Tải bản đầy đủ
Phần 2- Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

Phần 2- Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ

thành phố lớn. Có những địa phơng cha đủ 1% cán bộ khoa học kĩ thuật nhất là
vùng đồng bằng trung du miền núi. Tuy lực lợng này còn mỏng song thao đánh
giá của các nhà khoa học quốc tế thì đây lag lợc lợng có trình độ cao, họ đã
đánh giá cao những kết quả nghiên cứu nhng dã có nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến tình trạngbác chất xám, chảy máu chất xám hay lãng phí
chất xám. Đây là vấn đề nghiêm trọng, liên quan đến hng thịnh hay suy vong
của một dân tộc trong thời kì này.
Mặt khác, để nguồn nhân lực ngày càng đợc nâng cao và đạt tiêu chuẫn quốc tế
trong tơng lai thì trớc hết chúng ta cần phải quan tâm đến chất lợng giáo dụcđào tạo. Tuy sự nghiệp giáo dục nớc ta còn bộc lộ những mặt yếu kém:
Chất lợng giáo dục đào tạo đại trà ở các cấp bậc còn thấp. Đa số học sinh- sinh
viên quen cách học thụ động thiếu năng lực t duy độc lập sáng tạo và vận dụng
kiến thức kĩ năng vào sán xuất và đời sống. Một số sinh viên ít quam tâm đến
việc rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Thể lực đa số học sinh
sinh viên còn kém. Các điều kiện cơ bản để đảm bảo chất lợng còn bất cập nh
đội ngũ giáo viên thiếu về số lợng, cơ cấu không đồng bộ, chất lợng còn thấp,
phơng pháp giáo dục lạc hậu, phơng tiện giảng dạy thiếu thốn. Hiệu quả hoạt
động giáo dục thấp, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp cuối cấp so với đi học nhất là
vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Đào tạo đại học và giáo dục nghè nghiệp cha phù
hợp với nhu cầu về lao động xã hội, một số đáng kể những ngời tôt nghiệp
không làm đúng ngành nghề, thiếu tự giác, trung thực trong lao động, thiếu
trách nhiệmkhông tôn trọng quy trình kĩ thuật tham ô lãng phí nguyên vật liệu.
Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngời ở Việt Nam với những thế
mạnh cũng nh với những hạn chế. Cần phải có nội lực phi thờng bằng hoạt động
thực tiễn trong việc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp ghoáhiện đại hoámới có thể thực hiện và thành công đợc.

3. Nguyên nhân:
Trớc hết chúng ta cần phải hiểu nh thế nào là khái niệm CNH-HĐH? Nguồn
nhân lực là gì? Tại sao lại phải phát triển nguồn nhân lực trong quá trinh CNHHĐH ở Việt Nam hiện nay.
*Trớc hết chúng ta hãy cùng tìm hiểu về vấn đề CNH-HĐH :
Theo quan niệm trớc đây về CNH cho rằng CNH là đa đặc tính công nghiệp
cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nớc), các nhà máy, các loại
công nghiệp.
Theo định nghĩa công nghiệp hoá của nhà kinh tế Liên xô thì CNH là phát triển
đại công nghiệp, trớc hết là công nghiệp nặng, sự phát triển đó cần thiết cho
việc cải tạo toàn bộ nền kinh tyế quốc dẩntên cơ sở kĩ thuật tiên tiến.
Theo liên hiệp các quốc gia thì CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong
quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc
động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kĩ thuật hiện
đại.
Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hiện đại hoá nhằm thực hiện nhiều
mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu là phát triển kinh tế kĩ
8

