Tải bản đầy đủ
a. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp.

a. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ

lợng của doanh nghiệp t nhân bắt đầu tăng nhanh, vợt quá của kinh tế Nhà nớc.
Từ đó Nhà nớc ta lại phải chọn hớng đi mới cho doanh nghiệp. Từ việc Nhà nớc
quản lý tài chính của doanh nghiệp, vạch kế hoạch cho doanh nghiệp Nhà nớc,
định mức sản xuất - bù lỗ cho doanh nghiệp thì chuyển sang Nhà nớc giao cho
doanh nghiệp tự quản lý mọi vấn đề thu chi tài chính, tự vạch kế hoạch sản xuất
kinh doanh và nộp thuế cho Nhà nớc. Đó là phơng diện quản lý, về hớng đi, sau
hơn 10 năm hoạt động các doanh nghiệp của Đảng đã có những đóng góp tích
cực và quan trọng vào ngân sách Nhà nớc, giải quyết cho hàng vạn lao động có
việc làm. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay khi Nhà nớc đã ban hành luật
doanh nghiệp nhằm tạo cơ chế thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, khoảng cách về sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp của Đảng và
doanh nghiệp Nhà nớc ngày càng dãn ra. Vì thế có nhiều ý kiến cho rằng vấn đề
Nhà nớc thống nhất quản lý doanh nghiệp để Đảng cũng chuyên tâm hơn với
công tác lãnh đạo toàn diện của mình. Về vấn đề này có nhà lãnh đạo cho rằng
xu hớng chung nên sắp xếp gọn lại và chuyển doanh nghiệp sang cho chính
quyền quản lý đối với những doanh nghiệp mà Đảng thấy cần thiết và có hiệu
quả thì có thể cho tồn tại nhng hoạt động phải đúng pháp luật. Chứ không thể
nh hiện nay doanh nghiệp vừa phải làm nghĩa vụ với Nhà nớc vừa phải đóng góp
cho ngân sách Nhà nớc thì doanh nghiệp không thể gánh đợc.
Quá trình cải cách các doanh nghiệp Nhà nớc của nớc ta trong những năm
qua đã đạt đợc một số kết quả khá khả quan, nhng bên cạnh còn tồn tại một số
mặt cần điều chỉnh lại. Sau năm 1975 khi đất nớc thống nhất, chúng ta đứng trớc
một cơ hội mới để xây dựng và phát triển tuy nhiên do những khó khăn khách
quan và chủ quan nh: hậu quả nặng nền của chiến tranh, xuất phát điểm thấp của
nền kinh tế, lại bất ổn quan hệ với các nớc láng giềng, nhất là sai lầm trong các
chính sách kinh tế nên đến năm 1985 nền kinh tế nớc ta rơi vào khủng hoảng
nghiêm trọng. Tính chung trong 10 năm (1976-1985) thu nhập quốc dân mỗi
năm tăng 3,7%, giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp tăng trung bình là 5,2%/năm.
Sản xuất tăng ở mức chậm và lạm phát ở mức ba con số. Năm 1986 lạm phát đạt
mức siêu lạm phát tới đỉnh cao là 774,7%. Đại hội Đảng VI (12/1986) đã đa ra
đờng lối đổi mới kinh tế đã mang lại những thành tựu kinh tế quan trọng, đã đa
nớc ta ra khỏi khủng hoảng và tạo ra những tiền đề vững chắc cho sự phát triển,
cuộc cải cách kinh tế cho thấy khu vực kinh tế Nhà nớc càng quan trọng. Trớc
năm 1986 khu vực quốc doanh chỉ đạt 38% GDP đến năm 1988 chiếm 40,2%
GDP, tốc độ tăng bình quân của khu vực quốc doanh trong những năm này là
10,5% trong khi khu vực ngoài quốc doanh chỉ tăng 6,1%. Khi bắt đầu chuyển

