Tải bản đầy đủ
II. Quan hÖ s¶n xuÊt

II. Quan hÖ s¶n xuÊt

Tải bản đầy đủ

Quan hệ tổ chức quản lý.
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về t
liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả các quan hệ khác. Bản chất của
bất kỳ Quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những t liệu sản
xuất chủ yếu trong xã hội đợc giải quyết nh thế nào.
Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra. Song nó đợc hình thành một cách
khách quan, không phụ thuộc vào ý nuốn chủ quan của con ngời.
Quan hệ sản xuất mang tính chất ổn định tơng đối trong bản chất xã hội và
tính phong phú đa dạng của các hình thức biểu hiện.
III. Quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của Lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau, hình thành
quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài ngời: quy luật về sự phù hợp
giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất vạch rõ
tính chất phụ thuộc khách quan của Quan hệ sản xuất vào sự phát triển của Lực
lợng sản xuất. Đến lợt mình Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực lợng
sản xuất.
1. Tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất.
Tính chất của Lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu sản xuất và của lao
động. Nó thể hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và
tính chất của lao động là lao động riêng lẻ. Những công cụ sản xuất nh búa, rìu,
cày, bừa do một ngời sử dụng để sản xuất ra vật dùng không cần tới lao động
tập thể-Lực lợng sản xuất có tính chất cá nhân. khi máy móc ra đời đòi hỏi phải
có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm cần có sự hợp tác của
nhiều ngời, mỗi ngời làm một bộ phận công việc mới thành đợc sản phẩm ấy thì
Lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội hoá.
Trình độ của Lực lợng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động,
của kỹ thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của ngời lao động, quy mô
sản xuất, trình độ phân công lao động-xã hội. Trình độ Lực lợng sản xuất càng
cao thì sự phân công lao động càng tỷ mỉ. Trình độ phát triển của phân công lao
động thể hiện rõ ràng trình độ của các Lực lợng sản xuất.
2. Lực lợng sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất.
Xu hớng của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển, sự biến đổi bao giờ
cũng bắt đầu bằng sự biến đổi của Lực lợng sản xuất.
3

Trong qúa trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn
con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra những công
cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi, phát triển của công cụ lao động
thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa
học của con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố động nhất,
cách mạng nhất, còn Quan hệ sản xuất là yếu tố ổn định, có khuynh hớng lạc
hậu hơn sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất là nội dung, là
phơng thức, còn Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức, thì nội quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc
vào nội dung; nội dung thay đổi trớc sau đó hình thức thay đổi theo, tất nhiên
trong quan hệ với nội dung và hình thức không phải là mặt thụ động, nó tác
động trở lại đối với sự phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất cũng hình
thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng
sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho Lực lợng sản xuất phát triển mạnh
mẽ. Nhng Lực lợng sản xuất thờng phát triển nhanh, còn Quan hệ sản xuất có xu
hớng ổn định khi Lực lợng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, Quan hệ
sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai
mặt của phơng thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến xoá
bỏ Quan hệ sản xuất cũ, thay bằng Quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất
và trình độ của Lực lợng sản xuất, mở đờng cho Lực lợng sản xuất phát triển
.
3. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất.
Sự hình thành, biến đổi và phát triển của Quan hệ sản xuất phụ thuộc vào
tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, nhng Quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội mà Lực lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với
Lực lợng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản
xuất. Nếu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực
lợng sản xuất nó thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh. Nếu nó không phù hợp, nó
kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất, song tác dụng kìm hãm đó chỉ tạm
thời theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó sẽ bị thay thế bằng kiểu Quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất.
Sở dĩ Quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với Lực lợng sản
xuất(thúc đẩy hoặc kìm hãm); vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định
hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân
phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động- Lực lợng sản xuất chủ yếu của
xã hội; nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ
lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và
phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của Quan hệ sản
4

xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu Quan hệ sản xuất là một
hệ thống, một chỉnh thể hu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và
quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, Quan hệ sản xuất mới trở thành động
lực, thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
Lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, sự tác động
của quy luật này, đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản xuất: Công
xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ, với Lực lợng sản
xuất thấp kém, Quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, đời sống của họ phụ
tuộc vào săn bắt, hái lợm.
Trong qúa trình sinh sống, họ đã không ngừng cải tiến và thay đổi công
cụ(Lực lợng sản xuất), đến sau một thời kỳ Lực lợng sản xuất phát triển, quan hệ
cộng động bị phá vỡ, dần dần xuất hiện quan hệ t nhân. Nhờng chỗ cho nó là
một xã hội chiếm hữu nô lệ, với Quan hệ sản xuất chạy theo sản phẩm thặng d,
chủ nô muốn có nhiều sản phẩm, dẫn đến bóc lột, đa ra công cụ lao động tốt,
tinh xảo vào sản xuất, những ngời lao động trong thời kỳ này bị đối xử hết sức
man dợ. Họ là những món hàng trao đi đổi lại, họ lầm tởng do những công cụ
lao động dẫn đến cuộc sống khổ cực của mình, nên họ phá hoại Lực lợng sản
xuất, những cuộc khởi nghĩa nô lệ diễn ra khắp nơi.
Chấm dứt chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến ra đời, xã hội
mới ra đời, giai cấp thời kỳ này là dịa chủ, thời kỳ đầu giai cấp địa chủ nới nỏng
hơn chế độ trớc, ngời nông dân có ruộng đất, t do thân thể.
Cuối thời kỳ phong kiến, xuất hiện những công trờng thủ công và dẫn tới
Lực lợng sản xuất mẫu thuẫn với Quan hệ sản xuất, cuộc cách mạng t sản ra đời,
chế độ t bản thời kỳ này chạy theo giá trị thặng d và lợi nhuận, họ đa ra những
kỹ thuật mới, những công cụ sản xuất hiện đại áp dụng vào sản xuất, thời kỳ này
Quan hệ sản xuất là quan hệ sản xuất t nhân về t liệu sản xuất nên dẫn tới cuộc
đấu tranh gay gắt giữa t sản và vô sản, xuất hiện một số nớc CNXH. CNXH ra
đời quan tâm đến xã hội hoá công hữu, nhng trên thực tế CNXH ra đời ở các nớc
cha qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, chỉ có Liên Xô là qua thời kỳ t bản chủ nghĩa,
nhng chỉ là chủ nghĩa t bản trung bình.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
Lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kế
tiếp nhau từ thấp đến cao của phơng thức sản xuất.
4. Mối quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất.
Khi trình độ Lực lợng sản xuất còn thủ công thì tính chất của nó là tính chất
cá nhân. Nó thể hiện ở chỗ chỉ một ngời có thể sử dụng đợc nhiều công cụ khác
nhau trong qúa trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Nh vậy, tất yếu dẫn đến Quan
hệ sản xuất sở hữu t nhân(nhiều hình thức) về t liệu sản xuất.
5

