Tải bản đầy đủ
I. ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐÔI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

I. ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐÔI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

dạng, ở nhiều mức độ khác nhau trong từng mặt khác nhau của đời sống xã
hội. Ở một số người đã từng học nó ít nhiều thì có những mặt họ coi là đúng,
họ chịu ảnh hưởng một cách có ý thức. Còn ở phần đông, tư tưởng đạo Nho
sống dai dẳng dưới dạng nếp nghĩ, thói quen, thấm vào tư tưởng của họ từ rất
xa xưa. Phần lớn nhân dân Việt Nam mang trong mình tư tưởng Nho giáo
nhưng họ không xác định được bản thân đang bị ảnh hưởng bởi một học
thuyết nào đó. Những quan điểm họ mang được coi là đương nhiên, cách cư
xử của họ cũng được coi là một điều tất nhiên. Họ không cần suy tính nó
đúng đắn hay sai lầm. Điều này có ảnh hưởng rất xấu đến các thế hệ Việt
Nam hiện tại và sau này. Vì vậy chúng ta cần chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực
của tư tưởng Nho giáo đang tồn tại dai dẳng trong xã hội, để từ đó tìm ra
những biện pháp hữu hiệu nhằm xoá bỏ những mặt tiêu cực của tư tưởng Nho
giáo và phát huy những mặt tích cực của nó.
II.1.1 Nếp sống không thật sự dân chủ trong xã hội.
Một xã hội Xã hội chủ nghĩa là một xã hội trong đó nhân dân làm chủ mọi
tư liệu sản xuất rồi hưởng thụ theo lao động, là một xã hội của dân, do dân, vì
dân, phải là một xã hội thực sự dân chủ, hơn hẳn nền dân chủ tư sản. Việt
Nam là một quốc gia đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng
trong xã hội Việt Nam vẫn tồn tại những nếp sống không thực sự dân chủ.
Như tất cả chúng ta đều biết, một nền dân chủ chân chính phải xây dựng
trên cơ sở kinh tế như xã hội xã hội chủ nghĩa của nước ta. Nhưng nghĩ rằng
đã có quyền sở hữu tập thể hay toàn thể về tư liệu sản xuất thì tự nhiên mọi
người đều có quyền dân chủ một cách đầy đủ thì lại là một quan điểm chưa
thực sự đúng đắn với hiện thực. Nói đến thiếu hay mất dân chủ đa số chúng ta
có xu hướng quy hết trách nhiệm cho lớp người có trách nhiệm thi hành
quyền dân chủ. Đó là một cách nhìn phiến diện nhưng không phải là không có
căn cứ. Điều này vẫn ngày ngày diễn ra trong thực tế hiện nay. Đó là một số
người có trách nhiệm khi đã nêu ra một số ý kiến gì thì thường không thể chịu
14