15

sang cơ chế hoạt động mới phần lớn các doanh nghiệp Nhà nớc thiếu vốn, kỹ
thuật, lúng túng trong phơng pháp hoạt động. Chính vì vậy, một trong những nội
dung cơ bản trong cải cách khu vực quốc doanh là phải cơ cấu lại và sắp xếp lại
các doanh nghiệp nhằm khắc phục dàn trải, nâng cao hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp Nhà nớc. Một số biện pháp nh đăng ký lại doanh nghiệp, giải thể
các đơn vị hoạt động yếu kém, cổ phần hoá các doanh nghiệp, tổ chức các tổng
công ty,... nhng nhìn chung các biện pháp thực hiện có những kết quả nhất định,
cải cách DNNN đợc tiến hành qua những bớc sau:
Giai đoạn 1: trớc năm 1990, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất
hàng hoá và thị trờng, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đợc phên phán triệt để,
chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Trong thời gian này doanh nghiệp đợc
thành lập trên diện rộng, kể cả ở cấp quận, huyện. Không có sự liên kết chặt chẽ
doanh nghiệp trung ơng và địa phơng. Đến cuối năm 1989 cả nớc có 12.296
DNNN, đặc trng cơ bản của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là quy mô nhỏ
vốn ít và công nghệ lạc hậu. Sự dàn trải của các doanh nghiệp làm cho nguồn
vốn đầu t của Nhà nớc không thể tập trung để phát triển cho các ngành trọng
điểm dẫn đến sự thiếu hụt vốn thờng xuyên, hơn nữa với cơ chế bao cấp, các
doanh nghiệp ít phát huy tính sáng tạo, hoạt động một cách thụ động. Từ sau Đại
hội Đảng lần VI, nền kinh tế Việt Nam bớc sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết
của Nhà nớc. Bên cạnh DNNN còn có các thành phần kinh tế khác đợc Nhà nớc
bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp.
Giai đoạn 2: (1990 - 1994) chủ yếu hớng vào việc tổ chức lại các doanh
nghiệp, giải thể các doanh nghiệp yếu kém, củng cố các doanh nghiệp có khả
năng hoạt động. Chính phủ đã ban hành Nghị định 388/HĐBT, quyết định
315/HĐBT và Chỉ thị 500/TTg nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc làm
giảm bớt đáng kể các DNNN hoạt động yếu kém nếu năm 1989 cả nớc có
12.296 DNNN thì đến năm 1995 còn lại 6.320 doanh nghiệp, số doanh nghiệp
mất đi có 35% là giải thể và 65% là sát nhập vào các doanh nghiệp khác. Đa số
các doanh nghiệp bị giải thể là doanh nghiệp nhỏ, hoạt động không hiệu quả,
thua lỗ triền miên. Việc tổ chức lại DNNN đã làm tăng hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp và năm 1990 số doanh nghiệp thua lỗ 35% còn lại 97% trong
năm 94 đa doanh nghiệp có lãi từ 63,5% trong năm 1991 lên 78% trong năm
1995 với tổng số doanh nghiệp.
Giai đoạn 3: từ năm 95 về sau tiếp tục đổi mới doanh nghiệp theo xu hớng
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn
doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp.
16

Ngoài hệ thống doanh nghiệp quốc doanh, hệ thống doanh nghiệp ngoài
quốc doanh đã phát triển nhanh chóng, sản lợng của hệ thống doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đóng góp GDP ngày càng lớn và nó đóng vai trò ngày càng
quan trọng loại hình doanh nghiệp liên doanh đã gia tăng và đóng góp rất lớn
cho sự phát triển kinh tế đất nớc. Từ năm 1995 trở đi, sau khi Mỹ bỏ cấm vận
Việt Nam - đầu t nớc ngoài tăng lên rõ rệt - cộng với chính sách mở cửa của Nhà
nớc khuyến khích đầu t nớc ngoài, năm 1997 tốc độ tăng trởng kinh tế Việt Nam
đạt 9,8%, cao nhất từ trớc bấy giờ. Thêm vào sự phát triển, hệ thống doanh
nghiệp t nhân rất phát triển dới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là hệ
thống doanh nghiệp mới mẻ nhng lại rất thích nghi trong buổi ban đầu của nền
kinh tế mở của nớc ta, nó đóng vai trò sản xuất phân phối (dịch vụ), đóng góp
vào sự thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó còn có doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài, mô hình hợp tác xã đã một thời đợc hệ thống hoá trong nền
kinh tế, nhng do cơ chế quản lý và sự chậm chạp trong đổi mới mà nó đã thất
bại. Trong thời kỳ đổi mới sự khôi phục lại mô hình HTX và cải tạo hợp tác xã
cho phù hợp với thời kỳ mới và nếu không tham gia vào kinh tế HTX thì không
có sự gắn kết với nhau thì năng lực của mỗi cá thể sẽ bị hạn chế và không có khả
năng phát triển đợc, sự liên kết mật thiết này bổ sung cho nhau, cái này làm điều
kiện tiền đề cho cái kia phát triển và ngợc lại. Cho nên vai trò hỗ trợ kinh tế hộ
phát triển chính là vai trò cơ bản của kinh tế hợp tác xã.
Thực tế 10 năm đổi mới đờng lối kinh tế của Đảng cho thấy, kinh tế HTX
có vai trò to lớn trong nhiều hệ thống sản xuất, trong đó có nhiều sự tham gia
của nhiều cá thể nhỏ bé về kinh tế, yếu kém về nghiệp vụ, non nớt trên thơng trờng,... Thông qua HTX, năng lực sở trờng của họ đợc phát huy, đợc HTX bảo vệ
quyền lợi chính đáng, hỗ trợ vốn và năng lực sản xuất,... vì vậy họ có nhu cầu
tham gia HTX để cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Sự công bằng trong hợp tác
xã là đặc điểm cơ bản mà trong loại hình doanh nghiệp. Một tổ chức đợc hình
thành từ sự tự nguyện cho nên, HTX là nơi mà các xã viên có thể tham gia phân
công lao động xã hội mà HTX mang lại trực tiếp bằng lợi nhuận sản xuất - kinh
doanh của HTX, bằng việc ảnh hởng các chế độ mà Nhà nớc giành cho hợp tác
xã.
Đặc điểm cơ bản thứ ba của kinh tế HTX là tính chất xã hội cao bởi phát
triển kinh tế HTX thờng gắn với phát triển cộng đồng. Chính đặc điểm này mà
môi trờng kinh tế HTX làm cho các ngành nghề truyền thống xích lại gần nhau,
họ trao đổi cho nhau những kinh nghiệm từ gia tộc và đặc biệt là đào tạo ra
những lao động có tay nghề cao không phải trong tộc hay dòng họ. HTX có
17

