Tải bản đầy đủ
Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Tải bản đầy đủ

3. Mối quan hệ giữa vật chất ý thức.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau thông
qua hoạt động thực tiễn của con ngời trong đó vật chất giữ vai trò quyết định, ý
thức giữ vai trò tác động trở lại đối với vật chất.
Lê-nin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa tuyệt đối
trong phạm vi hết sức hạn chế, trong trờng hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề
nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trớc cái gì là cái có sau. Ngoài
giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tơng đối. Nh
vậy, để phân ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản
tính và sự thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý
thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trớc, cái nào quyết định. Không nh vậy
sẽ lẫn lộn hai đờng lỗi cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất và ý thức và cuối
cùng sẽ là quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là tơng
đối nếu nh chúng ta chỉ xét chúng nh là những nhân tó những mặt không thể
thiếu đợc trong hoạt động của con ngời, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo
thế giới của con ngời. Bởi vì, ý thức tự nó không thể cải biến đợc sự vật, không
có khả năng tự biến thành hiện thực, nhng thông qua hoạt động thực tiễn của con
ngời, ý thức có thể cải biến đợc tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiên thực hoá
những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ
chính ngay bản tính phản ánh, sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản
tính đó mà chỉ có con ngời có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự
nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang rã thành tự nhiên trù phú và sinh động, tự nhiên
của con ngời. Vì vậy tính tơng đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể
hiện tính độc lập tơng đối tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con ngời là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sóng tinh
thần trong đó ngững nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng, những
nhu cầu vật chất cũng bị nhu cầu tinh thần hoá. Khanửg định tính tơng đối của
sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân
tố có vai trò nh nhau trong đời sống và hoạt động của con ngời. Trái lại triết học
Mác-Lênin khẳng định rằng trong hoạt động của con ngời những nhân tố vật
chất và ý thức có tác động qua lại song sự tác động diễn ra trên cơ sở tính thứ
nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.
4. Vai trò của nhân tố vật chất và ý thức
Trong hoạt động của con ngời, nhân tố vật chất giữ vai trò cơ sở, quyết
định. Điều đó trớc hết thể hiện ở chỗ, hoạt động của con ngời bao giờ cũng phải
dựa trên cơ sở các phơng tiện vật chất hiện có. Con ngời không thể dùng ý thức
trực tiếp tác động vào các đối tợng vật chất để đạt đợc kết quả mong muốn.
Trong hoạt động của con ngời, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con
3

ngời trớc hết phải ăn, ở, mặc... rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí. Hoạt động
nhận thức của con ngời trớc hết hớng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả
mãn nhu cầu sống.
Vai trò cơ sở và quyết định của vật chất còn thể hiện ở chỗ nó quy định khả
năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con ngời. Nó tạo
điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện
thực và qua đó quy định mục đích, chủ trơng, biện pháp mà con ngời đề ra cho
hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá các mục
đích, chủ trơng biện pháp đó. Hoàn cảnh vật chất, phơng tiện vật chất cùng các
quy luật khách quan của chúng luông luôn giữ vai trò chi phối, quyết định nội
dung và hình thức của các nhân tố tinh thần tham gia vào hoạt động cải tạo thế
giới.
Khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất, triết học
Mác - Lênin đồng thời không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần, của tính năng
động chủ quan.
Vai trò của ý thức thể hiện ở vai trò của tri thức, trí tuệ, tình cảm và ý chí.
Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực của
thực tiễn. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động thực tiễn sẽ diễn
ra một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn ra đợc. Nhờ ý chí và tình cảm,
ý thức quy định tốc độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần dũng cảm,
dám nghĩ dám làm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm, tình yêu, niềm say mê đối với
công việc, khả năng sáng tạo và vợt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu xác
định... đều có ảnh hởng to lớn đến hoạt động thực tiễn, làm cho nó diễn ra nhanh
hay chậm, quy định tính đặc thù và bản sắc riêng của những hoạt động cụ thể
xác định. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, vai trò của ý chí, tình cảm chỉ là động
lực mà không thể là định hớng, kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn. Sự thành
công hay thất bại của hoạt động thực tiễn, tác dụng tích cực hay tiêu cực của ý
thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ
của ý thức. Do đó, nếu vai trò chỉ đạo mà sai lầm thì tinh thần dũng cảm, lòng
nhiệt tình, chí quyết tâm... chỉ có tác dụng dẫn hoạt động thực tiễn đến thất bại
nhanh hơn. Chính vì vậy, tình cảm, ý chí phải gắn liền với trí thức, trí tuệ, khoa
học. Nh vậy, nhân tố ý thức có tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân tố vật
chất.
Song, cũng cần thấy rõ ràng, xét đến cùng tác dụng của ý thức cũng chỉ là tơng đối, có điều kiện. Vai trò tích hay tiêu cực của ý thức chỉ đợc trong một thời
gian nhất định và điều kiện cụ thể. Thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động
theo quy luật khách quan đòi hỏi ý thức phải biến đổi phù hợp với nó; và nh vậy,
nếu là tiêu cực, ý thức có thể kìm hãm sự phát triển của sự vật, hiện tợng trong
thời gian và không gian xác định nhng bản thân yêu cầu khách quan của tiến
trình vận động chung sớm muộn sẽ đào thải ý thức lạc hậu. Mặt khác, xét về bản
4