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

nổi những ý kiến trái với mình, không đủ bình tĩnh nghe những ý kiến không
giống mình hay nói một cách khác là họ mang nặng tính bảo thủ. Đây là một
nếp sống rất tiêu cực, nó đề cao cá nhân, dung túng cho tính độc đoán phát
triển trong mỗi con người. Còn những người đưa ra ý kiến trái ngược, bản
thân họ không đồng ý với những ý kiến đã nêu nhưng hị cũng không dám
mạn dạn đưa ra những ý kiến mà họ cho là đúng đắn và phù hợp. Họ sợ nói
thẳng, nói thật sẽ làm mất lòng người kia, nhất là cấp trên của mình. Thậm chí
có khi họ còn đưa ra ý kiến phụ họa cho ý kiến không đúng vì việc đồng tình
này sẽ đem lại sự thoả mãn cho cấp trên và lợi ích cho bản thân mình. Nguyên
nhân thứ hai là còn một lớp người khác bị tư tưởng Nho giáo ăn sâu vào tâm
tưởng, đã nghĩ theo một nếp cũ, cái nếp tuyệt đối hoá tư tưởng tôn ty đẳng cấp
của đạo Nho. Họ đề cao một cách thái quá chữ “Lễ”, họ cho rằng trật tự, kỉ
cương của xã hội đồng nghĩa với việc không nên, không được bàn cãi về ý
kiến của bề trên. Họ không đồng ý với ý kiến của người kia nhưng họ lại tự
nhủ rằng có thể bản thân họ chưa hiểu nổi ý kiến đó hoặc họ cho rằng bàn cãi
về ý kiến của bề trên là một diều sai trái, trái với quan điểm đạo lí thông
thường đã từ lâu ăn sâu vào tâm trí họ.Họ chưa nhận rõ rằng nguyên tắc tổ
chức của ta là tự do dân chủ. Lúc chưa có quyết định thì mọi người được tự
do đưa ra ý kiến của mình để từ đó lựa chọn ra ý kiến đúng đắn nhất, gần gũi
với chân lí nhất và mọi sự quyết định đều phải có sự đồng tình từ đa số. Nếu
không có kỉ luật dân chủ này thì không thể có dân chủ thực sự. Tư tưởng tôn
ty đẳng cấp của Nho giáo làm cho cấp trên thì độc đoán kiêu căng, cấp dưới
thì sợ sệt khúm núm. Từ đó hình thành quan niệm “cấp trên bao giờ cũng
đúng”, làm mất đi không khí trao đổi ý kiến một cách dân chủ thẳng thắn.
Sự mất dân chủ hiện nay còn thể hiện trong quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con
cái, thầy trò. Một bộ phận lớn những người chồng mang trong mình tư tưởng
“phu xướng phụ tuỳ”. Họ cho rằng ngưòi đàn ông là chủ gia đình nên mọi
việc đều phải theo ý kiến của họ. Đặc biệt họ rất xem nhẹ vai trò của người
phụ nữ. Với họ người phụ nữ phải nhất mực tuân theo nguyên tắc “ xuất gia
15

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Còn trong quan hệ giữa cha mẹ
với con cái thì tư tưởng “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” tuy đã được hạn chế
nhiều nhưng ý kiến của con cái đã được tôn trọng hay chưa thì vẫn là một vấn
đề đối với các bậc làm cha làm mẹ. Nhiều gia đình hiện nay con cái học là vì
bố mẹ, lựa chọn nghề nghiệp cũng là vì bố mẹ, thậm chí vẫn còn tình trạng
lấy vợ lấy chồng theo sự sắp đặt của bố mẹ. Trong quan hệ thầy trò cũng có
những tình trạng tương tự, một bộ phận không nhỏ các thày giáo, cô giáo vẫn
có tư tưởng “ quân sư phụ” của đạo Nho, không thể chịu nổi sự bàn bạc dân
chủ giữa thầy và trò. Còn học trò thì không dám đưa ra và bảo vệ ý kiến của
mình, tự bóp chết khả năng sáng tạo của mình.Thật may những tình trạng thế
này đang dần bị loại bỏ để thay vào đó những tư tưởng tiên tiến hơn.
Một mặt tiêu cực khác trong tư tưởng tôn ty đẳng cấp là chỉ coi trọng những
người có chức vụ, có bằng cấp mà không chú ý đến những người giỏi về
chuyên môn nên mới dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ như hiện
nay.Hơn nữa, Việt Nam là một nước đang tiến hành quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước, đang từng bước áp dụng những thành tựu của cuộc
cách mạng khoa học kĩ thuật. Vì vậy khoa học kĩ thuật,trình độ chuyên môn
phải được coi trọng. Thế nhưng chính một số tư tưởng Nho giáo tiêu cực còn
sót lại đã dẩy xã hội ta thành một xã hội coi trọng bằng cấp mà không coi
trọng thực lực, coi trọng những thành tích trên giấy tờ hơn khả năng thực sự
của cá nhân mỗi người.
Tóm lại có thể thấy nếp sống không thực sự dân chủ ở nước ta lỗi không
hoàn toàn thuộc về những người có nhiệm vụ thi hành quyền dân chủ mà
chính những người phải thi hành dân chủ (hay bộ phận lớn nhân dân )có một
phần không nhỏ trong việc hình thành nên nếp sống ấy. Với tư cách là người
phải thi hành dân chủ thì cần phải có trình độ giác ngộ cao, cần phải có sự
thẳng thắn, cởi mở trong những quan điểm, những ý kiến.

