Tải bản đầy đủ
Những mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và giải pháp của nó

Những mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và giải pháp của nó

Tải bản đầy đủ

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

chúng ta mới đa ra đợc phơng hớng giải quyết thích hợp, từ đó mới tạo điều kiện
thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hớng tích cực. Trong nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, trong phạm vi bài tiểu luận này,
em đa ra một số mâu thuẫn cơ bản và những phơng hớng giải quyết của nó.
2.1. Mâu thuẫn giữa con ngời và mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa
Trong xã hội ngày nay tồn tại một bộ phận nhân dân vì chạy theo đồng
tiền sẵn sàng huỷ hoại nhân cách đạo đức của mình, họ sẵn sàng làm tất cả miễn
là có tiền, kết quả là làm cho một số cán bộ tha hoá biến chất, tham ô, tham
nhũng, v.v..., làm cho một bộ phận tầng lớp thanh thiếu niên h hỏng lao vào con
đờng ăn chơi sa đoạ với những tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, v.v sống không có lý
tởng, cộng với những phần tử cực đoan chống phá cách mạng âm mu bạo loạn lật
đổ chế độ. Trong khi đó mục tiêu của chúng ta là xây dựng thành công CNXH
mà muốn xây dựng thành công CNXH thì trớc hết theo chủ tịch Hồ Chí Minh là
phải xây dựng con ngời chủ nghĩa xã hội. Bởi vì con ngời là hạt nhân của xã hội,
là cái đích của mọi sự phát triển.
Con ngời CNXH là con ngời phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Mục tiêu của CNXH là bắt
đầu từ con ngời, lấy con ngời làm điểm xuất phát, đồng thời cũng là mục tiêu
cuối cùng của xã hội.
Để giải quyết mâu thuẫn trên thì trớc hết vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc là rất quan trọng, đồng thời cần đẩy mạnh công tác giáo dục về mọi mặt nhằm
hình thành nhân cách, đạo đức tốt đẹp ngay từ đầu. Cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền giáo dục và đặc biệt chú trọng đến tầng lớp thanh niên những chủ nhân tơng lai của đất nớc.
2.2. Mâu thuẫn giữa tiềm năng còn lớn với điều kiện khai thác cha tơng xứng
Nớc ta có một nguồn lao động dồi dào, có trình độ đào tạo và nhận thức tơng đối tốt, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy và sáng tạo các thành tựu khoa học
trên thế giới, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn. Điều đó có nghĩa là nớc ta có một
tiềm năng hết sức to lớn về nhân công và nguồn lao động. Ngoài ra, nớc ta còn
có tiềm năng khoáng sản và động thực vật đa dạng, phong phú. Những tài
nguyên thiên nhiên này có tác dụng tích cực đến việc phát triển kinh tế. Nớc ta
còn có vị trí địa lý rất thuận lợi, dễ mở rộng giao lu với thế giới. Thế nhng trong
thực tế, nớc ta vẫn cha sử dụng hết các tiềm năng này mà còn rất lãng khí trong
việc khai thác và sử dụng tài nguyên. Điều này làm cho nền kinh tế nớc ta cha
thực sự phát huy đợc những khả năng vốn có của mình. Trong điều kiện nền kinh
tế hội nhập nh hiện nay thì việc phát huy các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên
và con ngời ở nớc ta là một việc làm rất cần thiết.
7

