Tải bản đầy đủ
Mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất

Mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận triết học

Lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất trong phơng thức sản xuất.
Khi lực lợng sản xuất(LLSX) phát triển thì cùng với nó quan hệ sản
xuất(QHSX) cùng phát triển, hai mặt này chính là điều kiện tiền đề cho sự
phát triển của phơng thức sản xuất. LLSX là yếu tố động, luôn luôn vận động
theo hớng hoàn thiện còn QHSX phải vận động theo để cho kịp với trình độ
của LLSX, tạo động lực phát triển LLSX và có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế.
Tuy nhiên khái niệm thống nhất này cũng chỉ là tơng đối. Bản
thân khái niệm đã nói lên tính chất tơng đối của nó. Thống nhất của cái đối
lập, trong thống nhất đã bao hàm trong đó sự đối lập.
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không
tách rời sự đấu tranh chuyển hoá giã chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại
trong cùng một sự vật thống nhất nh một chỉnh thể trọn vẹn nhng không nằm
yên mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản
thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá và bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhiều dạng khác nhau.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội có giai cấp đối
kháng, mâu thuẫn giữa LLSX tiên tiến với QHSX lạc hậu, kìm hãm nó diễn ra
gay gắt và quyết liệt. Chỉ có thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng nhiều
hình thức kể cả bạo lực mới có thể giải quyết đợc mâu thuẫn một cách cơ bản.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia làm nhiều giai đoạn.
Thông thờng khi mới xuất hiện, mặt đối lập cha thể hiện rõ xung khắc gay gắt,
ngời ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác
nhau nào cũng đợc gọi là mâu thuẫn chỉ có những mặt khác nhau, tồn tại trong
cùng một sự vật hiện tợng liên kết hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiều nhau,
tạo thành động lực bên trong của sự phát triển khi hai măt ấy mới hình thành
bớc đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai
đoạn xung đột gay gắt nó biến thành độc lập. Nếuhội đủ các mặt cần thiết hai
mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau. Sự vật cũ mất đi, sự vật mới xuất hiện. Sau
khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ đợc thay thế
bằng sự thống nhất của hai mặt đối lập mới , hai mặt đối lập mới lại đấu tranh
chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn đợc giải quyết sự vật mới hơn
xuất hiện với trình độ cao hơn. Cứ nh thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làm

3

Tiểu luận triết học

cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp đến cao. Chính vì vậy LêNin khẳng
định sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Khi bàn về mối quan hệ thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối
lập LêNin đã chỉ ra rằng: Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại
với ý nghĩa nó chính là nó nhờ có sự thống nhất giữa các mặt đối lập mà chúng
ta nhận biết đợc sự vật ,hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản
thân sự thống nhất chỉ là tơng dối tạm thời, đấu tranh giữa các mặt đối lập mới
là tuyệt đối. Nó diễn ra thờng xuyên và liên tục trong suốt quá trình tồn tại của
sự vật, kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt
về chất của các mặt đối lập, là có điều kiện thoáng qua, tạm thời tơng đối. Sự
đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng nh sự phát
triển, sự vận động là tuyệt đối.
II. Sự chuyển hoá của các mặt đối lập.
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới chuyển hoá, bài trừ
và phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên chuyển hoá của các mặt đối lập thờng xuyên diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội sự chuyển hoá của các
mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con ngời.
Chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật
cũ mất đi, sự vật mới ra đời, đó chính là quá trình diễn biến rất phức tạp với
nhiều hình thức phong phú.
Do đó không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối
lập, chỉ là sự hoán vị đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc. Thông thờng thì
mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức:
Phơng thức thứ nhất: Mặt đối lập ày chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
Ví dụ: LLSX và QHSX trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển
hoá lẫn nhau để hình thành QHSX mới là QHSX TBCN và LLSX mới cao hơn
về trình độ.
Phơng thức thứ hai: Có hai mặt chuỷên hoá lẫn nhau để hình
thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
4

Tiểu luận triết học

Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kế hoạch hoá tập trung,
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất
kỳ sự vật hiện tợng nào cũng chứa đựng trong bản thân của nó những mặt,
những thuộc tính có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau. Sự đấu tranh
chuyển hoá của các mặt đối lập trong những điều kiện cụ thể tạo thành mâu
thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tợng khách quan phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn đợc giải quyết sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh ra
các mặt đối lập và mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này đấu tranh chuyển hoá
lẫn nhau và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ nh vậy mà các
sự vật ,hiện tợng trong thế giới khách quan thờng xuyên biến đổi và phát triển
không ngừng. Vì vậy mâu thuẫn là nguồn gốc, là động lực của mọi quá trình
phát triển.