16

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

II.1.2

Đánh giá con ngưòi không đúng tiêu chuẩn.

Xã hội nào cũng có những tiêu chuẩn đạo đức của nó. Ở các triều đại
phong kiến với tư tưởng Nho giáo người quân tử là người phải có Nhân, Lễ,
Nghĩa, Trí, Tín và mục đích của tu thân là vì mình, vì quyền lợi của giai cấp
thống trị. Tư tưởng vì mình đã tạo nên tâm lí ích kỉ trong một số người, từ đó
nảy sinh các hiện tượng gây nhũng nhiễu cho xã hội như tham ô, tham nhũng,
tâm lí danh lợi.... gây tác hại cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Trong xã hội hiện nay tư tưởng đạo đức cao nhất là đạo đức cách mạng, đạo
đức vì nhân dân, vì tổ quốc, là dũng cảm chiến đấu giải phóng và giữ gìn đất
nước, hăng say lao động sáng tạo, nghiêm chỉnh thi hành mọi chủ trương của
Đảng và nhà nước đề ra, là “Trung với Đảng, hiếu với dân”, là thật thà yêu
thương, giúp đỡ đồng chí đòng bào.........vì thế mà khônh ham giàu sang,
không e cực khổ, không sợ oai quyền”(Hồ Chí Minh toàn tập) .Nhưng thực tế,
trong công việc một số người vẫn chịu ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ của đạo
Nho, nghĩa là chú ý nhiều tới những mặt không chủ yếu của đạo đức con
người như tác phong của một số mặt sinh hoạt nào đó. Điều đó khiến việc
đánh giá con người trở nên phiến diện, lệch lạc.
II.1.3 Tư tưởng trọng nam khinh nữ.
“ Tam cương” là một trong ba trung tâm cấu thành nên đạo đức Nho
giáo.Trong Tam cương có quan hệ vợ chồng được Nho giáo đề cập rất rõ nét,
cụ thể trong gia đình người vợ phải có đầy đủ các tiêu chuẩn: Công- DungNgôn- Hạnh, và phải thực hiện tam tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử” tức ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo
con. Phụ nữ không được lấy chồng khác khi chồng chết còn đàn ông thì có
quyền năm thê bảy thiếp. Thái độ khinh thường phụ nữ này không chỉ tồn tại
trong tư tưởng của đấng mày râu mà còn trong tư tưởng của những người phụ
nữ . Vì thế mà người phụ nữ trong xã hội xưa không được đi học, không được
đọc sách, không được tham gia vào các hoạt động xã hội, không được giao
17