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Để giải quyết đợc mẫu thuẫn trên thì cần phải có những biện pháp đồng
bộ, thích hợp, kịp thời. Cụ thể cần đào tạo lại nguồn nhân lực cho phù hợp với
yêu cầu hiện tại, phân bổ lại nguồn nhân lực hợp lý để khắc phục tình trạng nơi
thì thừa lao động, nơi thì thiếu lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đồng bộ
hoá việc khai thác và bảo vệ tài nguyên.
2.3. Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập trong một chỉnh
thể là phơng thức sản xuất. Giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau. Lực lợng sản
xuất là nội dung của sự vật, còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật. Do vậy lực
lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất còn quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất thờng
xuyên vận động và phát triển nên quan hệ sản xuất cũng phải luôn thay đổi để
phù hợp với sự phát triển đó. Có nh vậy mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển, còn
ngợc lại thì nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất
dẫn đến kìm hãm sự phát triển kinh tế. Đại hội Đảng VI của nớc ta đã làm một
minh chứng cho điều này đó là việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, bởi quan hệ sản
xuất năm 1896, có tác dụng tích cực khi nớc ta còn chiến tranh, nhng khi đất nớc
hoà bình thì nó không còn phù hợp, nó trở nên lạc hậu, trở thành yếu tố kìm hãm
sự phát triển của kinh tế nớc ta. Công cuộc đổi mới đã thu đợc rất nhiều thành
tựu đáng kể. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất đã đợc giải quyết mà thực sự, nó lại chuyển thành một
mâu thuẫn mới với sự thống nhất và đấu tranh mới.
Hiện nay, đất nớc đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây
dựng nền kinh tế nớc ta trở thành nền kinh tế tri thức. Lúc này đòi hỏi phải phát
triển lợng sản xuất theo kịp với trình độ thế giới. Và thực tế, lực lợng lao động
của chúng ta có trình độ, có năng lực, khả năng sáng tạo cao, cộng thêm sự cần
cù, chịu khó vốn có của ngời Việt Nam; việc mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện
cho chúng ta đã tiếp thu đợc nhiều thành tựu của khoa học trên thế giới với
những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của họ áp dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên,
do ảnh hởng nặng nề của cơ chế cũ, quan hệ sản xuất ở nớc ta vẫn cha theo kịp
sự phát triển của lực lợng sản xuất. Điều đó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của
đất nớc. Điều này đợc thể hiển cụ thể: trong nền kinh tế của nớc ta vẫn tồn tại
nhiều thành phần kinh tế với những quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất khác nhau,
giữa các thành phần kinh tế lại có sự mâu thuẫn về lợi ích làm cho sự quản lý ở

8

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

tầm vĩ mô là rất khó, gây ra nhiều sự bất cập trong các chính sách của Nhà nớc.
Thêm vào đó, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất vẫn còn nhiều yếu kém, tình
trạng này đã gây lên sự đan xen, chồng chéo quyền lực giữa các cơ quan quyền
lực của Nhà nớc làm cho một số thủ tục pháp lý trở lên phức tạp, cản trở việc
kinh doanh của các doanh nghiệp; tình trạng tham ô, cửa quyền của một số cán
bộ trong bộ máy Nhà nớc ta vẫn còn rất nhức nhối, nó đã làm cho quan hệ tổ
chức, quản lý sản xuất không đợc lành mạnh; sự phân công lao động xã hội cha
hợp lý; sự chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất cha cao. Ngoài ra, quan hệ
phân phối sản phẩm cha đợc tổ chức một cách hợp lý. Tất cả những yếu kém này
đã làm kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Dẫn đến làm chậm sự phát
triển của nền kinh tế đất nớc. Để giải quyết mâu thuẫn này thì trớc hết vai trò
quản lý vĩ mô của Nhà nớc là rất quan trọng. Tuy nhiên, cần phải có những giải
pháp hợp lý, đúng đắn thì mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trớc hết cần tăng cờng vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc,
đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, hớng các thành phần kinh tế t bản t nhân,
kinh tế cá thể theo định hớng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kết hợp hài hoà lợi ích
giữa các thành phần kinh tế; tinh giảm bộ máy Nhà nớc, kiên quyết xử lý những
cán bộ có hiện tợng tiêu cực. Sau cùng, đẩy mạnh và nâng cao trình độ của lực lợng lao động, lấy con ngời làm nòng cốt, không ngừng cải tiến và nâng cao nền
khoa học và công nghệ nớc nhà.
2.4.Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể
Để lợi ích là một trong những động lực phát triển kinh tế, cần phải coi
trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội đều nằm trong hệ thống lợi ích kinh tế, chúng gắn bó chặt chẽ
với nhau, luôn luôn phủ định nhau; trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị
vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển xã hội, còn ngợc lại, lợi ích tập thể bị vi phạm thì sẽ gây ra những thiệt hại cho xã hội, kìm
hãm sự phát triển kinh tế. Chẳng hạn, khi một thiểu số cá nhân đợc hởng lợi thì
cộng đồng xã hội lại phải gánh chịu những thiệt hại do những cá nhân đó gây ra,
đồng nghĩa với việc lợi ích của xã hội bị vi phạm.
Điều cần thiết là chúng ta phải phân biệt lợi ích chính đáng của cá nhân
với lợi ích ích kỷ của cá nhân. Lợi ích chính đáng của cá nhân là động lực phát
triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng còn lợi ích ích kỷ của cá nhân là
nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân đã làm cho một số không
ít cán bộ trong bộ máy Nhà nớc tha hoá biến chất, ăn cắp, tham nhũng. Kinh tế
thị trờng đã làm cho tâm lý một bộ phận nhân dân chạy theo đồng tiền, họ làm

