Tải bản đầy đủ
Cơ sở lí luận giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Cơ sở lí luận giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Tải bản đầy đủ

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

2.1.1.1. Phát triển kinh tế :
- Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn
thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo
công bằng xã hội.
- Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế.
Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh
tế. Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau :
+Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
+ Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở các
ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn
tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống.
+ Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự
tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người
dân được hưởng .
Như vậy, phát triển kinh tế là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc
trong mọi thời đại.
2.1.1.2.Môi trường sinh thái – kinh tế môi trường:
- Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và
phát triển cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng, của
nền kinh tế - xã hội và nhận thức của loài người nói chung.
- Kinh tế môi trường là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ,
lấy các vấn đề môi trường làm đối tượng nghiên cứu chính của mình và
tiếp cận chủ yếu chúng dưới góc độ kinh tế.
- Môi trường là toàn bộ các vùng địa - vật lí và sinh học, các điều
kiện về vật chất - tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất, ánh
sáng…) và hệ sinh thái với tư cách là sản phẩm của tạo hoá, có trước con
người, tương tác lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành và phát triển
của con người cùng các hoạt động xã hội của họ. Bản thân các hoạt động
5

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

sinh tồn của con người cũng đang ngày càng làm thay đổi môi trường một
cách mạnh mẽ.
2.1.1.3. Ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường.
- Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường
quá một giới hạn cho phép đi ngược lại mục đích sử dụng môi trường, ảnh
hưởng đến sức khoẻ môi trường và sinh vật.
- Bảo vệ môi trường : là bao gồm những hoạt động, những việc làm
trực tiếp tạo đièu kiện giữ cho môi trường trong lành và sạch đẹp.
2.1.2. Sự đối lập và thống nhất giữa phát triển kinh tế và môi trường sinh
thái.
2.1.2.1. Sự đối lập.
Trong đời sống, do nhu cầu về điều kiện sống của con người ngày
càng cao nên tất yếu sẽ thúc đẩy chúng ta phải phát triển kinh tế để thoả
mãn những nhu cầu của bản thân cũng như toàn xã hội. Tuy nhiên việc phát
triển kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nguyên vật liệu để đảm bảo quá trình
mở rộng sản xuất, mà nguồn cung cấp đó lại được lấy từ tự nhiên và điều
này tất yếu đẫn đến việc ảnh hưởng tới môi trường sinh thái: khai thác quá
mức, tàn phá tài nguyên trên phạm vi rộng lớn không những làm suy thoái
tài nguyên mà còn làm giảm chất lượng của môi trường sinh thái. Đây
chính là mâu thuẫn, kinh tế càng phát triển thì lại ngày càng làm cho môi
trường xấu đi.
Chúng ta có thể thấy rằng nếu như không có các chính sách, chiến
lược phù hợp thì khi định hướng phát triển công nghiệp của Việt Nam
nhằm vào các ngành mà đất nước hiện đang có lợi thế so sánh như : công
nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng, chế biến nông,
lâm, hải sản, dệt may, thì sẽ càng thấy rõ những nguy cơ tiềm ẩn lớn dần về
ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ các nhành công nghiệp nói trên đều thuộc loại
danh mục các nguồn lớn nhất gây ô nhiễm môi trường.

6

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

Trong cơ cấu GDP của nước ta, giá trị của nông, lâm, ngư nghiệp
cẫn còn chiếm giữ một tỉ trọng tương đối lớn (khoảng ¼). Ở phần lớn các
tỉnh và địa phương, tỉ lệ này còn có nơi chiếm tới 50 - 60%. Sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng của sản xuất nông nghiệp gắn
liền với việc thâm canh ngày càng tăng trong sản xuất nhằm tăng năng suất
cây trồng và vật nuôi. Qúa trình thâm canh hoá sản xuất nông nghiệp ở Việt
Nam sẽ vẫn tiếp tục gắn liền với tăng cường sử dụng các loại phân vô cơ,
thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Vào năm 1996, mức sử dụng phân bón hóa học cho
một hécta sản xuất nông nghiệp ở nước ta trung bình vào khoảng 120 150kg. Đến năm 2000, để đạt sản lượng 30 triệu tấn thóc thì phải tăng mức
phân bón hoá học nói trên 3 lần, tức là khoảng 200 - 450 kg cho 1 hécta.
Rõ ràng là nếu không có những chính sách và biện pháp bảo vệ thích hợp
và lâu dài thì với sự tăng cường sử dụng các loại phân bón hoá học, các
chất vô cơ lâu phân huỷ và độc hại thì nguy cơ ô nhiễm môi trường ở tất cả
các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, đa dạng sinh hoc…) sẽ
ngày càng tăng lên, đe doạ chính sự phát triển bền vững của sản xuất nông
nghiệp và sức khoẻ con người. Đây chính là một khía cạnh đối lập rất rõ
ràng trong mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường sinh thái ở nhiều nước trên thế giới và ngay cả ở Việt
Nam.
Phát triển đặc biệt là phát triển kinh tế là một yêu cầu tất yếu của
cuộc sống con người, thế nhưng dù ở trình độ nào thì sự phát triển của con
người dù ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới môi trường sinh thái thông qua
việc khai thác tự nhiên.
Một số nền kinh tế ở trình độ thấp lại chủ trương tăng trưởng quá
nóng, thường thiếu các điều kiện vật chất, tài chính và dễ bỏ qua các
nguyên tắc, yêu cầu bảo vệ môi trường. Thậm chí có nước đã chủ trương “
hi sinh “ môi trường để đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng nhờ tiết kiệm
các khoản chi phí ngân sách cho bảo vệ môi trường.
7