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

lưu mở rộng tầm hiểu biết..........họ chỉ quanh quẩn với ruộng đồng, bếp núc,
và chịu sự sai khiến của chồng con.Nhiệm vụ của họ chỉ gói gọn trong phạm
vi gia đình, chỉ là duy trì nòi giống, phục vụ chồng con. Trí tuệ, tình cảm của
họ không được xã hội xem trọng, vì thế mới có những chuyện như giả trai đi
thi, hay có những người phụ nữ tài hoa phá vỡ những lễ giáo đó thì bị coi là
không tốt mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một điển hình.
Trong thời đại hiện người phụ nữ không bị coi thường như trước nữa. Họ
đã có vai trò lớn trong xã hội, có những đóng góp lớn lao trong công cuộc xây
dựng đất nước. Hay nhìn một cách toàn diện có lẽ người phụ nữ đã được bình
đẳng với nam giới theo đúng hiến pháp của nhà nước qui định. Nhưng đi sâu
vào trong gia đình ta mới thấy, người phụ nữ vẫn phải chịu ít nhiều thiệt thòi.
Công việc nhà, bếp núc, chăm sóc con cái được coi đương nhiên là dành cho
phụ nữ trong khi các công việc xã hội người phụ nữ cũng phải làm như người
đàn ông. Mặt khác hiện nay tư tưởng trọng nam khinh nữ còn được thể hiện
khá rõ trong tâm lí muốn sinh con trai để nối dõi tông đường. Đây là một tư
tưởng đã bị lên án nhiều nhưng do những quan niệm Nho giáo đã ăn quá sâu
trong nếp sống của ngưòi dân nên tư tưởng này vẫn còn khá phổ biến trong xã
hội ngày nay.
Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” có lẽ là sai lầm lớn nhất về mặt lí luận và
thực tiễn của những người sáng lập và theo đạo Nho. Tư tưởng này vẫn để lại
dấu ấn trong xã hội hiện nay, tuy nhiên Đảng , nhà nước đang cố gắng xoá đi
những dấu ấn này và đang từng bước gặt hái được khá nhiều thành công để
hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
II.1.4

Tư tưởng an phận

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ngày càng đòi hỏi một thái độ lao động
mới. Đó là thái độ làm việc có kỉ luật, khuyến khích tinh thần lao động, sáng
tạo, một nhịp độ lao đọng khẩn trương.... Đây là con đường đưa Việt Nam
vào quỹ đạo của nền cong nghiệp hoá hiện đại hoá. Vì thế Đảng và nhà nước
18

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

ta luôn có những chính sách để khuyến khích người dân, đặc biệt là tầng lớp
thanh niên phát huy hết khả năng sáng tạo, tự tin làm chủ những công nghệ, kĩ
thuật tiên tiến. Tuy nhiên tư tưởng an phận của Nho giáo đang gây trở ngại
cho chúng ta. Từ ngàn năm nay Nho giáo luôn khinh rẻ lao động, luôn sợ kỹ
thuật vì nó cho rằng “ cơ giới sinh tâm giới” sự phát triển của máy móc sẽ làm
hỏng đạo đức nhân nghĩa của con người. Với tư tưởng bảo thủ, trì trệ thù
ghét cái mới, sùng bái mù quáng nếp sống, nếp nghĩ của tổ tiên, nó khuyên
người ta phải “an bần lại đạo”. Như vậy có thể thấy rằng tàn dư của Nho giáo
vẫn đang hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta dưới nhiều hình
thức. Vậy tại sao những tư tưởng lỗi thời lạc hậu đó vẫn còn tồn tại? Điều này
đã được Angghen giải thích “Một nền sản xuất kém phát triển, cuộc đấu tranh
giai cấp kém phát triển đẻ ra những lý thuyết không hoàn chỉnh.”
Hiện nay trong một thời đại mới, chúng ta đang ra sức quét sạch đi những tàn
dư tiêu cực của đạo Nho. Nhưng đây là việc không hề dễ dàng, không thể
thực hiện trong ngày một ngày hai và chúng ta càng không thể dùng bạo lực
cánh mạng để tiêu diệt nó. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho mỗi cá nhân là phải có
những nhận thức đúng đắn để từ đó có thể thấy được tính chất sai lầm, cổ hủ,
lạc hậu của một số tư tưởng Nho giáo không còn phù hợp với thời đại ngày
nay nhằm thay đổi triệt để nếp sống, nếp nghĩ và trở thành con người mới
trong xã hội chủ nghĩa.
II.2 Anh hưởng tích cực và một số phương hướng nhằm phát huy những
yếu tố tích cực.
II.2.1 Anh hưởng tích cực.
Như chúng ta đã biết thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 đã
đập tan xiềng xích hơn 80 năm đô hộ của thực dân pháp và 5 năm của phát xít
Nhật, đồng thời cũng làm xụp đổ hoàn toàn chế độ phong kiến ở Việt Nam.
Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa MacLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh dấu sự thất thế của tư tưởng Nho giáo
19