9

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

bất cứ điều gì, kể cả những việc vô nhân đạo, miễn là thu đợc lợi bất chấp hậu
quả trớc mắt và lâu dài của việc làm đó.
Nhng nếu chúng ta chỉ quan tâm đến lợi ích xã hội mà quên đi lợi ích cá
nhân thì lúc đó bản thân cá nhân sẽ không còn đóng góp tích cực cho xã hội, gây
ra kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trong giai đoạn hiện nay mặc dù Nhà nớc ta
đã có nhiều chính sách hỗ trợ để phát huy tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân
nhng tình trạng này không phải đã hết. Điều này do những sai lầm trong chủ trơng, chính sách của Nhà nớc làm hạn chế, ngăn cản sự phát triển phong phú của
nhu cầu, lợi ích cá nhân, làm suy giảm đáng kể sự tích cực sáng tạo của cá nhân.
Có thể nói mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội tồn tại là một
yếu tố khách quan. Để giải quyết mâu thuẫn này cần gắn lợi ích cá nhân với lợi
ích tập thể, chúng ta không thể kêu gọi cá nhân hãy vì lợi ích tập thể mà cần thực
hiện các biện pháp đấu tranh cụ thể; phải chống lại chủ nghĩa cá nhân, những
biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhất là cá nhân cực đoan; đối với hàng ngũ cán
bộ cần thực hiện các biện pháp nh kê khai tài sản, thuyên chuyển cán bộ, thực
hiện việc trng cầu dân ý, v.v
2.5. Mâu thuẫn giữa lợi ích của ngời lao động và lợi ích của ngời thuê lao động
Mặc dù mục tiêu của chúng ta là xoá bỏ bóc lột, đảm bảo công bằng xã
hội. Nhng trong thời kỳ quá độ, chúng ta vẫn phải chấp nhận là có thành phần
kinh tế t bản chủ nghĩa trong cơ cấu kinh tế tức là chấp nhận có hình thức sở hữu
và kinh doanh, có thuê mớn lao động và có bóc lột sức lao động. Do vậy nó chứa
đựng mâu thuẫn giữa lợi ích của ngời lao động làm thuê và lợi ích của ngời thuê
mớn lao động. Mâu thuẫn giữa lợi ích của ngời lao động và lợi ích của ngời thuê
mớn lao động nằm trong hệ thống lợi ích kinh tế và nó là mâu thuẫn rất cơ bản
và chủ yếu của nền kinh tế t bản chủ nghĩa, diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp.
Ngày nay, các hình thức bóc lột công nhân không diễn ra một cách trắng trợn mà
có nhiều biến tớng, chẳng hạn nh trong các công ty cổ phần, công nhân có thể
mua các cổ phần để đợc chia lợi nhuận của công ty theo tỷ lệ cổ phần mình mua,
điều đó có nghĩa là - theo nh lời của các nhà t bản thì công nhân không hề bị bóc
lột, họ cũng có vai trò tơng đơng với các nhà t bản trong công ty. Nhng trong
thực tế, lợng cổ phần mà công nhân có chỉ rất nhỏ so với nhà t bản, do vậy bản
chất bóc lột lao động làm thuê của các nhà t bản ở đây vẫn không hề thay đổi mà
chỉ biến tớng theo dạng khác.
Do vậy, trong giai đoạn hiện nay thì mâu thuẫn giữa lợi ích của ngời lao
động và lợi ích của ngời thuê mớn lao động tồn tại khách quan cùng với s tồn tại
của thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa. Không có cơ sở để khẳng định rằng,

