Tải bản đầy đủ
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ

sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của
mình sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực
lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự
nhiên của con người. Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người
trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con
người.
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động, kĩ năng lao động và tư liệu sản
xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động
để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng
suất lao động cao. Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà
con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là
yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất.Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến
trình độ tin học hoá được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng.
Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lượng sản
xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên
những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển công cụ
lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Tuy nhiên
LêNin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,
người lao động” có thể coi yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính
là con người.
Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên
nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào
các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng
sản xuất.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó
hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
1.2 Khái niệm về quan hệ sản xuất
Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệ với
nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách khác
quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất.
Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay
không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt
động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính
tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra xong nó được hình thành
một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai.Việc phải thiết
lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu ,
khách quan của sự vận động xã hội.
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý
muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất của
3

đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là
cơ sở của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản
xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu
đối với tư liệu sản xuất - Biểu hiện thành chế độ sở hữu. Trong hệ thống các quan
hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với
các quan hệ xã hội khác.
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã được
chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu tư bản đối với tư liệu sản xuất: sở
hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư
liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do tư liệu sản xuất là tài
sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời
sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau. Ngược lại trong
các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải
xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít các quan hệ xã hội do vậy
bất bình đẳng.
- Quan hệ tổ chức và quản lí kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữa người
với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống các
quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lí sản xuất là các quan hệ có
khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản
xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lí và tổ chức có thể làm biến dạng quan
hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với nhau
cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho
chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao
phúc lợi cho người lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lí, trong
hệ thống quan hệ sản xuất,các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng
là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền
kinh tế.Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng
ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở
hữu quyết định tính chất của quản lí và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái
kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi
phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng
không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội
mới.
1.3 Quy luật quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất và mối quan hệ của các
quy luật

4

Quy luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản
xuất , lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt, hai phương thức cơ bản
của quá trình tạo ra của cải vật chất, chúng không tồn tại độc lập tách rời nhau mà
có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành quy luật
phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất. Quy luật cơ bản
nhất của quá trình vận động và phát triển xã hội. Khuynh hướng chung cuả quá
trình sản xuất vật chất là không ngừng phát triển, sự phát triển đó xét cho cùng là
bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của
lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Sự vận
động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản
xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời khi đó quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ
sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành lạc hậu kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất yêu cầu khách quan hoặc phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn
đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, lúc này để thúc đẩy lực lượng sản
xuất tiếp tục phát triển.
Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển. Ngược
lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định sau một thời gian dài.
Sự biến đổi của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân người lao động thì những kĩ năng và kinh nghiệm không ngừng
tích luỹ và tăng lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan đẻ có thể sản xuất
được.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất
định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá bỏ quan
hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong
cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất
mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện cókhông phải là tự thân mà
phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp
quyền là trực tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh
tế cần thiết để để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ
đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như CácMác đã nhận
định “ Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước
đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển. Từ chỗ là những hình thức
phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích
5

của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội”.
Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất thay đổi và quyết định đến quan hệ sản xuất nhưng bản
thân quan hệ sản xuất cũng có sự độc lâp tương đối của nó và tác động trở lại lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất mới quy định mục đích sản xuất, tác động đến
con người lao động trong quá trình lao động, đến tổ chức phân công lao động xã
hội. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc “tiên tiến”
hơn trình độ lực lượng sản xuất một cách giả tạo thì sẽ kìm hãm, hạn chế sự phát
triển của lực lượng sản xuất như nước ta từ sau năm 1975 đến năm 1986, chúng ta
đã kéo quá dài cơ chế chính sách kế hoạch hoá tập trung ,bao cấp với tư tưởng
nôn nóng muốn đưa nước ta tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
quốc, trong khi chúng ta vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh, tàn dư chế độ phong
kiến còn đang tồn tại và hậu quả chiến tranh còn nặng nề, cơ sở vật chất còn
nghèo nàn lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp, khả năng quản lí kinh tế còn yếu, lực
lượng sản xuất thấp kém trong khi đó chúng ta ồ ạt xây dựng một quan hệ sản
xuất ở trình độ không tương xứng, cụ thể trong nông nghiệp xây dựng hợp tác xã
cấp cao, thực hiện duy nhất có 2 hình thức sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước,
thực hiện sở hữu toàn dân...do đó đã làm cản trở sự phát triển của lực lượng sản
xuất, không khuyến khích được người lao động, chưa huy động được nguồn lực
trong xã hội, như ta đã biết sự phù hợp hay không giữa quan hệ sản xuất và trình
độ lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình vận động
và phát triển của xã hội.
2.Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm
80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá trình
đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý
luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào việc giải quyết chúng một
cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy
nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở miền Bắc và
hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới. Ngôi
nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc trưng,
nhưng có hai đặc trưng chất lượng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải
đạt đến , đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội thì nền kinh tế sản xuất của
6