Khi sản xuất bằng máy móc ra đời, trình độ sản xuất công nghiệp thì một
ngời không thể sử dụng đợc nhiều mà chỉ một công cụ, hoặc một bộ phận chức
năng. Nh vậy, qúa trình sản xuất phải nhiều ngời tham gia sản phẩm lao động là
thành quả của nhiều ngời, ở đây, Lực lợng sản xuất đã mang tính xã hội hoá, tất
yếu một Quan hệ sản xuất sản xuất thích hợp phải là Quan hệ sản xuất sở hữu về
t liệu sản xuất. Ănghen viết: Giai cấp t sản không thể biến t liệu sản xuất có
tính chất hạn chế ấy, thành Lực lợng sản xuất mạnh mẽ đợc, nếu không biến
những t liệu sản xuất của cá nhân, thành những t liệu sản xuất có tính chất xã
hội, mà chỉ một số ngời cùng làm mới có thể sử dụng đợc.
Quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện ở
chỗ:
Xu hớng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi, phát triển. Sự biến
đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của Lực lợng sản xuất
mà trớc hết là công cụ. Công cụ phát triển đến mâu thuẫn gay gắt với Quan hệ
sản xuất hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ Quan hệ sản xuất
cũ thay bằng Quan hệ sản xuất mới. Nh vậy, Quan hệ sản xuất vốn là hình thức
phát triển của Lực lợng sản xuất(ổn định tơng đối), Quan hệ sản xuất trở thành
xiềng xích kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất(không phù hợp). Phù
hợp và không phù hợp là biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng của Lực lợng sản
xuất và Quan hệ sản xuất, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn là bao hàm mâu
thuẫn.
Khi phù hợp cũng nh lúc không phù hợp với Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản
xuất luôn có tính độc lập tơng đối với Lực lợng sản xuất, thể hiện trong nội dung
sự tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất, quy điịnh mục đích xã hội của sản
xuất, xu hớng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành những yếu tố hoặc
thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất.
Sự tác động trở lại nói trên của Quan hệ sản xuất bao giờ cũng thông qua các
quy luật kinh tế cơ bản.
Phù hợp và không phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất là
khách quan và phổ biến của mọi phơng thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu quan
niệm trong CNTB luôn luôn diễn ra không phù hợp, còn dới CNXH phù
hợp giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất.

B Chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta
hiện nay
Vấn đề lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đợc đảng ta đặc biệt quan tâm . Điều đó không chỉ thể hiện sự quán triệt
lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và t tởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
mà còn thể hiện sự quan tâm trực tiếp đến lợi ích của cả dân tộc ta
Điều kiện khách quan tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở n ớc ta . Tác
6

động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đến toàn bộ nền Quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất thì Lực lợng
sản xuất phát triển thuận lợi, đồng thời kéo theo Quan hệ sản xuất cũng phát
triển. Con ngời có vai trò trong việc tác động đối với Lực lợng sản xuất và Quan
hệ sản xuất, nhng con ngời không thể tự sáng tạo, định hớng bất cứ hình thức
nào của Quan hệ sản xuất mà mình muốn vì rằng cái tất yếu phát triển của Quan
hệ sản xuất luôn luôn bị quy định bởi trạng thái của Lực lợng sản xuất.
Do nhận thức cha đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản
xuất và Quan hệ sản xuất trong công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ và xây
dựng Quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sức vận động gần nh cỡng bức nông
dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông trờng quốc doanh, các
nhà máy xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ Lực lợng sản xuất đang còn
thời kì quá thấp kém chúng ta đã tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận là đã có
Quan hệ sản xuất XHCN và còn nói rằng:mỗi bớc cải tạo Quan hệ sản xuất
cũ, xây dựng Quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của Lực
lợng sản xuất mới, Quan hệ sản xuất XHCN có khả năng vợt trớc mở đờng
cho sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Thực tế nhiều năn qua đã chứng minh
quan điểm đó là sai lầm. Sai lầm chủ yếu không phù hợp với tính chất và trình
độải ở chỗ chúng ta duy trì Quan hệ sản xuất lạc hậu so với sự phát triển của
Lực lợng sản xuất nh ngời ta thờng nói mà chủ yếu có những mặt của Quan hệ
sản xuất bị thúc đảy lên quá cao, quá xa một cách giả tạo làm cho nó tách rời
với trình độ thấp kém của Lực lợng sản xuất.Bởi vậy,nhận định trong đại hội lần
thứ VI là có căn cứ đẵ làm phong phú thêm lý luận biện chứng giữa Lực lợng
sản xuất và Quan hệ sản xuất Lực lợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp Quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi Quan hệ sản xuất phát triển không
đồng bộ có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của Lực lợng sản
xuất.
Để chứng minh cho quan niệm sản xuất đi trớc hoặc nói theo cách thời
bấy giờ là giải quyết mâu thuẫn giữa Quan hệ sản xuất tiên tiến với Lực lợng sản
xuất lạc hậu chúng ta đã ra sức xây dựng Lực lợng sản xuất một cách khẩn trơng
bằng cách đa ra khá nhiều máy móc vào các cơ sở sản xuất nông nghiệp mới
hình thành còn non yếu, què quặt nhằm xây dựng mô hình lâu dài công-nông
7

