Tải bản đầy đủ
Nguyªn lý vÒ mèi liªn hÖ phæ biÕn

Nguyªn lý vÒ mèi liªn hÖ phæ biÕn

Tải bản đầy đủ

Trong lịch sử triết học, có rất nhiều câu trả lời khác nhau cho những câu
hỏi đó. Đối với vấn đề thứ nhất, có hai quan niệm lớn sau: theo chủ nghĩa duy
vật siêu hình thì cho rằng sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại
trong trạng thái biệt lập tách rời nhau,hết sự vật này đến sự vật khác, giữa các
sự vật không có mối liên hệ hoặc nếu có liên hệ chỉ là liên hệ bên ngoài, mang
tính ngẫu nhiên. Một số ít người theo quan điểm này cho rằng: các sự vật,
hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú
song các hình thức liên hệ khác nhau không có hình thức chuyển hoá lẫn cho
nhau. Đối lập với quan điểm trên thì chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng
các sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập khác nhau nhưng đều có sự
tác động qua lại, chuyển hoá lẫn cho nhau. Ví dụ như: môi trường của một đất
nước không chỉ tác động tới đời sống kinh tế - xã hội ở nước đó mà còn làm
cho môi trường thế giới thay đổi theo, vì môi trường của một đất nước là một
bộ phận của môi trường thế giới. Từ đó các hoạt động của con người, giới tự
nhiên cũng bị ảnh hưởng dù ít hay nhiều .
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm đều cho
rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người.
Các nhà duy vật biện chứng đã có quan điểm hoàn toàn khác với các quan
điểm trên.Họ cho rằng tuy các sự vật, hiện tượng vô cùng phong phú, đa dạng
nhưng chúng thống nhât với nhau ở tính vật chất.Nhờ có tính thống nhất
đó,chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động
qua lại, chuyển hoá lẫn cho nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ
sở đó, triết học duy vật biện chứng đã khẳng định: liên hệ là phạm trù triết
học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại,sự chuyển hoá lẫn nhau giữa
các sự vât, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng
trong thế giới .
1.2. Tính chất của mối liên hệ.
Mối liên hệ giữa bất kì sự vật hiện tượng nào cũng có những đặc điểm
chung đó là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú. Trước
hết, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là tất yếu, khách quan vốn có của
các sự vật, hiện tượng ấy. Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có mối liên hệ
với bên ngoài. Bởi như đã nói, thế giới vật chất là vô hạn, không sinh ra,
không mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác. Con người
không thể quyết định các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ hay không.
Thứ hai, mối liên hệ còn mang tính phổ biến. Vì mối
liên hệ của các sự vật,hiện tượng mang tính khách quan nghĩa là sự vật, hiện
tượng nào cũng có mối liên hệ nên mối liên hệ có tính phổ biến. Một ví dụ
điển hình là: trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay và những vấn đề
như ô nhiễm môi trường sinh thái, bùng nổ dân số, bùng phát các dịch bệnh
như: HIV, cúm gia cầm,…thì đòi hỏi các nước phải có sự hợp tác với nhau.
2

Mối liên hệ dù biểu hiện dưới nhiều hình thức riêng biệt nhưng chúng chỉ là
biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Những hình thức liên hệ
riêng rẽ, cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu. Phép biện chứng
duy vật chỉ nghiên cứu nhửng vấn đề chung nhất, bao quát nhất của thế giới.
Thứ ba, đó là tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: sự vật, hiện
tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên
hệ khác nhau.Vì thế giới vật chất vô hạn, các sự vật, hiện tượng trong đó cũng
muôn hình, muôn vẻ nên mối liên hệ cuả chúng cũng mang tính đa dạng. Do
vậy bên trong một sự vật, hiện tượng cũng có thể có nhiều mối liên hệ. Như
mỗi con người sống trong một gia đình, ngoài mối liên hệ bên trong với các
thành viên trong gia đình thì mỗi thành viên đều có mối liên hệ bên ngoài với
mỗi cá nhân khác, với tập thể trong xã hội. Vì vậy mối liên hệ của chúng ta
rất phong phú, đa dạng. Mối liên hệ có thể chia thành nhiều loại: mối liên hệ
bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ
yếu, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ trực tiếp và
mối liên hệ gián tiếp,…Tuy nhiên sự phân chia các cặp chỉ mang tính chất
tương đối. Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ
theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển
của chính các sự vật. Cụ thể như: nếu xét mối liên hệ giữa các công ty, xí
nghiệp là những chủ thể độc lập kinh doanh trên một đất nước thì chúng có
mối liên hệ bên ngoài, còn nếu xét tổng quan nền kinh tế đất nước, chúng là
những bộ phận đóng góp, xây dựng nền kinh tế đất nước nên mối liên hệ của
chúng lúc này là mối liên hệ bên trong.
Mặc dù việc phân loại chỉ mang tính tương đối nhưng nó cho ta
xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi loại mối liên hệ. Thông qua đó, con người
có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của
mình.