nước ta lại chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự khó
khăn này có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm:
Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp.
Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản
xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu...không đạt chỉ tiêu
đề ra. Nhìn chung, năng suất lao động thấp,chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá
thành cao. Nhiều sản phảm nông nghiệp,công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị
trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngoài. Hệ thống tài chính – ngân hàng còn
yếu kếm và thiếu lành mạnh.Cơ cấu đầu tư chưa hợp lí, đầu tư còn phân tán, lãng
phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm,
công tác quản lí, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót. Quan
hệ một số mặt chưa phù hợp. Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng
với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và
phát triển doanh nghiệp nhà nước.
Một số vấn đề văn hoá – xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa
học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển.
Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống,
thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về
quản lí nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới
có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Trong thời kì quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa, nhà nước ta đã không thấy
rõ bước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiến
hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về
thực chất là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản
xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, điều đó có nghĩa là đưa
quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Để khắc phục những mâu thuẫn có thể
phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước
đi phù hợp và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Những chính sách mới
của đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển một cách mạnh
mẽ. Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
đã đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới. Mọi người được tự do kinh
doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau
7

một cách bình đẳng trước pháp luật... Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là
thúc đẩy nền kinh tế nước nhà.
Để làm rõ hơn về nền kinh tế nước ta trong thời kì quá độ, chúng ta sẽ đi
phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. Tại đại hội lần thứ VI,
Đảng ta đã nhận định: “...Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường
hợp trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển
không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất (Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI. Nxb sự thật, HN, 1987, tr.57). Trong quá trình tiến lên chủ nghiã xã hội phải
kể đến yếu tố chủ quan của việc đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực
xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nước vốn có
của họ. Tuy nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể cho rằng
những yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề thúc đẩy sự phù hợp
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích cực tong
một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian chuẩn bị
vào những năm đầu bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại thời điểm đó nền sản
xuất nông nghiêp không ổn định, nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói kém.
Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể hiện giữa một bên
là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất theo hướng tất yếu chuyển từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu phân tán. Theo một số
nhà nhận định, đây là mâu thuẫn vốn có và mâu thuẫn là phổ biến trong các nền
sản xuất. Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến trình độ cao thì tự bản thân chế
đọ tư hữu nhỏ không thể nào tồn tại như cũ, nó buộc phải thay đổi. Nhìn lại quá
trình chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây Đảng ta đã rút ra được sự
cần thiết của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: “Cần phải nhân rộng mô hình hợp tác,
liên kết Công nghiệp và nông nghiệp, doanh trại nhà nước và kinh tế hộ nông
thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp với trên từng địa bàn
“(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.32). Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng
của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lí với nhiều hình thức sản xuất
nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng
và nhờ đó tạo ra sự biến đổi mới trong các hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt
của quan hệ sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
8

Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trước hết sự phù hợp đó thể
hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trước), mặc
dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thoái
kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản
xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của nông
dân, thực tế cho thấy qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do đảng đề ra, đời
sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con
em nông dân cũng khá hơn trước.
Như vậy thực trạng nền kinh tế có phát triển không? Lực lượng sản xuất có
phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản
xuất vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Một quy luật có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia.
III.KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP
1.Kết luận
Quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên không phải bất cứ
lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt tốt quy luật chúng ta có thể
áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ lực lượng sản xuất còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử
nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử loài người từ chế độ công xã
nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ
nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy
luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Lực lượng sản xuất là nhân tố
thường xuyên biến đổi, ngược lại quan hệ sản xuất lại thường có tính ổn định
song sự ổn định đó chỉ tạm thời và cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp. Nếu
quan hệ sản xuất không có những sự thay đổi cho phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự
phát triển của sản xuất.
Như vậy, trong việc xác lập hoàn thiện, thay đổi quan hệ sản xuất cần phải
căn cứ vào thực trạng của các lực lượng sản xuất hiện có về mặt tính chất và trình
độ phát triển của chúng (đây là cơ sở lý luận trực tiếp của việc xác định cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay của quá trình cải cách của các doanh
nghiệp nhà nước hiện nay).
2.Giải pháp
Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá trình
tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Phải coi
trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ
9

lên quy mô lớn. Trên mỗi bước đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật, tạo ra lực lượng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất
lên hình thức, quy mô thích hợp để cho lực lượng sản xuất phát triển.
Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: “Cần phải” nhân rộng mô hình hợp tác,
liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông
thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn
những hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng được mở rộng, các hình thái kinh
tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công nghiệp chế biến
nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ.