nghiệp trên địa bàn cấp huyện mà không tính đến khả năng quản lý trình độ, tổ
chức sử dụng của nông dân.
Thực trạng kinh tế ở nớc ta với nền nông nghiệp lạc hậu thì tính tất yếu phù
hợp với tính chất và trình độải cải tạo xã hội chủ nghĩa phát triển công nghiệp
quốc doanh, công nghiệp nặng chỉ nên coi nh mục đích lâu dài phù hợp với tính
chất và trình độải tiến tới chứ không coi nh một tất yếu trực tiép phù hợp với tính
chất và trình độải cải tạo ngay. Song chúng ta đã bất chấp thực tế khách quan mà
chỉ vin vào vai trò tích cực của nhân tố chính trị tởng rằng nhà nớc chuyên chính
vô sản, bằng những đờng lối chính sách và những hoạt động tích cực có thể tìm
cách giải quyết tốt nhất trong sản xuất và đời sống xã hội có khả năng chủ động
tạo ra Quan hệ sản xuất mới mở đờng cho Lực lợng sản xuất phát triển. Nhng
thực tế chúng ta đã không thể rút ngắn đợc những cơn đau của thời sinh đẻ nỗi
đau đó cứ kéo dài, dẫu sao cũng không thể nhảy qua các giai đoạn phát triển tự
nhiên hay dùng sắ lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó.
Quan điểm về Quan hệ sản xuất đi trớc là không đúng và nói đến quan hệ
sản xuất XHCN là nhấn mạnh việc xây dựng chế độ công hữu về t liệu sản xuất
và cơ chế thực hiện chế độ đó là phiến diện. đành rằng yếu tố này cơ bản nhng
không thể xem xét nhẹ Quan hệ quản lý và Quan hệ phù hợp với tính chất và
trình độân phù hợp với tính chất và trình độối. Phù hợp với tính chất và trình
độải thấy rằng Quan hệ sở hữu đợc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực sản xuất
trao đổi phù hợp với tính chất và trình độân phù hợp với tính chất và trình độối
và tiêu dùng của ngời lao động. Ngay cả việc xoá bỏ chế độ t hữu, thiết lập công
hữu về t liẹu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn là xong. Nhng dẫu có làm
đợc thì cũng không phải là mục tiêu trớc mắt của nớc ta mà chế độ công hữu này
cha thể phù hợp với Lực lợng sản xuất hiện có. Hơn nữa những thành phần kinh
tế khác có khả năng góp phần làm cho nền sản xuất phát triển. Một trong sai lầm
cơ bản mà chúng ta vấp phải là xoá bỏ quá sớm Quan hệ sản xuất TBCN, khi
nền kinh tế XHCN của chúng ta cha còn đủ sức thay thế. Điều đó ảnh hởng
không tốt đến sự phát triển của Lực lợng sản xuất và đã làm mất một khả năng
tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội. Cũng vậy, chúng ta xoá sạch tiểu thơng khi
hệ thốnh thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán của ta cha làm nổi vai
trò ngời nội trợ cho xã hội gây ra nhiều khó khăn ách tắc cho lu thông hàng
8

hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho nhân dân.
II. Đờng lối phát triển Quan hệ sản xuất và Lực l ợng sản xuất theo định
hớng XHCN.
Qua quá trình lãnh đạo xây dựng đất nớc đi lên CNXH, Đảng ta đã rút ra
những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân làm
cho sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là không
nắm vững Quan hệ sản xuất phù hợp với tích chất và trình độ phát triển của Lực
lợng sản xuất. Từ đó đảng rút ra cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật
bằng cách nêu vấn đề gắn liền với cách mạng Quan hệ sản xuất với cách mạng
khoa học- kỹ thuật, chú trọng việc tổ chức lại nền sản xuất xã hội để xác định
những hình thức và bớc đi thích hợp.
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản
xuất không bao giờ tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thay đổi, sự phù hợp
của Quan hệ sản xuất với Lực lợng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp chung
mà bao giờ cũng tồn tại dới những hình thức cụ thể, thích ứng với với những đặc
điểm nhất định với trình độ nào đó của Lực lợng sản xuất. Trong thời kì đi lên
của XHCN, nền kinh tế không còn là nền kinh tế t bản, nhng cũng cha hoàn toàn
là nền kinh tế XHCN. Bởi vậy công cuộc cải tạo XHCN phải chú ý đến đặc điểm
của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong cải tạo của
nền Quan hệ sản xuất cũ và xây dựng Quan hệ sản xuất mới, Đại hội VI đã nhấn
mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt, xây dựng chế độ sở hữu, chế độ quản lý
và chế độ phân phối, không chỉ nhấn mạnh việc xây dựng chế độ sở hữu mà bỏ
qua việc xây dựng hai chế độ kia. Không nên quá đề cao chế độ công hữu, coi
đó là cái duy nhất để xây dựng Quan hệ sản xuất mới. Thực tế chỉ rõ, nếu chế độ
quản lý và phân phối không đợc xác lập theo những nguyên tắc của CNXH và
trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất nhằm củng cố chế độ cônh hữu về t
liệu sản xuất mà còn cản trở Lực lợng sản xuất phát triển.
đối với chế độ quản lý, chế độ sở hữu về t liệu sản xuất có những quy định
gì?. Trớc tiên, nó qui định tính chất mục tiêu, phơng pháp của quản lý, đó là
quyền làm chủ của nhân dân lao động đối với việc tổ chức, quản lý nền kinh tế.
Làm sao cho mọi ngời lao động trong xã hội cùng là chủ t liệu sản xuất, có
quyền bình đẳng, hợp tác trong lao động sản xuất và trong lợi ích kinh tế. Thứ
hai là, cơ chế quản ký kinh tế dựa trên chế độ công hữu là phải có tính kế hoạch,
tính tập trung thống nhất. Văn kiện Đại hội VI cũng đã khẳng định điều này:
tính kế hoạch là đặc trng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của
thời kỳ quá độ.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa
Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất hiện
có, để xác định bớc đi và những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn đợc coi là
t tởng chỉ đạo công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ, xây dựng Quan hệ sản
xuất mới trên những điều kiện phát triển của Lực lợng sản xuất. Đại hội VI chỉ
rõ đảm bảo sự phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, luôn luôn
9

kết hợp chặt chẽ tạo Quan hệ sản xuất với tổ chức và phát triển sản xuất, không
nên nóng vội duy ý chí trong việc xác định trật tự bớc đi, cũng nh việc lựa chọn
các hình thức kinh tế, cần phải tạo nền sản xuất nhỏ, cá thể để đa nền sản xuất
từng bớc tiến lên sản xuất lớn. Trên cơ sở sản xuất nhỏ xây dựng những hình
thức của Quan hệ sản xuất phù hợp, từng bớc và đồng bộ. Rà soát lại quá trình
cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua, Đảng ta đã đa ra kết luận: Theo
quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển
của Lực lợng sản xuất, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có bớc đi và hình
thức thích hợp phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ
thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗi bớc đi của quá trình cải
tạo xã hội chủ nghĩa, phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật tạo ra
Lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa Quan hệ sản xuất lên hình thức
và quy mô thích hợp để thúc đẩy Lực lợng sản xuất phát triển.
Tóm lại, việc xây dựng và hoàn thiện Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
nhất thiết phải đảm bảo sự thích ứng đồng bộ giữa ba yếu tố của Quan hệ sản
xuất, cũng nh mối liên hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản
xuất.
III. Phát triển Lực lợng sản xuất và xây dựng Quan hệ sản xuất mới theo
định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hớng của Lực
lợng sản xuất quyết định. Do vậy trong quá trình xây dựng CNXH, việc phát
triển Lực lợng sản xuất, xây dựng Quan hệ sản xuất mới là nhiệm vụ cần thiết
khách quan.
1. Thực trạng nguồn lực của Lực lợng sản xuất ở nớc ta.
Chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong điều kiện
nền kinh tế còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn chiếm tỉ
trọng nhỏ, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngời thua quá xa so với các nớc trong khu vực.
Theo số liệu thống kê của Việt Nam lao động hoạt động chiếm gần 45% dân
số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 75%, công nghiệp chiếm 11%, còn lại
là ở trong các hoạt động dịch vụ khác.
Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000 đã đa ra các
thông tin dự báo về nguồn lực lao động: bớc vào thập kỷ 90 nớc ta có 66 triệu
dân, với 33 triệu ngời trong độ tuổi lao động. Đến năm 2000 có khoảng 80 triệu
dân với hơn 40 triệu lao động. Tình hình giáo dục cũng có những biểu hiện đáng
10