chất, ý thức là cái có sau, là cái phản ánh; hơn nữa, vai trò của nó còn tuỳ thuộc
vào mức độ chính xác trong quá trình phản ánh hiện thực, do vậy, xét về toàn cụ,
ý thức vẫn là nhân tố thứ hai, bị quyết định.
5. ý nghĩa phơng pháp luận
Nguyên lý triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức có
ý nghĩa phơng pháp luận quan trọng. Nó đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực
tế khách quan nhng đồng thời cũng phải phát huy tính năng động chủ quan.
Tính khách quan đặt ra hai yêu cầu. Thứ nhất, phải xem xét sự vật nh chính
nó đang tồn tại, phải xuất phát từ thực tế, từ điều kiện, hoàn cảnh vật chất hiện
có, chống thái độ xuyên tạc, bóp méo sự vật, chống tác phong quan liêu, qua loa,
đại khái, xem xét sự vật một cách chung chung, trừu tợng. Yêu cầu này không
những đòi hỏi chủ thể nhận thức và hành động phải trung thực, thật sự cầu thị, cụ
thể, tỉ mỉ mà còn phải có tri thức khoa học vì nếu không hiểu biết sự vật thì
không có khả năng phản ánh sự vật nh chính nó đang tồn tại. Thứ hai, phải tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan, không thể tuỳ tiện, bất chấp quy
luật, chống chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí. Yêu cầu này đòi hỏi chủ yếu nhận
thức và hành động phải tích luỹ kinh nghiệm, phải học tập phơng pháp, phải
nghiên cứu khoa học để có tri thức ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn về hệ
thống các quy luật khách quan.
Tính khách quan cũng đòi hỏi đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan. Đấu
tranh chống chủ nghĩa chủ quan không chỉ có ý nghĩa khẳng định và giữ vững
thế giới quan duy vật mà còn có ý nghĩa giúp chúng ta tránh khỏi thất bại trong
hành động thực tế vì chủ nghĩa chủ quan dẫn tới bệnh duy ý chí, t tởng nóng vội,
phiên lu, mạo hiểm, bất chấp quy luật khách quan, đôi khi hành động mù quáng,
kết quả thờng thất bại.
Phát huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức có cơ sở lý luận ở bản chất
phản ánh sáng tạo và bản tính xã hội của ý thức, ở tính độc lập tơng đối, ở vai trò
chỉ đạo hoạt động thực tiễn của nó, ở vai trò của lý luận, ý chí, của nhân tố chủ
quan, ở tính tự giác của hoạt động ngời trong trong quá trình xây dựng xã hội.
Phát huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở sự hình thành một
lý thức đúng đắn với sự vật, ở việc phát huy nhiệt tình và ý chí hành động, ở tinh
thần quyết tâm khắc phục khó khăn, ở sáng kiến trong hành động. Nó đối lập với
thái độ tiêu cực, thụ động, trông chờ vào hoàn cảnh cũng nh thái độ đổ lỗi cho
điều kiện khách quan thái độ đầu hàng chịu bó tay trớc khó khăn của hoàn cảnh.