C. ĐẢNG TA ĐÃ NHẬN THỨC VÀ
VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
Trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đảng ta đang
vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, trên thực tế Đảng và Nhà Nước ta đang từng
bước điều chỉnh quan hệ sản xuất cả tầm vĩ mô và vi mô, đồng thời coi trọng việc
đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất.
Hiện nay Đảng ta đang lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế dộc lập, tự chủ. Muốn làm tốt trọng trách
này, thì phải tạo điều kiện cho bản thân nền kinh tế, trong đó thành phần kinh tế
tư nhân là một thành phần kinh tế rất năng động, hiệu quả. Có điều kiện này thì
Đảng mới có thể thêm kiến thức và kĩ năng nghiệp vụ cụ thể để lãnh đạo thành
công mục tiêu tăng trưởng kinh tế đó chính là làm cho lực lượng sản xuất phát
triển.
Trong tiến trình lãnh đạo và quản lí đất nước của Đảng và Nhà Nước ta
trong suốt mấy chục năm qua thực tiễn đã cho thấy những mặt được cũng như
những mặt còn hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng những quy luật kinh
tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước
ta, với đặc điểm của nước ta là nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng
sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lí thấp cùng với
nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác nước ta là nước thuộc địa
nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ
bao vây cấm vận nhiều mặt, đặc biệt là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất
chưa có điều kiện phát triển.
Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều
kiện kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chính trị tư tưởng để
xoá bỏ nhanh chế độ tư hữu chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn
10

dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định tính chất trình độ
xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Song trong thực
tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đã
để lại hậu quả là:
Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ(nông dân, thợ thủ công, buôn
bán nhỏ...) thì tư hữu về tư liệu sản xuất là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức
lao động và tư liệu sản xuất. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng tư liệu sản xuất
dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao
động bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không làm chủ được quá trình sản xuất, phụ
thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dẫn
đến tư liệu sản xuất trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất vả các nghành. Về
pháp lí tư liệu sản xuất cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu
có quyền chi phối, định đoạt tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì
người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý
không phản ánh đúng số lượng và chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng
góp. Do đó chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cùng với ông chủ của nó đã trở
thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, nghành chủ quản ) là đại diện của chủ
sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng
tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai
chịu trách nhiệm, không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ
ơ với kết quả lao động của mình.
Đây là căn nguyên làm nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số
người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực
lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường được gọi là
quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước),lực lượng sản xuất ngoài quốc
doanh ( thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân )
Ông bà ta thường nói : muốn biết bơi phải nhẩy xuống nước. Còn Lênin,
trong tác phẩm “Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục
chính trị”, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính
quyền xô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững
trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc là
chúng ta cần bắt tay vào làm” đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ
sản xuất nói riêng một cách chủ quan duy ý chí. Sở hữu vừa là kết quả vừa là điều
kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, là hình thức xã hội có tác dụng thúc
đẩy hoặc kìm hãm lựclượng sản xuất. Chính vì vậy, mỗi loại hình, hình thức sở
11

hữu chưa thể mất đi khi chúng còn phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, và cũng không thể tuỳ tiện dựng lên, hay thủ tiêu chúng khi lực lượng
sản xuất không đòi hỏi. Do vậy, khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải tính đến sự
biến đổi phức tạp từ quan hệ sản xuất, trong đó trực tiếp là chế độ sở hữu.
Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của
giới nghiên cứu lí luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mac và Ph. Ăngghen đã
phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã
hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.Mâu thuẫn
đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát
triển của xã hội tư bản.Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu
bằng chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một
lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sử đó, các ông
chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu
Kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất –
quan hệ sở hữu khác tuỳ thuộc vào tính chất trình độ của lực lượng sản xuất. Ở
nước ta hiện nay trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều giữa
các ngành, các vùng. Có những vùng, miền mà người dân vẫn dùng cái quốc, con
trâu để lao động nhưng cũng có nơi lao động trong phòng thí nghiệm, trong khu
công nghệ cao.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình thức bóc lột.
Chỉ đến khi trình độ xã hội hoá sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với chế độ sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì khi ấy mới có điều kiện chín muồi thực hiện
cuộc cách mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Chúng ta không thể thủ tiêu
chế độ sở hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào
đã tạo ra được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hoá cao độ với năng suất
lao động rất cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ tư hữu.
Đất nước chúng ta đang thực hiện nhất quán nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, mục đích là phải sản xuất ra thêm nhiều giá trị
thặng dư. Vấn đề bóc lột hay không bóc lột thể hiện trong quan hệ phân phối.
Bình đẳng trong phân phối được thực hiện dưới những hình thức cụ thể như thế
nào là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp
với xu thế của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên, chúng ta tiến
lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa, nên phải trải qua nhiều khâu trung gian (thời kì quá độ).

12

Điểm nổi lên là kinh tế của nước ta còn quá nghèo nàn, lạc hậu...vì vậy
khâu trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó là phát triển lực lượng sản xuất,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho
chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần (nhiều hình thức sở
hữu đan xen nhau) là phù hợp với yêu cầu phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
của nước ta hiện nay.
Đồng thời không ngừng đổi mới chính trị, củng cố tăng cường vai trò lãnh
đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Xây dựng đời
sống văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đẩy mạnh sự nghiệp
giáo dục và đào tạo.Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh”.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta (xây dựng lực lượng sản xuất).
- Đây là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì quá độ.
- Phải đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học.
- Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
- Coi giáo dục đào tạo là nhiệm vụ hàng đầu.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của
đời sống xã hội (củng cố đổi mới kiến trúc thượng tầng):
- Đổi mới hệ thống chính trị.
- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

13