ngại, học sinh bỏ học hàng năm có xu hớng tăng lên, chất lợng giáo dục không
đảm bảo. Nếu nh giáo dục đại học một số nớc Đông Nam á đạt tỉ lệ 60-80 sinh
viên/10000 dân thì nớc ta tỷ lệ đó chỉ có 22 sinh viên/10000 dân.
2. Một số giải pháp phát triển Lực lợng sản xuất.
Nớc ta một nớc nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH trong điều kiện tiền vốn
ít, khả năng khoa học còn hạn chế và còn nhiều yếu tố khác quy định thì cha thể
đổi mới ngay Lực lợng sản xuất cũ bằng một Lực lợng sản xuất tiên tiến. Do đó
những yếu tố Lực lợng sản xuất truyền thống vẫn phải đợc duy trì và khai thác.
Trong hoàn cảnh hiện nay Lực lợng sản xuất bổ sung quan trọng là Lực lợng sản
xuất chuyển tiếp, cần phải sàng lọc trong Lực lợng sản xuất truyền thống những
yếu tố nào có giá trị để bổ sung cho việc xây dựng Lực lợng sản xuất hiện đại
cần phải kết hợp các yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, đảm bảo tính phủ
định có kế thừa, tiế thu có chọn lọc cho phép tạo nên một sự phát triển ổn định,
bình thờng của Lực lợng sản xuất, tránh đợc sự gãy gục trong tiến trình phát
triển đó.
Những tiến bộ to lớn của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật ngày nay cho
phép nớc ta có thể tranh thủ vận dụng trực tiếp những thành tựu Khoa học-kỹ
thuật, nhập khẩu t liệu sản xuất hiện đại, chuyển giao công nghệ qua liên kết
kinh tế và hợp tác kinh tế với nớc ngoài. Từ đó chúng ta có thể tạo nên sự kết
hợp những tiến bộ về Lực lợng sản xuất do đó tiếp thu có chọn lọc từ bên ngoài
với những cơ sở vật chất và Lực lợng sản xuất vốn có trong nớc, để đẩy nhanh và
rút ngắn thời hạn phát triển lịch sử tự nhiên của Lực lợng sản xuất, vơn lên kịp
trình độ của thế giới.
Con ngời tham gia vào quá trình sản xuất vừa với t cách là sức lao động, vừa
với t cách là con ngời có ý thức chủ thể của những quan hệ kinh tế. Trình độ văn
hoá, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của ngời lao động đói với
sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng và khai thác kỹ
thuật và t liệu sản xuất vốn có, để sáng tạo trong quá trình sản xuất. Angghen đã
nhấn mạnh muốn nâng cao sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đến mức độ
cao, mà chỉ có phơng tiện cơ giới và hoá học phù hợp thì vẫn cha đủ. Còn cần
phải phát triển một cách tơng xứng năng lực của con ngời, sử dụng những phơng
tiện đó nữa nghĩa là phải có sự phối hợp phát triển hài hoà các nhân tố khách
11