những hớng đi thiết thực hơn.
Tăng cờng giám sát thực hiện luật tại địa phơng, cần khẩn trơng sửa đổi
những vớng mắc trong quá trình thực hiện luật đó là những điểm mà luật cha dự
đoán hết trong quá trình phát triển rất nhanh của cơ chế thị trờng cho nên một
vài điểm trở thành lực cản cho việc phát triển kinh tế HTX.
Tiếp tục khuyến khích bằng các chính sách u đãi với việc phát triển kinh tế
hộ và nông trại sản xuất hàng tiêu dùng.
Kinh tế trang trại đã là một mô hình phát triển mạnh của nhiều quốc gia,
Việt Nam có đủ điều kiện phát triển loại hình này thông qua HTX để điều tiết
vốn, kỹ thuật vật t cây giống. Nhà nớc không đủ sức cung cấp tiền hoặc các yêu
cầu vật t thiết bị khác cho HTX, ngợc lại các HTX không có gì cần về vốn, kỹ
thuật họ cần Nhà nớc cho là cơ chế. Sau luật HTX, Chính phủ đã ban hành một
loạt Nghị định về chính sách của cơ chế hoạt động đặc thù của HTX. Các giải
pháp cho sự phát triển mô hình HTX.
Tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế và nông trại sản xuất hàng hoá phải
đợc coi là chính sách cơ bản, lâu dài nhằm chuyển sản xuất tự túc, phân tán san
sản xuất hàng hoá tập trung, nh vậy, những ngời sản xuất cần có sự hỗ trợ của
HTX, họ không thể tồn tại đơn phơng là một chủ trang trại, HTX sẽ hớng họ về
một vùng chuyên canh sản phẩm mà họ là những ngời chủ yếu cung cấp sản
phẩm đó. Tới đây, vai trò của Hiệp hội trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, có vai
trò của Hiệp hội đợc quy định bởi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm vụ đợc cụ thể hoá bằng luật.
Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây
Nguyên những nơi có nhiều vùng hoang hoá Chính phủ cần khuyến khích phát
triển mô hình trang trại vừa và lớn bằng cơ chế giao đất 100 năm, miễn thuế 10
năm kể từ khi thu hoạch sản phẩm, cho vay không thế chấp bằng lãi suất u đãi,
bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ khi xảy ra trờng hợp bất khả kháng,... Đối với HTX
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Nhà nớc cần hỗ trợ một phần khi thực sự khó
khăn, hỗ trợ đầu ra hoặc khoanh nợ, giảm thuế đầu vào,...
Các HTX dù công, nông, thơng hoặc tiểu thủ công đều có tính xã hội cao,
từ miền xuôi hay miền ngợc thì tính cộng động là yếu tố xuyên suốt. Việc hình
thành các hình thức liên kết lao động, đất đai, nhà xởng,... cần phải có các chính
sách đợc chế tài bằng các biện pháp cụ thể để tránh sự chiếm dụng vốn.
Hệ thống thông tin để các HTX có thể áp dụng các thành tựu khoa học kỹ