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

đã trở nên lỗi thời lạc hậu, không còn phù hợp với thời đại mới. Thời đại của
một đất nước đã hoàn toàn độc lập, một dân tộc mà nhân dân đã hoàn toàn tự
do làm chủ đất nước, một xã hội công bằng văn minh.
Tuy vậy chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế khách quan là bên cạnh những
yếu tố tiêu cực thì Nho giáo vẫn có những mặt tích cực. Bởi vì nếu nó chỉ có
những mặt tiêu cực thì không thể tồn tại một cách lâu dài đến thế.Mặt khác ta
cũng biết rằng không một học thuyết nào triết học nào trên thế giới, dù là rất
tiến bộ đi nữa, có thể bảo tồn nguyên mọi giá trị mà không chịu một sự phủ
định nào. Học thuyết của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng: “lịch sử của
xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội. Đó là
một quá trình lịch sử tự nhiên. Giai đoạn sau thường cao hơn giai đoạn trước,
là sự tiếp nối của giai đoạn trước, gạt bỏ những gì không phù hợp, kế thừa
phát triển những gì là tiến bộ”. Như vậy, Nho giáo bị phủ nhận trong xã hội
hiện đại là điều dễ hiểu. Nhưng chúng ta vẫn cần phải khai thác và phát huy
những mặt tích cực của Nho giáo, nối tiếp truyền thống để góp phần vào sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam với một thái độ của
người cộng sản, trân trọng những giá trị tinh thần của nhân loại, Người đã viết
“ Việc xoá bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, chính phủ Trung Quốc đã
làm mất đi những thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người
An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các
tác phẩm của Khổng Tử, còn về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của
Lênin” trong báo Thanh Niên số 80 năm 1927. Như vậy, có thể thấy học
thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mac- Lênin không hoàn toàn đối lập với các
giá trị trong tư tưởng đạo đức Nho giáo mà có khá nhiều điểm tương đồng với
nhau. Điểm tương đồng ấy chính là ở giá trị nhân đạo, những tư tưởng thấm
đẫm tính nhân văn.

20

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh
hoa truyền thống tư tưởng dân tộc trong đó có cả tinh hoa Nho giáo. Đó là sự
kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ trong Tam cương, Ngũ thường và
Ngũ luận.
Trong ngũ luận, Nho giáo đưa ra khái niệm “Trung” và “Hiếu”. Trung là
trung với vua, Hiếu là hiếu với cha mẹ. Đó là đạo đức của bề tôi với vua, của
con đối với cha mẹ. Con người đề cao “Trung” và “Hiếu” cũng có nghĩa là đề
cao mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Mạnh tử đã nói: “Thiên hạ chi bản
tại quốc, quốc chi bản tại gia” (gốc thiên hạ tại nước, gốc của nước tại gia).
Đó chính là mối quan hệ mật thiết giữa tề gia và trị quốc, gia đình là cơ sở
quan trọng để tạo lập kỉ cương và ổn định xã hội. Hiện nay, tư tưởng này vẫn
còn nguyên giá trị. Đảng và nhà nước ta hiện nay đã, đang và luôn khẳng định
“ Gia đình là một tế bào của xã hội”, đề cao vai trò to lớn của gia đình, gia
đình có mạnh thì đất nước mới giàu, gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng
phẩm chất đạo đức của con người. Để trở thành một người cônh dân tốt của
xã hội, thì trước hết phải trở thành người có đạo đức trong gia đình.
Nho giáo luôn đề cao chữ “Lễ”, có nghĩa là đề cao tôn ty trật tự, kỷ cương,
những quy tắc và chuẩn mực trong xã hội phong kiến. Trong xã hội hiện nay
vẫn tồn tại những tệ nạn, những hiện tượng xói mòn về đạo đức, kẻ dưới
không biết kính trọng bề trên hay hiện tượng thoái hoá biến chất của các cán
bộ nhà nước, tình trạng chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý và pháp luật. Vì
thế “tiên học lễ, hậu học văn” vẫn là kim chỉ nam của mỗi người.
Ngoài ra Nho giáo còn đưa ra thuyết “Tu thân” , đề cao đạo đức, sự tu
dưỡng đạo đức của những người đứng đầu “ nước” , hay của những bậc quân
tử. Nho giáo còn khẳng định lý tưởng hay hoài bão suốt đời của người quân
tử là “tề gia trị quốc bình thiên hạ”. Nhưng để làm điều đó thì trước hết phải
tu thân. Và tu thân vẫn còn là bài học hết sức có giá trị nhằm để bồi dưỡng và
giáo dục cho các cán bộ Đảng viên trong xã hội xã hội chủ nghĩa của nước ta
21

