mất đi, phơng thức sản xuất mới ra đời
thay thế. C. Mác đã viết : Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực
lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện
có...trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những
hình thức phát triển của lực lợng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng
xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội
. Nhng rồi quan hệ sản xuất mới này sẽ lại trở nên không còn phù hợp với lực lợng
sản xuất đã phát triển hơn nữa _ sự thay thế phơng thức sản xuất lại diễn ra.
2.2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lợng sản xuất
Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất
và trình độ của lực lợng sản xuất. Nhng quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực
lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tơng
đối và nó tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất : có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất thì
nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
Ngợc lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lợng sản xuất thì trở
thành chớng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Song sự tác dụng
kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan thì nó sẽ bị thay thế
bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất để thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu
thuẫn giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn. Nó phải

11

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con ngời . Trong xã hội có
giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng sản xuất
( thúc đẩy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ
thống của tổ chức, quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân
phối của cải ít hay nhiếu mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó ảnh hởng đến
thái độ của lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội ( con ngời ), nó tạo ra những
điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng
những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao
động. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm ba
mặt : quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phận phối. Chỉ trong chỉnh thể
đó quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy hành động nhằm phát triển
sản xuất.
2.2.3 Mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác
động qua lại lẫn nhau
Sự thồng nhất và tác động qua lại giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
xã hội hợp thành phơng thức sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này, sự
phát triển của lực lợng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất. Lực lợng sản xuất thờng xuyên vận động, phát triển, nên quan hệ sản
xuất cũng luôn luôn thay đỏi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lợng sản
xuất. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất làm
hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất. Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phơng thức
sản xuất.

II. THựC TRạNG QUá TRìNH PHáT TRIểN KINH Tế VIệT
NAM áP DụNG QUY LUậT quan hệ sản xuất PHảI PHù
12

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

HợP VớI TíNH CHấT Và TRìNH Độ CủA lực lợng sản
xuất
1. Đờng lối phát triển quan hệ sản xuất và lợng sản xuất theo
định hớng xã hội chủ nghĩa
Quá trình lãnh đạo đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã rút ra
những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng một trong những nguyên
nhân làm cho sản xuất chậm phát triển đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn là: Không nắm vững quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất. Từ đó Đảng ta đã rút ra đợc cốt lõi để
đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề gắn liền với cách mạng

quan hệ sản xuất với cách mạng khoa học kỹ thuật, chú trọng việc tổ
chức lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bớc đi thích
hợp. Đảng nhận thức rằng: Sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất không bao giờ phù hợp tuyệt đối không có mâu thuẫn, không
thay đổi. Sự phù hợp quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất không bao
giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dới những hình thức cụ
thể thích ứng với những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó trong thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế không còn là nền kinh tế t
bản nhng cũng cha hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy
công cuộc cải tạo chủ nghĩa phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách
quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong cải tạo xã hội cũ và xây
dựng xã hội mới.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất hiện có
để xác định bớc đi và những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn đợc coi là t tởng
chỉ đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên những điều kiện phát

13