Tải bản đầy đủ
Giai đoạn trước khi đổi mới

Giai đoạn trước khi đổi mới

Tải bản đầy đủ

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện quyền sở hữu ruộng đất cho nông
dân đã thực sự thành chủ ruộng đất. Nhà nước đem trên 81 vạn ha ruộng
đất chia cho 2.104.138 hộ nông dân (bằng 72,8% tổng số hộ ở nông thôn
phía Bắc) gồm 8.323.638 nhân khẩu. Ngoài ra nông dân còn được chia
1.846.000 nông cụ, 106.448 trâu bò và 148.556 nhà ở. Rõ ràng năm đó sức
sản xuất ở nông thôn được giải phóng và nhìn chung nông nghiệp ở miền
Bắc tạo được sự phát triển nhịp nhàng giữa LLSX và QHSX.
Do kết quả trong sản xuất nông nghiệp đạt được nhưng chúng ta chưa
tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi đã vội đưa nông dân vào con đường hợp tác
hóa, tập thể hóa nông nghiệp. Thế nhưng ta lại khẩn trương vận động nông
dân di ngay vào hợp tác hóa và tập thể hóa với những chủ trương nóng vội
duy chí và tưởng làm như vậy là rút gắn con đường phát triển nông nghiệp
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Nhận định của Đảng trong văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI:” Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan
nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết yêu cầu phát triển hơn nữa
của LLSX trong sản xuất theo hướng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ sang
sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu nhỏ, phân tán”. Bởi vậy trên cơ
sở nền sản xuất nhỏ mà đặc trưng chủ yếu của nó là LLSX thấp kém phải
xây dựng những hình thức của QHSX phù hợp từng bước đồng bộ.
1.2.Chủ trương của Đảng, Nhà nước và những thành tựu bước đầu
Sau một thời gian lúng túng tìm tòi, mò mẫm Đảng đã đúc rút kinh
nghiệm sáng tạo của quần chúng và nâng lên thành lý luận. Đảng đã chủ
trương đổi mới cơ bản, toàn diện về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp thể
hiện sự chuyển đổi về chất trong chủ trương đường lối của Đảng.
Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước tập trung vào sắp xếp, tổ chức lại
sản xuất nông nghiệp, phát huy mọi thành phần kinh tế dặc biệt là khẳng
định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đổi mới cơ cấu ký kết nông

9

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn, đổi mới và ban hành đồng bộ
hơn các chính sách vĩ mô nhằm tạo môi trường thuận lợi giải phóng mạnh
mẽ sức sản xuất.
Nhìn thấy kinh tế nông thôn trải qua nhiều biến đổi, Đảng và Nhà nước
ta đã quyết định đổi mới nền kinh tế với nhiều chủ trương quan trọng như:
+ Chỉ thị 100 của Ban bí thư về khoán sảp phẩm đến nhóm và người lao
động vào năm 1981.
+ Nghị quyết 10 của Bộ chình trị khóa 6 (5/4/1988),
+ Nghị quyết 5 của khóa 7(6/1993)
+ Lệnh của Hội đồng Nhà nước số 032LCT/HĐNN (8/1/1988) về công
bố Luật đất đai
+ Chỉ thị của Bộ chính trị số 47-CT/TW (31/8/1988) về việc giải quyết
một số vấn đề cấp bách về ruộng đất,
+ Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số
242/CTN ( 24/7/1993) công bố Luật đất đai
+ Thông tư số 15- NN- QL/TT(1/12/1988) hướng dẫn về đổi mới cơ chế
quản lý trong hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nhà nước.
Một số hệ thống về chủ trương chính sách
trên đã tác động mạnh đến nông nghiệp
và nông thôn, xác lập được căn cứ chính
trị, tư tưởng và môi trường pháp lý để giải
phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng
của hơn 10 triệu hộ nông dân theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa đạt
nhiều hiệu quả cao. Nhờ vậy, nông nghiệp Việt Nam đạt được nhiều thành
tựu: sản xuất nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, liên tục, mức tăng
bình quân hàng năm 4,5%; sản xuất lương thực đạt bình quân 23 triệu
tấn/năm; kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt trên dưới 1tỷ USD/năm;
10

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

2.Giai đoạn từ sau khi đổi mới đến nay
2.1.Nhận thức lại về CNXH của Đảng và Nhà nước
Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua những năm đổi
mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội
VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con
đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định: Cương lĩnh
là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng
bước quá độ lên CNXH, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và
trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước
Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu,
bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm
1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực
tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế
theo mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị
trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên
CNXH. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy
kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn
đầy sống động của Việt Nam.
Đại Hội của Đảng nhận định:” Tiêu chuẩn ăn bản để đánh giá hiệu quả
xây dựng QHSX theo định hướng XHCN là thúc đẩy phát triển LLSX, cải

11

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

thiện đới sống nhân dân thực hiện công bằng xã hội” với chủ trương:” vừa
phát triển LLSX vừa phải chăm lo xây dựng QHSX” nghĩa là luôn luôn
quan tâm hai mặt đó.
2.2.Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế
Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên
CNXH, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền
dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc
gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế".
Nước ta đang trải qua thời kỳ đặc biệt- thời kỳ quá độ lên CNXH và tính
quá độ thể hiện đầu tiên là ở QHSX.
Nền kinh tế quá độ ở nước ta hiện nay là nền kinh tế đa sở hữu: sở hữu
toàn dân (mang hình thức sở hữu Nhà nước); sở hữu tập thể của nông dân,
thợ thủ công; sở hữu cá thể; sở hữu tư nhân TBCN, sở hữu tư bản Nhà
nước; sở hữu của người hoặc tổ chức nước ngoài đầu tư vào nước ta. Các
hình thức đan xen, tác động qua lại lẫn nhau. Từ các hình thức sở hữu cụ
thể đã tạo nên nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Nói nhiều thành
phần kinh tế là nói một phương thức sản xuất theo đó có QHSX, LLSX
trong đó có người chủ sở hữu cụ thể. Nói xây dựng QHSX trong thực tiễn
là xây dựng các thành phần kinh tế nhiều thành phần quá độ lên CNXH.
Chúng ta nhận thức được sâu sắc rằng: Nhà nước ta là của dân, do dân,
vì dân mọi quyền lực về tay nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam. Nên trong việc xây dựng QHSX phù hợp với định hướng XHCN
thì trước hết và quan trọng hơn là chăm lo phù hợp định hướng XHCN thì

12