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

hiện nay. Hồ Chí Minh đã áp dụng bài học tu thân để rèn luyện đạo đức cho
các đảng viên. Nếu như xưa kia Mạnh Tử đề cao phẩm chất của người trượng
phu “ phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” thì
ngày nay các Đảng viên vẫn in sâu lời dạy của Bác “ Các Đảng viên cộng sản
phải là những người mà giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể
lay chuyển, uy lực không thể khuất phục”( Hồ Chí Minh toàn tập) . Đồng thời
bài học lấy dân làm gốc trong đạo Nho luôn được Đảng và Bác đặt lên hàng
đầu. Tư tưởng “ Dân vi bang bản, bản cố bang minh” trong Nho giáo là một
tư tưởng hết sức tiến bộ và được các nhà lãnh đạo kiệt xuất đón nhận: Trần
Quốc Tuấn rồi Nguyễn Trãi đã khẳng định: Thuyền là vua, nước là dân, nước
có thể đẩy thuyền mà nước cũng có thể lật thuyền. Tiếp đó là Hồ Chí Minh
với quan điểm “ Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo” hay “ Gốc có vững thì
cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”( Hồ Chí Minh toàn tập).
Nho giáo đặc biệt đề cao đạo đức, xem xét đức là gốc của con người. Và nội
dung đạo đức cũng là nội dung tu thân của người quân tử, của người cầm
quyền trong xã hội phong kiến. Năm phẩm chất cơ bản của người quân tử hay
tư tưởng ngũ thường đó là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Còn ngày nay, phẩm
chất của người cán bộ, đảng viên là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô
tư. Đó là sáu chữ vàng Bác Hồ tặng cho đảng viên, Bác đã rất khéo léo khi sử
dụng những mệnh đề trong Nho giáo để diễn đạt theo ý nghĩa cho nhân dân dễ
nhớ dễ hiểu vì nó rất gần gũi với người dân. Tiếp đó còn có những khẩu hiệu
như “ Trung với đảng, hiếu với dân” cũng được Bác lấy từ chữ “Trung” và “
Hiếu” trong Nho giáo. Nhưng ở đây “ Trung là trung thành tuyệt đối với Đảng
và nhà nước, “Hiếu” không chỉ có hiếu với cha mẹ mà còn phải có hiếu với
nhân dân. Phạm vi đạo đức của “Trung” và “Hiếu” đã được Bác mở rộng ra
rất nhiều để phù hợp với thời đại mới.