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

2.1.2.2.Sự thống nhất .
Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển kinh tế là hai mặt
đối lập trong mâu thuẫn biện chứng giữa chứng. Trong mối quan hệ này sự
thống nhất của các mặt đối lập với nhau và tác động lẫn nhau theo hai
hướng chính.
2.1.2.2.1. Chiều tiêu cực :
- Môi trường là xuất phát điểm quan trọng cho việc hình thành các
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, cũng như cho việc triển khai các
hoạt động kinh tế trên thực tế, đồng thời bất cứ nền kinh tế nào vận hành
trên các nguyên tắc và thể chế không được thiết kế nhằm khuyến khích và
định hướng hành vi, thái độ ứng xử của cá nhân và tập thể người sản xuất
cũng như người tiêu dùng, ở cả cấp vĩ mô và vi mô, cũng gây tác động xấu
đến môi trường . Hơn nữa, khi đó những lợi ích kinh tế ban đầu thu được từ
việc khai thác và sử dụng bừa bãi thiên nhiên sẽ không bù lại được những
chi phí đắt đỏ và tổn thất to lớn mà con người phải hứng chịu về sau trong
quá trình khôi phục môi trường, hay để thích hợp hơn trong một môi
trường mới đã bị biến dạng, bị xuống cấp bởi chính bàn tay con người.
- Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì con người và sự
phát triển của con người đang bị đe doạ bởi những tác động trở lại của môi
trường như sau :
+ Các vấn đề xã hội cấp bách là nạn nghèo đói đang lan tràn tại các
nước chậm phát triển, nạn thất nghiệp đang đe doạ nhiều nước trên thế giới
kể cả những nước phát triển nhất, sự cách biệt về thu nhập vá mức sống
giữa các quốc gia, cũng như giữa các nhóm người khác nhau trong cùng
một nước suy giảm về trữ lượng và chất lượng của tài nguyên thiên nhiên
có ý nghĩa cơ bản đối với cuộc sống của con người: đất, nước, rừng thuỷ
sản , khoáng sản và các dạng tài nguyên năng lượng.
+ Ô nhiễm môi trường sống của con người với tốc độ nhanh và
phạm vi lớn hơn trước.
8

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

2.1.2.2.2. Chiều tích cực :
Môi trường bị tàn phá một cách nặng nề và sự tác động trở lại của
nó, môi trường là một khía cạnh đặc biệt quan trọng trong chính sách phát
triển bền vững. Nhưng tác động và ảnh hưởng của môi trường trở lại phát
triển kinh tế không chỉ dừng lại ở đó. Còn có một mặt khác của vấn đề mà
hiện nay ít được đề cập.
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước
ta trong thời gian qua .
Theo ngân hàng thế giới thì chỉ với mức tăng GDP của nền kinh tế
Việt Nam như những năm qua (khoảng 7% / năm) thí mức độ ô nhiễm môi
trường vào năm 2020 có thể gấp 4 - 6 lần mức ô nhiễm năm 2000. Theo
các chuyên gia của Ngân Hàng thì Việt Nam sẽ có mức độ ô nhiễm tăng
cao hơn mức tăng trưởng kinh tế. Tổn thất kinh tế do ô nhiễm là khoảng
0,3% GDP của đất nước vào năm 2000 và tới 2010 sẽ tăng lên tới 9%. Nếu
tính gộp cả các giá trị hưởng thụ bị mất đi, sự mất mát đa dạng sinh học …
thì tỉ lệ này còn lớn hơn gấp bội. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của thế
giới cho thấy rằng: tính trung bình trong 10 năm, nếu tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) của các nước Châu Á tăng lên 3 lần thì mức độ ô nhiễm tăng
lên 5 lần, tỉ lệ này ở Việt Nam là ½. Việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện
nay không đáp ứng nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong
giai đoạn mới. Nhìn chung môi trường ở nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
2.2.1. Các hoạt động kinh tế đã và đang làm suy thoái tài nguyên thiên
nhiên và ô nhiễm môi trường ở Việt Nam .
2.2.1.1.Khai thác tài nguyên thiên nhiên không hợp lý.
- Mở rộng diện tích đất nông nghiệp vào hệ sinh thái rừng, đất ngập
nước…
- Tiếp tục du canh du cư và canh tác nương rẫy.