Chơng II: Mâu thuẫn biện chứng trong quá
trình chuyển sang KTTTở nớc ta
I. Thực trạng KTTT ở Việt Nam
Nền kinh tế ở nớc ta hiện nay có thể nói đang ở trong giai đoạn
quá độ chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền
KTTT có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Do vậy những đặc
điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nớc ta đơng nhiên là một vấn đề
có ý nghĩa, rất cần đợc nghiên cứu ,xem xét. Nhận thức đợc những đặc điểm
phức tạp của giai đoạn quá độ chúng ta sẽ tránh đợc những sai lầm chủ quan
,nóng vội hoặc những khuynh hớng cực đoan, máy móc: sao chép, nhập
nguyên bản KTTT từ bên ngoài vào.
1.Một số đặc điểm chung của nền KTTT ở nớc ta.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hớng XHCN là một tất yếu lịch
sử, nó nhằm tới mục tiêu cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay cũ đổi mới
hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cả về kinh tế và chính trị-xã hội, bảo vệ và
phát triển chủ nghĩa Mác- LêNin, t tởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh ,điều
kiện mới.

5

Tiểu luận triết học

Nh chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng, tất cả
các nớc XHCN đều thực hiện kinh tế kế hoạch tập trung. Cơ chế vận hành và
quản ký kinh tế này đợc duy trì một thời gian khá dài và xem nh là một đặc trng riêng biệt của CNXH, là cái đối lập với cơ chế thị trờng của CNTB. Sự thực
thì không phải hoàn toàn nh vậy, nền kinh tế tập trung đã đợc các nớc T bản áp
dụng từ trớc khi nhiều nớc xác lập chế độ XHCN nhng các nớc t bản đã xoá bỏ
cơ chế này sau khi chiến tranh kết thúc và đã đạt đợc những thành tựu rất lớn
về kinh tế-xã hội. Công bằng mà nói, nền kinh tế thị trờng cũng cha phải là cái
duy nhất bảo đảm cho sự tăng trởng và phát triển của xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất
hàng hoá là lẽ đơng nhiên. Nh vậy có thể nói rằng nền kinh tế thị trờng cũng
nh nền kinh tế tập trung không phải là thuộc tính cố hữu ,đặc thù của một chế
độ xã hội nào đó, vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh
lịch sử nào cho phù hợp để giành laị hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang trong
giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bởi thế việc phát triển KTTT là một
tất yếu khách quan. Mới chỉ có hơn 10 năm đổi mới vừa qua với việc chuyển
sang KTTT, Việt Nam đã cho nhân dân thế giới ngỡ ngàng. Từ chỗ chúng ta
còn xa lạ, nay đã hội hội nhập đợc với nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Tất cả
những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt đợc khi chuyển sang nền kinh tế thị
trờng đã nói lên công cuộc đổi mới ở nớc ta là một cuộc cách mạng thật sự.
Ơ Việt nam có đặc điểm là bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mac-LêNin, t tởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không
kém phần quan trọng, làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công
cuộc đổi mới hiện nay ở nớc ta.
Trong công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay, Đảng ta một lần nữa
khẳng định những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mac- Lênin và t tởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động.
2. Một số đặc điểm của nền KTTT ở Việt Nam nhìn từ góc độ triết học.
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thị trờng trong những năm gần đay
cho thấy mô hình phát triển kinh tế theo xu hớng thị trờng có sự điều tiết vĩ mô
từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay là một mô hình hợp lý hơn
cả. Mô hình này, về đại thể đáp ứng đợc những thách thức của sự phát triển.

6