22

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

Không chỉ có “Trung” và “Hiếu” mà người đảng viên luôn cần phải có chữ
“Tín”. Ta thấy giữa Khổng Tử và Hồ Chí Minh có sự kế thừa và phát huy tư
tưởng. Khổng Tử từng nhấn mạnh rằng “ Dân không tin thì chính quyền
không đứng vững được” (Luận ngữ). Còn Hồ Chí Minh cũng đã có quan điểm
rằng “ Ta được lòng dân thì không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta
không thể làm tốt công việc được”.
Bên cạnh đó Nho giáo rất đề cao giáo dục, giáo dục khoa cử là hình thức
để tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Thông qua các kì thi hội, thi hương, thi
đình nhà vua yên tâm khi bên cạnh là một đội ngũ nhân tài luôn sẵn sàng giúp
đỡ mình để xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì thế mà người xưa đã từng quan
niệm “Nhân tài là nguyên khí của quốc gia, mà khoa cử là con đường rộng
mở cho học trò”Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí )( Nhân tài quốc gia chi
nguyên khí, khoa mục sĩ tử chi than đồ)
Có thể nói học tập là điều mà thế hệ nào cũng cần phải hướng tới, quốc gia
nào cũng cần phải khuyến khích. Chính vì vậy Lênin đã nói “ Học, học nữa,
học mãi”. Còn Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ, Đảng viên học tập vì “Học
để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì mới hi sinh, tận
tuỵ với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng đến thắng
lợi hoàn toàn”( Hồ Chí Minh toàn tập). Còn đối với thiếu niên nhi đồng trong
năm điều Bác Hồ dạy có “ Học tập tốt, lao động tốt” hay Bác cũng đã từng
nói “ non sông Việt Nam có vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh
vai cùng các cường quốc năm châu hay không là nhờ công học tập của các
cháu”.
Như vậy có thể thấy hiện nay trong xã hội ta đang diễn ra xu hướng chủ
yếu là chủ trương phê phán, bác bỏ những gì đã lỗi thời, cực đoan của Nho
giáo và kế thừa những gì còn giá trị để từ đó phát huy lên. Thực tế đã chứng
minh cho quan điểm này vì Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo.....là
những con rồng châu Á”, có nền kinh tế phát triển vượt bậc cũng là những
23

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

nước đã vận dụng và phát huy những giá trị của Nho học trong quá trình cải
cách đất nước. Vì thế, kế thừa và phát huy những yếu tố tích cực trong Nho
giáo cũng sẽ giúp ích rất nhiều, có vai trò quan trọng trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.
II.2.2 Một số biện pháp cơ bản để nâng cao giá trị đạo đức Nho giáo.
Trong đại hội đảng lần thứ sáu (năm 1986), Đảng và nhà nước quyết định
cải cách đổi mới toàn diện đất nước, đưa nước ta từ một nước có nền kinh tế
tự cung tự cấp trở thành nước có nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay Việt Nam đang trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đến năm 2020 Việt Nam về
cơ bản là một nước cônh nghiệp. Sau cải cách năm 1986 hay đúng hơn là với
nền kinh tế nhiều thành phần, với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, Việt Nam ngày càng thay đổi da thịt. Từ một nước nghèo kém phát
triển, chúng ta đã phấn đấu trở thành một nước đang phát triển và đang tiến
tới thành một nước phát triển trên thế giới.
Tuy nhiên một xã hội với nền sản xuất hàng hoá cũng đồng nghĩa là một
xã hội có cạnh tranh. Từ đó nảy sinh nhiều vấn đề đạo đức. Bên cạnh những
mặt tích cực của kinh tế thị trường như kích thích sự sáng tạo, năng động,
nhạy bén của con người, đòi hỏi con người phải tự suy nghĩ tìm tòi, phát huy
quyền tự chủ của mỗi người. Nó đào thải tính dựa dẫm, ích kỉ lười biếng, và
chậm chạp - hệ quả của một nền kinh tế bao cấp đã tạo ra. Nó tạo ra một thế
hệ con người mới, con người hiện đại đang ngày càng hội nhập với toàn cầu.
Tuy vậy nền kinh tế nhiều thành phần vẫn có những mặt tiêu cực. Đó là hiện
tượng con người chạy theo đồng tiền bất chấp mọi đạo lý và pháp luật, nó đặt
lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộng đồng, nó bao che cho lối sống thực dụng
gấp gáp và con người ngày càng bị tây hoá, những nét truyền thống ngày càng
bị lu mờ, trật tự xã hội bị đảo lộn và các tệ nạn xã hội ngày càng tăng.

24