18

thuật áp dụng vào sản xuất còn thiếu hoặc chính các HTX không đủ chuyên môn
để hiểu hoặc áp dụng kỹ thuật mới.
b. Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc.
Khi bớc sang cơ chế thị trờng hầu hết các DNNN của Việt Nam đều gặp
khó khăn và rất bỡ ngỡ. Bỡ ngỡ trong vấn đề quản lý, vấn đề vốn, thị trờng, công
nghệ kỹ thuật lạc hậu. Thị trờng cũ bị phá vỡ, thị trờng mới cha thiết lập đợc,
hàng hoá chất lợng kém, mẫu mã không đẹp, không có sức cạnh tranh cao. Đứng
trớc vấn đề đó Nhà nớc đã có chủ trơng cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc
nhằm cải thiện cung cách quản lý, tăng thêm nguồn vốn vào việc đầu t, mua sắm
thiết bị, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp ở nớc ta còn tồn tại nhiều vấn đề mà
cha kích thích cho sự tiến hành cổ phần hoá. Tỷ lệ doanh nghiệp Nhà nớc cổ
phần hoá với doanh nghiệp cha cổ phần hoá rất thấp, tốc độ cổ phần hoá diễn ra
rất chậm chạp. Và nói chung vấn đề cổ phần hoá đang là con đờng nhiều trở ngại
ở nớc ta nhằm tăng thêm tốc độ chu chuyển đồng vốn trong sản xuất kinh doanh,
Nhà nớc quy định những chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp nh sau:
Mệnh giá cổ phiếu và đối tợng mua cổ phiếu:
Mệnh giá cổ phiếu đợc đem bán sẽ quyết định khả năng thu hồi phần vốn
Nhà nớc. Việc quyết định mệnh giá và số lợng cổ phiếu đem bán có quan hệ mật
thiết với giá trị doanh nghiệp, đến các yếu tố lợi thế và tình thế liên quan đến tơng lai của doanh nghiệp đợc cổ phần hoá.
Mệnh giá (giá trị cổ phiếu) đợc tính theo công thức:
Mệnh giá cổ phiếu = Số cổ phiếu phát hành
Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định số lợng cổ phiếu phát hành khó hơn
là xác định giá trị cổ phiếu, do đó ngời ta tính đảo ngợc.
Số cổ phiếu phát hành =
Mức u đãi đối với ngời lao động trong doanh nghiệp trong việc mua cổ
phiếu theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP nh sau: mỗi năm làm việc cho Nhà nớc đợc mua 10 cổ phiếu (mỗi cổ phần giá 100.000đ).
Về việc bán cổ phần hoá cho nhà đầu t nớc ngoài.
Ngày 28/6/1999 Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 145/1999/QĐ-TTg
về quy chế ban hành cổ phần cho nhà đầu t nớc ngoài. Các DNNN đã thực hiện
cổ phần hoá, các công ty cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác đã có
19

quyết định phát hành cổ phiếu của cấp có thẩm quyền thì đợc bán cổ phần cho
nhà đầu t nớc ngoài không vợt quá 30% vốn điều lệ thì tổ chức bán đấu giá.
Phát triển hệ thống NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, đa nhanh
thị trờng chứng khoán vào hoạt động là những công cụ đắc lực giúp đẩy nhanh
tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc. Có thị trờn chứng khoán vốn đầu t
nhàn rỗi đợc hút vào đầu t. Vốn đầu t càng sinh lời càng kích thích ý thức tiết
kiệm trong dân chúng.
Về chính sách hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp đợc cổ phần hoá.
Nhà nớc nên có những chính sách thật sự u đãi hơn cho các doanh nghiệp
cổ phần hoá, nh:
Giảm mức thuế suất thu nhập công ty cổ phần thấp hơn các loại hình doanh
nghiệp khác (nh nhiều nớc khác đã làm).
Miễn thuế thu nhập cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu t.
Khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá nên theo giá thuận mua
vừa bán không nên quá nặng nề bên nào.
Không nên hạn chế số lợng cổ phần hoá bán ra cho công nhân viên (trừ
lãnh đạo doanh nghiệp) và cho đầu t nớc ngoài.
Số tiền thu đợc từ bán cổ phần nên u tiên đầu t lại cho doanh nghiệp cổ
phần hoá.
Cổ phần hoá DNNN do Nhà nớc chủ động không nên dựa vào sự tự nguyện
của DNNN. Đây là 1 chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc. Cần sự tổng kết, rút
kinh nghiệm để từng bớc tiến nhanh và vững chắc.
2.

Những chính sách cơ bản trong quản lý và điều hành hệ thống doanh
nghiệp nớc ta.

a. Chính sách thu hút vốn - công nghệ.
Muốn phát huy đợc nội lực trong nền kinh tế thì các doanh nghiệp phải huy
động tốt nguồn vốn trong nớc tận dụng mọi khả năng sẵn có để phục vụ cho sản
xuất kinh doanh. Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định trong khi đất nớc còn
nghèo, khả năng tích luỹ còn thấp, tiết kiệm những khoản chi tiêu có thể tiết
kiệm đợc không chỉ là quốc sách, mà cần phải có giải pháp đi thẳng vào thực tế
nh: đổi mới và kiện toàn hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, phải đảm bảo
tính đồng bộ của hệ thống bao gồm các NHTM, các công ty tài chính HTX tín
dụng, quỹ bảo hiểm, quỹ trợ cấp và hu trí, các công ty đầu t,... Hệ thống này phải

20