9

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

- Khai thác bừa bãi động vật hoang dã , tiếp tục buôn bán các loài
thú quý hiếm.
- Sử dụng chất nổ, chất độc, điện để đánh bắt thuỷ sản.
- Khai thác nước ngầm không đúng kĩ thuật.
- Tiếp tục để hoang đất trồng, đất núi trọc.
2.2.1.2.Sản xuất, phát triển kinh tế- xã hội không bền vững.
- Quy hoạch dân số và kế hoạch hoá gia đình chưa đạt yêu cầu cân
bằng, ổn định.
- Khai thác quá mức tài nguyên thuỷ sản trong các khu vực nước
ngọt và ven biển.
- Khai thác bừa bãi các rạn san hô làm vôi, bán làm kỉ niệm.
- Thâm canh nông nghiệp theo hướng tăng thuốc trừ sâu, phân hoá
học.
- Chưa thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động môi trường của
các hoạt động tưới tiêu thuỷ lợi.
- Còn bỏ sót đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển
kinh tế xã hội.
- Chưa kiểm soát được di dân tự do.
- Thực hiên chưa đầy đủ các công ước về bảo vệ môi trường đã kí..
2.2.1.3.Rủi ro và thảm hoạ môi trường xảy ra ngày một nhiều.
- Khai thác và vận chuyển chưa an toàn.
- Chưa kiểm soát tốt các lưu vực.
- Các chất độc hại không có quy chế quản lí.
- Chưa có kế hoạch tốt đề phòng các rủi ro và thảm hoạ môi trường.
- Rừng tiếp tục bị phá là nguyên nhân dẫn đến lũ quét và ngập lụt lớn.
2.2.2. Thực trạng về một số khía cạnh nổi cộm của tình trạng môi trường
sinh thái của Việt Nam trong thời gian gần đây.

10

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

- Những năm gần đây, do việc phát triển kinh tế đã kéo theo quá
trình đô thị hoá ngày càng nhanh. Nhiều nhà máy trước đây nằm ở ngoại
thành giờ đây đã nằm lọt trong các đô thị với lượng dân cư đông đúc, đang
gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường xung quanh. Đặc biệt là tình
tràng ô nhiễm nguồn nước sạch do rất nhiều nhà máy, công xưởng xả nước
thải chưa hề được xử lí nhưng chưa đạt yêu cầu ra sông ngòi, kênh rạch.
- Mặc dù kinh tế nước ta đang đạt mức tăng trưởng khá cao, nhưng
hệ thống thoát nước tại các đô thị hiện nay đều là hệ thống chung cho tất cả
thoát nước mưa, nước thải công nghiệp, đã tồn tại từ rất lâu đời và chưa
được quy hoạch một cách cụ thể. Hệ thống cống rãnh thoát nước yếu kém
cùng với hồ ao bị san lấp đã gây ra tình tràng úng ngập trầm trọng vào mùa
mưa ở nhiều nơi, đặc biệt là các thành phố lớn, làm ảnh hưởng đến sức
khoẻ của con người và việc sản xuất, phát triển kinh tế.
- Do quá trình xây dựng, phát triển kinh tế hiện nay, các nhà máy
công nghiệp, các ngành nghề sản xuất phụ nhanh chóng phát triển. Do đó
mức độ ô nhiễm ở những nơi có nhà máy sản xuất công nghiệp, ngành nghề
sản xuất phụ đã và đang gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.”Sở Tài
nguyên môi trường Thanh Hoá, 3 cơ sở sản xuất bột cá làm thức ăn gia
súc thuộc Công ty đầu tư phát triển thuỷ sản Tư Hùng, Công ty cổ phần
nông sản Thanh Hoá và HTX Đại Hải tại cụm cảng cá Lạch Bạng, huyện
Tĩnh Gia, Thanh Hoá đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh
hưởng đến sức khoẻ của hơn 20.000 người dân trong khu vực. Trong đó,
riêng ô nhiễm khí thải từ các lò hơi, lò sấy, lò nghiền và các bãi cá chết dự
trữ làm nguyên liệu chế biến vượt mức cho phép trên dưới 15 lần đến 44
lần...”Các đô thị đều bị ô nhiễm tới mức đáng báo động, đặc biệt là về
nồng độ bụi trong không khí : ”nồng độ bụi trung bình ở các thành phố là
0,4 - 0,5mg/ m3, nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí
nghiệp hay gần đường giao thông lớn đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5
- 3 lần, nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải
11