10

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hình thức kinh doanh có thuê mớn lao
động ngày càng giảm đi. Và cũng là sai lầm nếu cho rằng, chỉ có thành phần
kinh tế nhà nớc và thành phần kinh tế hợp tác xã là phát triển theo định hớng
XHCN và sẽ thay thế dần các thành phần kinh tế còn lại, theo tôi tất cả các thành
phần kinh tế đều phát triển theo một định hớng duy nhất: định hớng XHCN.
Để giải quyết đợc mối quan hệ có trên thì chúng ta phải kết hợp hài hoà
giữa các lợi ích: lợi ích của ngời lao động, lợi ích của ngời thuê mớn lao động và
lợi ích của Nhà nớc. Nếu bất kỳ lợi ích nào bị vi phạm thì cũng ảnh hởng tiêu
cực đến sự phát triển kinh tế.
Nhà nớc, bằng hệ thống pháp luật và những chính sách kinh tế- xã hội của
mình vừa khuyến khích lợi ích chính đáng và tính sáng tạo của các nhà kinh
doanh vừa hạn chế sự bóc lột ngời lao động và những tiêu cực trong hoạt động
kinh doanh của họ. Thông qua công cụ thuế, và các khoản đóng góp khác, Nhà
nớc điều tiết lại thu nhập, phân bổ lại của cải xã hội, mở rộng, phát triển các chơng trình xã hội. Thông qua hệ thống pháp luật Nhà nớc buộc các cơ sở kinh
doanh có những chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với ngời lao động.
2.6. Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc
ta đều hoạt động trong cùng một hệ thống phân công lao động xã hội., không
một thành phần kinh tế nào nằm ngoài hệ thống đó. Tuy nhiên, do lợi ích về kinh
tế về cơ bản và lâu dài giữa các thành phần kinh tế là không giống nhau nên tất
yếu phải nảy sinh những mâu thuẫn. Trong tình hình hiện nay, các chính sách
của Nhà nớc và hệ thống pháp luật còn thiếu và cha đồng bộ, còn nhiều bất cập,
cộng thêm những kinh nghiệm quản lý vi mô còn thiếu, vai trò chủ đạo của
thành phần kinh tế quốc doanh còn non kém, thành phần kinh tế tập thể cha lớn
mạnh cho nên những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế còn biểu hiện mạnh
mẽ, gay gắt. Mâu thuẫn giữa một bên là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh
tế t bản Nhà nớc với một bên là tính tự phát t sản, tiểu t sản của kinh tế t bản t
nhân và kinh tế cá thể. Biểu hiện ở việc kinh doanh của một số doanh nghiệp
không lành mạnh, một số tiêu cực nẩy sinh nh trốn thuế, khai man thuế, tình
trạng sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lợng còn nhiều; cạnh tranh
không lành mạnh sẽ ảnh hởng rất nghiêm trọng đến nền sản xuất hàng hoá.
Các loại mâu thuẫn nói trên diễn biến hết sức phức tạp, tồn tại và tác động
lẫn nhau trong suốt thời kỳ quá độ. Do vậy để phát triển kinh tế một cách lành
mạnh, theo định hớng XHCN thì cần phải có những biện pháp đồng bộ kịp thời,
cần kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, đảm bảo sự