thuật.
Còn theo quan niệm mới phù hợp với điều kiện nớc ta thì CNH-HĐH là qua
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công nghệ, xây dựng cơ
cấu vật chất kĩ thuật, là qua trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công
nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn nhờ đó tạo ra sự tăng trởng bền
vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. .
Nói tóm lại, CNH-HĐH là sự phát triển của lực lợng sản xuất từ thấp đến cao,
từ cha hoàn thiện sang hoàn thiện. Thực hiện CNH-HĐH là nhằm phát triển
kinh tế- xã hội đa nớc ta theo kịp các nớc tiên tiến trên thế giới.
* Tìm hiẻu nguồn nhân lực là gì?
Còn nguồn nhân lực đợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngời tích
luỹ đợc, có khả năng đem lại thu nhập trong tơng lai hay là tổng thể các tiềm
năng lao động của một nớc hay địa phơng sẵn sàng tham gia một công việc lao
động nào đó.
*Tại sao lại phải phát triển nguồn nhân lực trong CNH-HĐH hiện nay?
Trong quá trình CNH-HĐH ở nớc ta hiện nay, vấn đề phát triển nguồn nhân lực
nhằm đáp ứng xu thế chuyển sang nền kinh tế tri thức đợc các nớc u tiên với
những đặc trng đợc nhiều nhà nghiên cứu xác định:
Thứ nhất, nguồn nhân lực trong xã hội nhanh chóng đợc tri thức hoá.
Thứ hai, Sự chuyển dịch của lao động từ khu vực công nghiệp sang hoạt động
trong khu vực dịch vụ yêu cầu nhiều kiến thức nh đào tạo công nghệ, thiết kế
chế tạo kĩ thuật, công nghệ thông tin. viễn thông, ngân hàng, tài chính, kế toán.
thông tấn và báo chí, cung ứng lao động...
Thứ ba, Gia tăng nhanh cac tài sản vô hình( vốn trí tuệ) so với các tài sản vật
chất. Các nguồn lực đó bao gồm: vốn con ngời ( kiến thức chung- riêng), vốn
tổ chức (chuẩn mực- hớng dẫn, hệ thống tổ chức - quản lí, cơ sở dữ liệu, văn
hoá tập thể, tyhoả thuận hợp tác... ), vốn công nghệ ( bằng sáng chế, bí mật thơng mại, bản thiết kế công nghiệp... ), vốn quan hệ ( danh tiếng thơng hiệu... )
Thứ t, gia tăng đóng góp cuỉa kiến thức vào tăng trởng kinh tế- xã hội.
Thứ năm, lợi thế khả năng tìm việc làm, tiền công cao của lao động có kĩ năng
và đặc biệt là lao động có chuyên môn kĩ thuật cao.

9

Phần ba. Các giải pháp:
1. Chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài :
Nh chúng ra đã biết nguồn lực con ngời cùng với trí tuệ của họ là những yếu tố
quyết định đến sự thành công của quá trình CNH-HĐH đất nớc nhng nhìn lại
lại hiện trạng nguồn nhân lực ở nớc ta không khỏi có những suy nghĩ, lực lợng
lao động nớc ta tuy dồi dào, con ngời tuy cần cù lao động chịu khó sáng tạo nhng còn hạn chế về chất lợng.
Vì vậy muốn nâng cao chất lợng trong nguồn nhân lực thì phải có những giải
pháp thích hợp nhng cấp bách hơn cả là phải tiến hành cải cách, phát triển giáo
dục - đào tạo đó là yếu tố quyết định thúc đẩy đất nớc ta tiến nhanh lên CNHHĐH. Càn phải thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu , là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nớc và của toàn dân, tất cả thành viên của xã hội phải có trách
nhiệm đóng góp để phát triển giáo dục- đao tạo.
Trong khoảng năm năm phải phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong toàn quốc,
trung học phổ thông trong thành thi, khu công nghiệp, vùng đồng bằng đông
đân, mở rộng quan hệ hợp tác GD-ĐT, khoa học công nghệ với nớc ngoài.
Đồng thời phải tăng và sử dụng có hiệu quả ngân sách GD, nâng cao tỉ lệ chi
cho GD-ĐT trong ngân sách nhà nớc từ 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 và
20% năm 2010.
Đồng thời nhà nớc phải chăm lo đến đời sống của đội ngũ giáo viên, cải thiện
chế độ tiền lơng, tăng phụ cấp cho giáo viênđể giáo viên có thể nâng cao vị trí
xã hội của mình.
Thực hiện công bằng xã hội trong việc đào tạo giữ vai trò chủ đạo, nòng cốt
trong các trờng công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình đào tạo trên co sở
thống nhất quản lí để tạo cơ hội cho mọi ngời học tuỳ vào nhu cầu và hoàn cảnh
của mình. Cố gắng giảm chênh lệch và phát triển giáo dục giữa các vùng miền,
tieeu chuẩn hía và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học, có những chính sách
cải cách chế độ thi cử, tuyển chon tuyển dụng... để khắc phục tình trạng học để
thi, học vì bằng cấp, nạn bằng giả...
Mặt khác, cần nâng cao thể lực cho thanh niên. Mặc dù đây là vấn đề đòi hỏi
phải có thời gian để giải quyết trên cơ sở nâng cao dần mức sống của nhân dân
về vật chất cũng nh tinh thần.
Ví dụ nh ở Mĩ chỉ tiêu cho giáo dục phát triển nhân tài chiếm 7% GDP, đầu t
cho nghiên cứu phát triển chiếm 2, 8%GDP.