quan của Lực lợng sản xuất hiện đại.
Để tạo điều kiện cho con ngời chủ động,nhận thức và giải quyết những mâu
thuẫn giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, điều chỉnh và hoàn thiện
Quan hệ sản xuất để thông qua đó phát triển Lực lợng sản xuất, đồng thời muốn
tạo ra những động lực tích cực kích thích năng lực sáng tạo của ngời lao động thì
đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý phù hợp-cơ chế quản lý theo nguyên tắc hạch
toán kinh tế. Muốn giải phóng và phát huy triệt để nhân tố con ngời trong sản
xuất, trớc hết phải có chiến lợc về con ngời nhằm tạo ra những biến đổi tích cực
về cơ cấu và chất lợng công nhân. Việc cải cách giáo dục, bồi dỡng chuyên môn,
kỹ thuật và năng lực quản lý, việc ban hành và thực hiện các chính sách xã hội,
xây dựng môi trờng xã hội có bầu không khí dân chủ phù hợp với yêu cầu của
cuộc sống hiện đại và hớng tiến lên của xã hội, là những phơng tiện đa dạng
tronbg thống nhất để đi đến chỗ phát triển Lực lợng sản xuất.
IV- Xây dựng Quan hệ sản xuất mới theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
Lực lợng sản xuất luôn là yêu cầu đặt ra đối với mọi chế độ xã hội. Đối với nớc
ta đồng chí Tổng bí th Đỗ Mời đã khẳng định: Nếu công nghiệp hoá - hiện đại
hoá tạo nên Lực lợng sản xuất cần thiết cho chế độ mới thì việc phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống Quan hệ sản xuất phù
hợp
Đại hội VI của Đảng đã chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là
đúng. Bởi vì, nó biểu hiện sự lựa chọn những hình thức, bớc đi, giải pháp thích
hợp với trạng thái kinh tế hiện nay.
Đờng lối đó xuất phát từ trình độ và tính chất của Lực lợng sản xuất nớc ta
hiện nay vừa thấp, vừa không đồng đều nên không thể nóng vội nhất loạt xây
dựng Quan hệ sản xuất một thành phần, dựa trên cơ sở chế độ công hữu xã hội
chủ nghĩa về t liệu sản xuất nh trớc Đại hội VI. Làm nh vậy là đẩy Quan hệ sản
xuất đi quá xa so với trình độ Lực lợng sản xuất. Mở ra nền kinh tế nhiều thành
phần đã khơi đậy tiềm năng của sản xuất, xây dựng năng lực sáng tạo, chủ động
của các chủ thể lao động trong sản xuất, kinh doanh thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Thực tiễn mấy năm qua cho thấy, chính sách kinh tế nhiều thành phần đã
12

góp phần giải phóng và phát triển Lực lợng sản xuất, đa đến những thành tựu to
lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, Đại hội VIII khẳng định: Tiếp tục thực
hiện nhất quán lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp và cá
nhân trong nớc khai thác tiềm năng, ra sức đầu t phát triển...trong khi thực hiện
chính sách kinh tế nhiều thành phần, một mặt cần phải thoát ra khỏi sự trói buộc
của t duy cũ, những nhận thức không đúng trớc đây đối với các thành phần kinh
tế, không thấy hết vai trò tác động tích cực của các thành phần kinh tế cá thể, t
bản t nhân, t bản nhà nớc trong quá trình xây dựng CNXH, từ đó không chủ
động tháo gỡ những vớng mắc hoặc thiếu sự quản lý, hớng dẫn các thành phần
kinh tế này phát triển đúng hớng.

III. kết luận
Nh vậy, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất quả thật là quy luật cơ bản, quan trọng nhất
không những của kinh tế mà còn của cả lịch sử xã hội. Nó chỉ rõ tính chất phụ
thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lợng sản xuất
và đến lợt mình, quan hệ sản xuất cũng có những tác động trở lại đối với lực l13