11

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

công bằng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về quyền lợi cũng nh nghĩa vụ
tăng cờng vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh. Đối với các doanh
nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ nhiều có thể cho giải thể hoặc cho cổ phần
hoá (kể cả những doanh nghiệp quốc doanh không đóng vai trò chủ chốt). Có
chính sách u đãi thoả đáng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hớng hoạt
động của các thành phần kinh tế t bản t nhân, kinh tế cá thể theo định hớng chủ
nghĩa xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
2.7. Mâu thuẫn giữa tính tự phát và tính tự giác trong sự phát triển kinh tế xã hội
Hiện tại nền sản xuất của nớc ta vẫn là một nền sản xuất nhỏ, trình độ kỹ
thuật vẫn còn lạc hậu, do đó không thể tránh khỏi tính tự phát t bản chủ nghĩa, và
đặc biệt trong cơ cấu các thành phần kinh tế vẫn còn các thành phần kinh tế t bản
t nhân, t bản nhà nớc do đó tính tự phát t bản chủ nghĩa càng cao. Nếu để nền
kinh tế phát triển một cách tự phát thì không thể thực hiện đợc các mục tiêu của
CNXH. Ngợc lại, cũng cần có sự nhận thức đúng đắn các xu thế, các quy luật
khách quan của xã hội. Do vậy việc nhận thức đúng đắn sẽ có tác dụng to lớn,
nhng nếu sự nhận thức có sai lầm, nhất là trên bình diện quốc gia thì hậu quả
thật khôn lờng.
Nh vậy việc giải quyết mâu thuẫn giữa tính tự phát và sự tự giác là một
nhiệm vụ cấp bách nhng cũng đòi hỏi sự thận trọng rất lớn bởi lẽ sự mâu thuẫn
này diễn ra rất phức tạp trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Không thể ngay
một lúc mà ta có thể xoá bỏ hoàn toàn mọi hoạt động tự phát của con ngời và
biến mọi hoạt động của con ngời thành hoạt động tự giác ngay đợc. Để khắc
phục những hậu quả do mâu thuẫn này gây ra, cần từng bớc nâng cao nhận thức
của ngời dân về CNXH, về đờng lối cách mạng mà Đảng và Nhà nớc ta đang xây
dựng, đồng thời cũng cần phải nâng cao năng lực nhận thức cũng nh năng lực tổ
chức, quản lý, phối hợp hoạt động trên bình diện xã hội..
2.8.Mâu thuẫn giữa bình đẳng, công bằng xã hội với tình trạng bất bình đẳng,
bất công trong xã hội
Một trong những khuyết điểm của nền kinh tế thị trờng là sự bất bình
đẳng, bất công bằng xã hội, mặc dù mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là đảm bảo
công bằng xã hội. Trong cơ chế cũ thì việc quan niệm không đúng về vấn đề
bình đẳng xã hội đã gây ra sự yếu kém, trì trệ trong nền kinh tế.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là đảm bảo xã hội công bằng, văn minh, nhng
nền kinh tế thị trờng lại sản sinh ra những hiện tợng tiêu cực nh: sự phân hoá
giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nạn thất nghiệp, tình trang bất công tiêu cực ngày
càng gia tăng. Nhng nếu chúng ta thực hiện đảm bảo công bằng xã hội thì những
mặt tiêu cực đó cũng sẽ bị hạn chế và ít có biểu hiện rõ nét hơn. Bên cạnh việc
12

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

đấu tranh cho bình đẳng xã hội, chúng ta vẫn phải chấp nhận có sự bất bình đẳng
do yêu cầu khắt khe của quy luật thị trờng.
Theo xu hớng chung, thì sự bất bình đẳng cũng sẽ dần bị sự bình đẳng,
công bằng xã hội phủ định, dần dần thay thế, nhng trớc mắt chúng ta chỉ phấn
đấu thực hiện bình đẳng về cơ hội, còn về mặt hởng thụ thì chỉ thực hiện bình
đẳng ở một số nhu cầu cơ bản nhất rồi dần phát triển lên.