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

Phòng … ”. Ô nhiễm bụi chủ yếu do giao thông vận tải, xây dựng sửa
chữa nhà cửa và sản xuất công nghiệp gây ra. Tuy nhiên theo số liệu của
trạm quan trắc môi trường quốc gia thì ô nhiễm bụi ở các khu dân cư đô thị
gần các khu công nghiệp từ năm 1995 đến nay có chiều hướng giảm dần.
- Bên cạnh quá trình phát triển kinh tế là sự suy thoái tài nguyên
rừng. Trong mấy chục năm qua, rừng của Việt Nam đang bị tàn phá nặng
nề trên quy mô lớn.
- Do phát triển kinh tế, chúng ta phải khai thác khoáng sản có sẵn
trong tự nhiên. Các nguồn khoáng sản của ta đa dạng chứ không giàu, trữ
lượng thấp. Do đó, đến nay một số khoáng sản của ta đã bị cạn kiệt mà
nguyên nhân chủ yếu không phải sản xuất công nghiệp mà do sử dụng
chúng chưa có hiệu quả và không đúng mục đích. Khác với nguồn khoáng
sản, nhiên liệu hoá thạch do khó khai thác nên chúng ta còn khá nhiều, đây
sẽ là nguồn tài lực quan trọng cho chúng ta phát triển kinh tế trong những
năm tới.
- Qua những thực trạng trên, chúng ta thấy rằng việc đề ra các biện
pháp để giải quyết sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường là vô cùng cần thiết, và là một nhiệm vụ cực kì cấp bách để bảo đảm
sự phát triển bền vững cho các thế hệ sau.
2.2.2.1. Những thành tựu.
- T ính đến cuối năm 2003 nước ta đã có 82 khu công nghiệp được
xây dựng với tổng diện tích khoảng 15.800ha (không kể khu Dung Quất).
Khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp nhất là miền Đông Nam Bộ. Khu
vực này hiện có 42 khu công nghiệp với diện tích 10.001ha. Đồng bằng
sông Hồng là khu vực đứng thứ hai, có 17 khu công nghiệp, với diện tích
2.441ha. Vùng duyên hải miền Trung có 14 khu công nghiệp, với diện tích
2.112ha. Vùng Tây Nguyên có 1 khu công nghiệp với diện tích 181ha,
vùng trung du miền núi phía Bắc có 2 khu công nghiệp với diện tích 139ha.

12

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

Nhìn chung, các khu công nghiệp đã góp phần thúc đẩy phát triển công
nghiệp, tăng trưởng kinh tế. Năm 2002, doanh thu của khu vực này đạt
khoảng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về “Kế
hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”. Mục
tiêu trước mắt của kế hoạch là đến năm 2007 tập trung xử lý triệt để 439 cơ
cở gây ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó 284 là cơ sở sản xuất kinh doanh.
Mục tiêu lâu dài của kế hoạch là đến năm 2012 sẽ tiếp tục xử lý 3.856 cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng còn lại và các cơ sở mới phát
sinh, đồng thời đẩy mạnh công tác phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm.
Các cơ sở công nghiệp cũ (được xây dựng trước năm 1975) đều là
cơ sở vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, một số cơ sở có thiết bị lọc
bụi, hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Các cơ sở này lại rất
phân tán, do quá trình đô thị hoá, nay đã ở vào khu nội thành của nhiều
thành phố. ở thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 500 xí nghiệp trong tổng
số hơn 700 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành, ở thành phố Hà Nội có
khoảng 200 xí nghiệp trong tổng số khoảng 300 cơ sở công nghiệp nằm
trong nội thành. Trong các năm gần đây nguồn ô nhiễm từ hoạt động công
nghiệp nằm trong nội thành có phần giảm bớt do các tỉnh, thành đã tích cực
thực hiện chỉ thị xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nằm xen
kẽ trong các khu dân cư.Phần lớn các cơ sở công nghiệp mới được tập
trung vào 82 khu công nghiệp. Trước khi xây dựng dự án đều đã tiến hành
“Đánh giá tác động môi trường”, nên phần lớn đã đảm bảo đạt tiêu chuẩn
chất lượng môi trường. Tuy vậy, còn nhiều xí nghiệp mới, đặc biệt là các
nhà máy nhiệt điện than, dầu, chưa xử lý triệt để các khí thải (SO 2, NO2,
CO) nên đã gây ra ô nhiễm môi trường không khí xung quanh.
2.2.2.2. Những hạn chế.
Hiệu quả sử dụng đất của các khu công nghiệp còn rất thấp do thành
lập quá nhiều. Tính đến tháng 12 năm 2002, mới có 45% diện tích đất khu
13