10

2. Cần đổi mới chính sách đối với những ngời làm khoa học:
Những ngời làm khoa học trớc hết là cũng là con ngời do đó họ cũng cần quan
tâm đến lợi ích cá nhân để sống, họ cần tiền nhng không chỉ vì tiền. Nếu họ có
tiền thì mọi công trình nghiên cứu sẽhực hiện đợc và chắc chắn sẽ có hiệu quả
rất lớn nhng vì không đợc trọng dụng và thậm chí bị coi thờng, phải nhận lơng
thấp hơn những lao động đơn giản, không đủ sống chính bằng nghề nghiệp của
mình cho nên tình trạng ngời làm khoa học có trình độ khá phải chuyển nghề
hoặc dành nhiều thời gian hơn cho công việc khác thực sự là một nguy cơ.
Vì vậy cần phải có chính sách hợp lí để cho đội ngũ cán bộ này có thể thực hiện
đợc những ý tởng sáng tạo phục vụ cho xã hội. Nếu không khắc phục sớm tình
trạng này thì nguy cơ sẽ trở thành thảm hoạ.
3. Nâng cao trình độ tri thức công nhân để thực hiện CNH-HĐH:
Trong thời đại ngày nay giai cấp công nhân là lực lợng trung tâm trong xã hội,
là giai cấp vừa đại diện cho ngời sản xuất mới, vừa là lực lợng cơ bản làm ra
của cải vật chất cho xã hội, là lực lợng chính cho việc thực hiện CNH-HĐH đất
nớc
Vì vậy tri thức hoá đội ngũ công nhân loà nhiệm vụ quan trọng bởi vì trình độ
học vấn và tri thức kha học của ngời Việt Nam còn thấp cha đủ đáp ứng nhu cầu
cho quá trình CNH-HĐH đặt ra. Do đó cần phải có những giải pháp để xây
dựng giai cấp công nhân trởng thành về mọi mặt.
Trớc hết là cần mở những lớp học thêm để nân cao tay nghề cho công nhân thực
hiện an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, tạo điều kiện cho công nhân có
cổ phần cho công ty, doanh nghiệp, bổ sung và hoàn chỉnh chính sách tiền lơng
cho công nhân, Nhà nớc cần phải quan tâm hơn tới chăm lo sức khoẻ vật chất
lẫn tinh thần cho ngời lao động.
4. Cải cách hành chính tạo một khuôn khổ pháp lí mới và nâng cao vai trò
của Đảng:
Nh thế mới có khả năng thúc đẩy mọi khả năng sáng tạo phù hợp với xu hớng toàn cầu mà nớc ta đang trong quá trình hội nhập. Vì khi cải cách hành
chính thì lúc đó những chính sáh sẽ thông thoáng hơn để những ngời lao động
có khả năng phát huy mọi năng lực. Mặt khác Đảng và nhà nớc ta cần phải xây
dựng chính sách đồng bộ nhằm thực hiện chiến lợc thắng lợi cho nguồn lực con
ngời trong CNH-HĐH
. Nh ALANS. BLINDER đã viết Công nhân không phải là thứ tự trên trời rơi
xuống. Nếu bạn thực sự quan tâm đến việc thúc đẩy tăng trởng thì đòn bẩy
quan trọng chính là việc hình thành nguồn nhân lực và công tác nghiên cứu
ứng dụng .
Thực hiện đợc những giải pháp và nhiệm vụ đặt ra ở trên là có nghĩa về cơ bản
nhà nớc ta đã hoàn thành công cuộc cách mạng con ng ời biến con ngời Viêtn
Nam trở thành nguồn nhân lực chủi yếu quyết định đa sự nghiệp CNH-HĐH
đất nớc đi đến thành công.

11