3

4

1.3. Ý nghĩa của nguyên lý
Như ta đã biết, vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển
hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang
tính khách quan, phổ biến nên trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận
thức con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét
phiến diện. Do đó, khi nhận thức bất kì một sự vật, hiện tượng nào, chúng ta
phải nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua giữa lại các bộ phận, các yếu
tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại của chính sự vật đó
với các sự vật khác. Đây chính là quan điểm toàn diện. Có như vậy, sự vật
mới được nhận thức đúng đắn. Để nhận xét một con người, chúng ta không
thể chỉ nhận xét con người đó qua mối quan hệ với chính chúng ta mà phải
thông qua các mối quan hệ khác, cả môi trường của họ nữa. Khi đó ta mới có
được cái nhìn bao quát nhất, khách quan nhất về người đó. Đồng thời quan
điểm toàn diện còn đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt được từng mối liên hệ,
xác định được vị trí, vai trò của chúng trong sự vận động, phát triển và tồn tại
của sự vật. Trên cơ sở đó, trong hoạt động thực tiễn, ta có các phương pháp
tác động phù hợp vào sự vật, đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt,
chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ
thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại.
Từ nội dung của nguyên lý đòi hỏi chúng ta đi nghiên cứu xem xét
sự vật phải có quan điểm. Quan điểm này yêu cầu phải xem xét tất cả các mối
liên hệ vốn có của sự vật nhưng không được đặt các mối liên hệ có vai trò vị
trí ngang nhau. Cần xác định cho được đâu là những mối liên hệ bản chất tất
yếu bên trong và đâu là những liên hệ bên ngoài không bản chất để từ đó có
kết luận chính xác về bản chất của sự vật.
2. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng

kinh tế và bảo vệ môi

trường sinh thái .
2.1. Tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1.1. Đánh giá tổng quan về nền kinh tế Việt Nam qua các thời kì
2.1.1.1. Thời kì kinh tế bao cấp ( 1976 – 1985 ):
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), Đảng Cộng Sản
Việt Nam (ĐCSVN) đã thông qua những mục tiêu cho xây dựng và phát triển
kinh tế cả nước. Đó là: nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi một nước
5

nghèo nàn, lạc hậu, biến Việt Nam thành một nước công – nông nghiệp hiện
đại. Đường lối cải tạo XHCN trước hết là ở các tỉnh phía Nam và đường lối
công nghiệp hoá XHCN trên phạm vi cả nước.
Từ 1976-1981, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của nước ta là 1,43%
/năm. So với năm 1976, tổng sản phẩm xã hội năm 1980 tăng 4,2%. Còn
riêng trong giai đoạn 1981-1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 42,3%, bình quân
tăng 7,3%/năm. Nền kinh tế nước ta đã đạt được một số thành tựu: hàng trăm
công trình xây dựng tương đối lớn trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp,
giao thông vận tải, văn hoá xã hội…đã được xây dựng trên khắp các miền của
đất nước đã góp phần phát triển thêm một bước lực lượng sản xuất. Tài sản cố
định của nền kinh tế quốc dân đã được tăng lên đáng kể, so với năm 1976 thì
năm 1980 là 129,2% và năm 1985 là 205,3%. Đã khắc phục được một phần
lớn hậu quả chiến tranh, nhất là ở các tỉnh phía Nam, thống nhất được cả hai
miền về mọi mặt, xoá bỏ được quan hệ sản xuất bóc lột ở phía Nam…
Mặc dù có không ít những thành tựu nhưng trong 10 năm xây dựng đã
bộc lộ không ít những hạn chế yếu kém, thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
kinh tế tăng trưởng chậm, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần thứ
hai và ba không đạt được, thậm chí tỉ lệ hoàn thành ở mức rất thấp. Cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế quốc dân còn yếu kém, thiếu đồng bộ, cũ
nát, trình độ kỹ thuật nói chung còn lạc hậu, lại chỉ phát huy được công suất ở
mức 50% là phổ biến. Nền kinh tế chủ yếu vẫn còn là sản xuất nhỏ, phân
công lao động xã hội kém phát triển, năng suất lao động xã hội rất thấp. Cơ
cấu kinh tế nước ta thì chậm thay đổi, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm
trọng. Sản xuất phát triển chậm, không tương xứng với sức lao động và vốn
đầu tư bỏ ra. Trong 10 năm này, thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ
bằng 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng.
2.1.1.2. Thời kì hội nhập và mở cửa (1986 đến nay)
a. Những thành tựu đạt được
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986 và đã có nhiều sự thay đổi to lớn. Trước hết là sự thay đổi về tư duy
kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực
hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm
nhanh được tình trạng đói nghèo, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp
hoá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao đi đôi với sự công
bằng tương đối trong xã hội.
Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị
trường đã được hình thành tại Việt Nam như Luật đầu tư nước ngoài, Luật
doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, Luật đất đai, Luật thuế, Luật phá sản,
Luật môi trường, Luật lao động cùng Hiến pháp sửa đổi năm 1992 và hàng
6