5

Phần II
Sự Vận dụng mối quan hệ vật chất và ý
thức của đảng cộng sản Việt Nam trong
công cuộc đổi mới nền kinh tế
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối
quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị:
Nh chúng ta đã biết vật chất và ý thức có quan hệ biện chứng với nhau.
Nhân tố vật chất giữ vai trò cơ sở quyết định, còn nhân tố ý thức có tác dụng trở
lại đối với nhân tố vật chất. Vai trò tích cực hay tiêu cực của ý thức chỉ đợc trong
một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và
vận động theo quy luật khách quan đòi hỏi ý thức phải biến đổi phù hợp với nó,
nếu là tiêu cực ý thức sớm muộn cụng bị đào thải. Mặt khác ý thức là cái có sau,
là cái phản ánh hơn nữa vai trò cảu nó còn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong
phản ánh hiện thực. Do vậy xét tàon cục ý thức vẫn là nhân tố thứ hai bị quyết
định, cần chú ý rằng vai trò của ý thức chỉ có đợc nếu nó thâm nhập vào quần
chúng và tổ chức xã hội. Nếu nh chúng ta đa nó vào điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể thì chúng ta có thể thấy rằng giữa kinh tế (biểu hiện của vật chất) và chính
trị(biểu hiện của ý thức) cũng có mối quan hệ dàng buộc lẫn nhau. Bởi vì chúng
ta thấy rằng tình hình kinh tế của một nớc là cơ bản quyết định còn chính trị là
cơ bản. Nếu kinh tế của một nớc mà giàu mạnh nhng chính trị thì luôn bất ổn:
đấu tranh giai cấp, tôn giáo, giữa các đảng phái khác nhau của một quốc gia thì
cũng không thể tồn tại lâu dài đợc, cuộc sống của nhân dân sung túc, đầy đủ nhng luôn phải sống trong lo âu sợ hãi vì chiến tranh và chết chóc. Do đó chính trị
của một nớc mà ổn định, tuy nhiều đảng khác nhau nhng vẫn quy về một chính
đảng thống nhất đất nớc và đảng này vẫn đem lại sự yên ấm cho nhân dân, đất nớc đó giàu mạnh cuộc sống nhân dân ấm lo hạnh phúc, ngợc lại nếu nh đất nớc
đó nghèo cho dù chính trị ổn định đến đâu thì cuộc sống của nhân dân cũng trở
lên khó khăn và ắt sẽ dẫn đến đảo chính sụp đổ chính quyền để thay thể một
chính quyền mới đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân hơn.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế
chính trị xã hội. Trình độ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất
sẽ là nhân tố quy định trình độ hiện đại và mức sống của xã hội. Sản xuất vật
chất còn nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần xã
hội. Hiện thức lịch sử đã chỉ ra răng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm:
quan hệ chính trị, nhà nớc pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật tôn
giáo, ... đều hình thành và biến đổi và phát triển gắn liền với cơ sở kinh tế và sản
xuất nhất định. Trong xã hội đó theo Mác quan hệ giữa ngời với ngời trong quá
trính sản xuất (quan hệ kinh tế)là quan hệ cơ bản nhất quyết định tất các quan hệ
cơ bản khác. Một khi sản xuất phát triển cách thức sản xuất của con ngời thay
6

đổi, năng suất lao động tăng, mức sống đợc năng cao thì các mối quan hệ và mọi
mặt của đời sống cũng đợc thay đổi theo. Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở
đầu tiên quan trọng nhất tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện chức
năng của con ngời, thoả mãn nhu cầu của con ngời và xã hội. Sự phong phú và
đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ký
thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất là cơ sở nảy sinh sự
phong phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất năng lực và tinh thần của con
ngời.
Nguyên lý triết học Mác-Lênin là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và
ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật ( ở đây là nên kinh tế)
từ thực tế khách quan, tránh chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, đồng thời phát huy
vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực hoạt động chủ quan trong
hoạt động của con ngời (nh trong hoạt động kinh tế của nớc ta, trong công cuộc
đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xớng đã rất chú trọng trong việc đề
cao yếu tố của con ngời, làm cho ý thức thay đổi mới thâm nhập vào cơ sơ kinh
tế, và động viên quần chúng).
2. Sự vận dụng mối quan hệ vất chất và ý thức trong công
cuộc đổi mới kinh tế của đảng cộng sản Việt Nam
Nh chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc, nền
kinh tế Việt Nam còn nhiều nhợc điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu
kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng xuất lao động thấp, sản xuất cha đảm bảo
nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp cha cung cấp đủ thực phẩm cho nhân
dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu.
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch
năm 1976-1980 quá cao và phát triển sản xuất vợt quá khả năng của nền kinh tế.
Đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng,
đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa
ở miền Nam. Những chủ trơng sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập chung
quan liêu bao cấp đã tác động xấu đến nền kinh tế, ảnh hởng không tốt tới đời
sống của nhân dân... Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng
50-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội
tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%.
Đại hội Đảng lần thứ V cũng cha tìm ra đợc đầy đủ những nguyên nhân
đích thực củ sự trì trệ trong nền kinh tế của nớc ta và cũng cha đề ra các chủ trơng chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế. Trong 5 năm 19811985 chúng ta cha kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh
tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới
nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lu thông.

7