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

công nghiệp có thể cho thuê để sản xuất, diện tích đã cho thuê khoảng
4.831ha.
Giữ gìn môi trường và phát triển kinh tế là vấn đề mà các nhà quản lý
và dân chúng đang hết sức quan tâm. Vấn đề này đã được phản ánh trong
Hội thảo Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững diễn ra tại thành phố
Hồ Chí Minh ngày 13/4/2004.
Việt Nam có 600 văn bản pháp quy về môi trường hoặc liên quan
đến môi trường được ban hành nhưng tính khả thi không cao.
Việc lập quy hoạch môi trường ở Việt Nam đã được quy định trong
Luật Bảo vệ môi trường nhưng hiện nay mà chỉ có Hà Nội, TP.HCM xây
dựng quy hoạch. Nhưng phần lớn các quy hoạch này hiện cũng mới chỉ
tính đến các yếu tố như tài nguyên, hệ sinh thái mà chưa đi sâu vào các vấn
đề kinh tế, văn hóa xã hội, cơ chế chính sách đầu tư... vốn là những điều
cần thiết cho sự phát triển bền vững.
Vấn đề lồng ghép yếu tố môi trường vào trong các qui hoạch phát
triển đã trở thành một yếu tố cấp bách không thể phủ nhận. Nhưng hiện tại,
quá trình này sẽ gặp nhiều khó khăn. Đó là các nhà hoạch định chính sách
và lập quy hoạch thường chưa nhận thức được đầy đủ sự cần thiết của việc
gắn kết các cân nhắc về mặt môi trường vào các quy hoạch phát triển.
Trong khi đó, các nhà quản lý môi trường thường bị đứng ngoài quá trình
xây dựng các quy hoạch phát triển đó. Nhiều ngành kinh tế phát triển
nhanh gây áp lực lớn đến môi trường như ngành công nghiệp, khai thác
khoáng sản, giao thông vận tải... Nhưng khi lập quy hoạch phát triển lại
hầu như không đề cập đến phát triển bền vững theo khía cạnh môi trường.
3. Một số biện pháp để kết hợp phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay.

14

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688

3.1. Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống
và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường, giáo dục dân số,
môi trường và xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, khẩn
trương ban hành các chính sách về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi
trường, xây dựng và củng cố pháp lí về thể chế bảo vệ môi trường.
- Cần nhanh chóng đồng bộ hoá và hoàn thiện không ngừng hệ
thống pháp luật bảo vệ môi trường quốc gia ( gồm Luật bảo vệ môi trường
và các bộ luật khác về thành phần hay khu vực môi trường quốc gia như:
luật rừng, luật biển, luật khoáng sản, luật đất đai … ). Hệ thống luật và các
thể chế càng đầy đủ, cụ thể, đồng bộ, tiên tiến và được thực thí nghiệm túc,
thì chắc chắn sẽ trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ môi trường. Đa dạng
hoá các thể chế bảo vệ môi trương ( bao gồm các tổ chức, cơ quan, hiệp
hội, nhà nước hay phi nhà nước, các ngành và chuyên trách trong các lĩnh
vực nghiên cứu và quản lí và bảo vệ môi trường chung.
3.2. Đánh giá tác động môi trường và quản lí tai biến môi trường, chủ
động phòng chống ô nhiễm và củng cố môi trường, khắc phục suy
thoái môi trường.
- Để quản lí tai biến môi trường cần xác định đặc trưng, khả năng
gây hại môi trường của nó. Vì vậy, cần tiến hành điều tra cơ bản môi
trường và thu nhập các dữ liệu quan trong liên quan để xây dựng hệ thống
dự trữ môi trường của quốc gia. Cần khẩn trương xây dựng đồng bộ và hệ
thống hoá hệ thống quan trắc môi trường quốc gia.
- Cán bộ các tỉnh thành phó tổ chức phân loại các cơ sở gây ô nhiễm
và có kế hoạch xử lí phù hợp, kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc di chuyển
địa điểm các cơ sở hoặc bộ phân của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất.
- Áp dụng công nghệ sạch, ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng
lượng.
15