13

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

2.9. Mâu thuẫn giữa trình độ và năng lực thấp kém với yêu cầu đòi hỏi ngày
càng cao của thị trờng
Nhìn chung, nớc ta vẫn là một nớc nghèo, nền kinh tế nớc ta còn chậm
phát triển, trình độ sản xuất vẫn còn thấp kém, nhỏ bé, sản phẩm làm ra cha đủ
sức cạnh tranh với các sản phẩm nớc ngoài. Trong khi đó nớc ta lại là một nớc có
dân số đông và nhu cầu về vật chất và tinh thần của ngòi dân ngày càng cao dẫn
đến cung không thể đáp ứng đầy đủ cầu. Hơn nữa khả năng chiếm lĩnh thị trờng
của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, chúng ta cha có những sản
phẩm chủ lực để xâm nhập vào các thị trờng thế giới, cha có nhiều kinh nghiệm
làm ăn với các bạn hàng nớc ngoài.
Điều đó dẫn đến mẫu thuẫn trên là tất yếu khách quan, để giải quyết mâu
thuẫn này thì, trớc hết Nhà nớc phải có những chính sách u đãi và hỗ trợ các
doanh nghiệp trong việc tìm đầu ra, đặc biệt là việc thâm nhập vào thị trờng nớc
ngoài. Đối với bản thân các doanh nghiệp không nên trông chờ ỉ lại, mà phải linh
hoạt trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và đặc biệt ứng dụng công nghệ
thông tin trong các hoạt động quản lý, tìm hiểu thị trờng, giới thiệu sản phẩm,
v.v

14

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Kết luận
Mọi sự vật hiện tợng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hớng đối
lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó; sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất
đi và cái mới ra đời thay thế. Có giải quyết đợc những mâu thuẫn đó mới có thể
phát triển kinh tế. Do vậy trong mọi hoạt động thực tiễn ta phải luôn luôn nhận
thức và phân tích đợc các mặt đối lập trong một mâu thuẫn để từ đó tìm ra
khuynh hớng vận động và sự phát triển của chúng làm cơ sở cho việc hoạch định
chính sách từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô.
Nhận thức đợc các mâu thuẫn là một vấn đề hết sức quan trọng nhng đồng
thời việc giải quyết các mâu thuẫn đó lại càng quan trọng hơn, nó có ý nghĩa
quyết định sự thành công trong việc phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN ở nớc ta. Do đó cần phải nắm vững nguyên tắc để giải quyết những mâu
thuẫn đó. Đó là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập. Bất kỳ mâu thuẫn nào, bất kỳ
giai đoạn nào của mâu thuẫn, mâu thuẫn chỉ đợc giải quyết bằng đấu tranh giữa
các mặt đối lập.
Xây dựng nớc ta trở thành một nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mục
tiêu trớc mắt và lâu dài của Đảng và Nhà nớc ta đề ra. Để đạt đợc mục tiêu đó thì
chúng ta cần đổi mới nhận thức và phơng thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
Nâng cao vai trò và hoàn thiện cơ chế quản lý nền kinh tế của Nhà nớc XHCN.
Cải tạo và xây dựng cơ cấu trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Xây
dựng hạ tầng hiện đại, phát triển đồng bộ thể chế và các thị trờng riêng của nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và
công nghệ nhằm rút ngắn khoảng cách về trình độ lực lợng sản xuất so với thế
giới đồng thời chúng ta phải luôn luôn nhìn nhận một cách đúng đắn những mâu
thuẫn để đa ra những giải pháp tốt nhất, tạo đà cho sự phát triển kinh tế đất nớc.

15

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Triết học - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
2. Giáo trình Triết học Mác - Lênin - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
3. Tạp chí Triết học
4. Website của Đảng Cộng sản Việt Nam
5. Văn kiện Đại hội Đảng các khoá

16